LIÊN KHÔI CHƯƠNG
 


 

Cùng Một TÁC GIẢ
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

www.ninh-hoa.com

 

 


QUAN ĐIỂM

Ḥa B́nh Trong Chiến Tranh

Liên Khôi Chương

            

 

 

PHẦN 3:

 

IX. -Hành quân thiên. (Tiến hành thực dụng).

 

Nói về phương pháp hành quân và cách thức đóng quân, hành quân là một chiến thuật di động, đóng quân là nơi chốn cần phải an toàn và thuận lợi cho quân nhân tạm nghĩ, cũng thuận việc thao luyện hằng ngày, nơi đóng quân phải gần khe núi có nguồn nước cỏ cây và đầy đủ ánh nắng.

 

A. -Phương pháp hành quân và đóng quân (bố trí quân). Trong việc bố tri quân cần tiện việc quan sát địch t́nh và an toàn sinh hoạt trong quân ngủ:

1. -Phương pháp bố trí quân đội ở vùng núi, quân đội cần dựa vào khe núi và vùng nước, khi hạ trại cần nơi đất cao hướng về mặt trời để tránh sự ẩm thấp. Nếu địch đă ở đất cao trước, không nên đánh thốc từ dưới lên cao.

2. -Bố trí quân vùng sông hồ. Tôn-Tủ nói: "khi quân đội cần vượt sông, nên đóng quân cách xa ḍng nước, cần tránh không nên ngăn địch ở giữa gịng, chờ chúng tới gần bờ mới tấn công bao vây tiêu diệt, không nên dựa lưng vào sông khi chống cự địch quân. "

3. -Bố trí quân tại vùng đầm lầy, chỉ tạm thời để ngụy trang dụ địch, không nên ở lâu phải nhanh chóng vượt qua. Nếu địch đóng trước, ta cần chọn vùng an toàn có nước sạch cây cỏ gần bên đồi núi và dựa vào rừng cây ngụy trang chuẩn bị phản kích.

4. -Bố trí quân tại vùng đống bằng, tốt nhất là ở chổ đất cao bằng phẳng trong thế đất mặt sau cao hơn và mặt trước thấp hơn.

 

B. -Hướng về ánh sáng, tránh nơi tối tăm. Nguyên tắc tổng quát bố trí quân đội, là nơi thuận tiên cho việc sinh hoạt quân đội, cần có nguồn nước cây cỏ và tránh gây bệnh tật.

1. -Hướng về ánh sáng mặt trời, tránh nơi ẩm thấp, bảo ṭn sức khơe quân đội, thích nghi sinh hoạt, tiện việc dưỡng quân lâu ngày, là nơi chốn cần thiết để có hậu cần đầy đủ bảo đảm thể lực tốt quân nhân, là nguồn căn của sự chiến thắng.

2. -Có 6 loại địa h́nh cần tránh, không được đóng quân:

a. -Thiên giản: Gịng nước giữa 2 khe là "giản", phía trước phía sau đều là núi cao ở giữa có gịng nước qua. (thế đất này ta không thề tiến, cũng không thể lùi, thế đất này chỉ mượn đường ngụy trang vượt qua chướng ngại, không được dừng nghỉ.

b. -Thiên tỉnh: Xung quanh có vách cao ở giữa là vùng trủng.

c. -Thiên-lao: Là nơi có núi cao vay bọc kín mít, vào dễ ra khó.

d. -Thiên la: Là nơi cây cỏ rậm rạp, đao tên không thể xử dụng được. Nhưng cũng là nơi dễ vay bủa địch quân.

e. -Thiên hăm: Địa h́nh trũng thấp, vùng đất bùn lầy, xe ngựa kḥ qua được.

f. -Thiên-khích: nơi khe núi chật hẹp, sâu mấy thước dài mấy trượng, là đường đi chật hẹp nhiều hố lơm.

3. -Đề pḥng phục binh. Tôn-Tử nói: những vùng núi non hiểm trở, vùng trũng lau lạch hiểm trở, nơi có cây cối um tùm, đều là nơi dể bị phục kích, ta cần thám thính kỉ trước khi ngang qua. Như 6 loại địa h́nh ở trên, chỉ là tạm xử dụng để vượt qua mắt địch, nên khi cần vượt qua ta cũng cần nên thám sát chắc chắn an toàn rồi mới quyết định.

C. -Quan sát địch t́nh. Trong qúa tŕnh hành quân, quân đội phải luôn luôn cảnh giác bởi những nguy cơ địch có thể tấn công bất ngờ, bởi vậy ta phải biết quan sát những động tịnh từ bên địch để dự đoán chính xác địch t́nh

 

Phương pháp quan sát t́nh h́nh quân địch:

1. -Địch gần mà yên tĩnh, v́ chúng được địa h́nh nguy hiểm. Chờ ta tấn công.

2. -Địch ở xa đến khiêu chiến là có ư dụ ta để tấn công.

3. -Địch đóng quân nơi b́nh địa, không chọn chổ hiểm, v́ địa thế lợi cho địch.

4. -Cây cối trong rừng rung động, rất có thể địch đang đến gần tập kích ta.

5. -Nơi cỏ rậm có nhiều chướng ngại, địch nghi binh che mắt quân ta.

6. -Chim chóc bay loạn xạ, bên dưới có thể có quân mai phục.

7. -Muôn thú tán loạn bỏ chạy, là quân địch đang đến tập kích ta.

8. -Bụi bay cao mà nhọn, là chiến xa chiến mă địch chạy tới gần.

9. -Bụi bay thấp mà lan rộng, là bộ binh địch đang tiến gần.

10. -Bụi bay tản mát tạo vệt dài, là địch kéo lê cành cây là tạo cảnh lừa ta.

11. -Bụi ít mà lúc có lúc không, địch đang dựng trại đóng quân.

12. -Sứ giả từ tốn, nhưng vẩn tăng quân bị, địch sắp tấn công.

13. -Sứ giả quyết tiến quân gần, dấu hiệu địch âm thầm rút quân.

14. -Chiến xa nhẹ đi trước dàn ở 2 bên, địch chuẩn bị tác chiến.

15. -Địch chưa ước hẹn mà đột ngột giản ḥa, là địch có âm mưu.

16. -Địch gấp rút tiến quân bày binh bố trận, là có ư muốn cùng ta quyết chiến.

17. -Địch nữa tiến nữa lùi, là để dụ ta tiến quân.

18. -Quân địch đứng chống binh khí mà dựa, là địch đang thiếu lương thực.

19. -Quân địch t́m nguồn nước gần ta, đó là địch quân đang thiếu nước.

20. -Quân địch thấy lợi mà không tới đoạt, là chúng đang mệt nhọc qúa độ.

21. -Chim chóc đậu đầy bên quân trại địch, tức là trại địch đang bỏ hoang.

22. -Doanh trại địch có tiếng thét giữa đêm, là tâm lư địch quân hoang man.

23. -Doanh trại địch rối loạn không trật tự, là tướng địch không đủ oai nghi.

24. -Cờ xí không chỉnh tề. tức đội h́nh địch đă rối loạn.

25. -Tướng địch ưa nóng giận, th́ toàn quân bị mệt mỏi.

26. -Quân địch dùng lương thực nuôi ngựa, giết súc vật ăn thịt, dẹp dụng cụ nấu ăn, quân lính không trở về trại, là địch quyết đột phá ṿng vây.

27. -Quân địch ŕ rào to nhỏ, là tướng địch đă mất ḷng quân.

28, -Liên tục khao thưởng binh sĩ, lả quân địch đă không c̣n giải pháp.

29. -Liên tục trừng phạt thuộc hạ, là địch lâm vào t́nh thế quẩn bách. 30. -Tướng địch trước hung hăng với lính nay lại sợ sệt, đó là tướng dốt.

31. -Địch phái sứ đến nói năng mềm mỏng, là có ư ngưng chiến.

32. -Địch ra vẻ giận dữ bày trận đối kháng ta, nhưng lâu không giao chiến mà cũng không thu quân, ta cần thận trọng quan sát mưu đồ của địch.

 

D. -Dùng văn dung ḥa, dùng vũ tề chỉnh.

Phương-pháp1 "quản giáo quân đội". Trong chỉ huy cần binh sĩ phải phục tùng, thưởng phạt phải nghiêm minh, cần dùng lời nhân-ái có lư lẽ khuyến phục chúng, cũng cần có kỹ luật quân đội để chỉnh tề quân ngũ, cần quản giáo cho mọi người quán triệt kỹ luật tác chiến, như thế tướng lănh và binh sĩ mới ḥa đồng hợp nhất, mới tạo sức mạnh quân đội.

1. -Dùng văn dung ḥa, dùng vũ chỉnh tề. Đây là tư-tưởng mà Tôn-Tử dùng đến, lấy đạo-đức, nhơn-nghĩa truyền dạy trong quân đội để mọi người hiểu rơ trách nhiệm của việc tác chiến, đồng thời dùng "vũ" tức kỷ cương quân pháp để thống nhất mọi hành động, như thế mới hợp nhất được toàn lực quân nhân thành một khối, quân đội mới có sức mạnh "bất khả chiến bại".

2. -B́nh thường phải quán triệt mệnh lệnh để quản giáo binh sĩ. Binh sĩ khi được tuyển dụng, đă được thuần thục huấn luyện kỹ thuật tác chiến, nhưng không v́ thế mà bỏ lơ trong lúc binh sĩ nhàn hạ, Tôn-Tử nói: "B́nh thường mọi người chúng ta phải hiểu biết mệnh lệnh để quản giáo binh-sĩ, như thế binh sĩ sẽ phục tùng, nếu b́nh thường đă không hiểu biết mệnh lệnh trong việc quản giáo binh sĩ, binh sĩ sẽ không phục tùng". Điều này cho ta thấy tầm quan trọng của việc giáo hóa, và huấn luyện ngay từ khởi đầu và phải liên tục thao tác thường xuyên. (quán triệt tức là "hiểu biết", hiểu biết ở đây có nghĩa là "mọi người cùng hiểu biết", như thế việc thao dượt trong những ngày không tác chiến sẽ trở thành thói quen từ từ thấm nhuần đến mọi ngưới và không ai cảm thấy cấp trên hà khắc binh lính, v́ mọi người đều quán triệt quản giáo kỹ luật quân đội phải như vậy, quân đội mới trường tồn).

 

X. -Địa h́nh thiên.

A. -Nguyên tắc tác chiến trong 6 dạng điều kiện địa h́nh khác nhau. Tôn-Tử nói: "Địa h́nh có quan hệ mật thiết trong tác chiến, là điều kiện hổ trợ cho việc dụng binh, phải biết vận dụng đúng đắn, sức chiến đấu mới tăng thêm thế lực, sĩ khí mới kiên cường, hổ trợ mạnh cho việc chiến thắng, nếu không biết vận dụng đứng đắn, th́ chính nó sẽ là cái bẫy đưa cả đoàn quân đến chổ bại vong". Ông phân tích: "Địa h́nh có 6 dạng địa h́nh gồm "Thông"(thông suốt). "Quải"(dễ tiến khó lùi). "Chi"(khó tấn công). "Ải"(khe núi hẹp). "Hiểm"(hiểm trở) và "Viển" (xa xôi). Địa h́nh rất quan trọng trong việc dùng binh, nếu xử dụng đúng như hổ thêm cánh, nếu xử dụng sai, nó sẽ là cái bẩy gài nhốt ta đưa ta đến chổ thất bại.

1. -"Thông" là địa h́nh ta hoặc địch đều có thể đến, cần chiếm cứ nơi cao ráo thoáng đăng trước địch, bảo đảm đường chuyển lượng có lợi cho việc tác chiến.

2. -"Quải" là địa h́nh có thể tiến vào nhưng khó lui binh, nếu được pḥng bị th́ đột kích khó khăn, nếu không pḥng bị th́ đối phương dễ đột kích bất ngờ, nếu muốn rút lui th́ gặp phải nhiều t́nh huống bất lợị.

3. -"Chi" là nơi hiểm trở dễ phục kích nhưng không tiện việc tấn công, trong thế đất này ta nên giả vờ rút lui để dụ địch tách rời pḥng tuyến họ rồi trở lại phản kích.

4. -"Ải" là nơi đất hẹp và hiểm yếu giữa 2 vách núi, ta nên chiếm trước và cho quân ngăn chặn đường vào. Nếu địch chiếm trước, ta dùng nhiều quân chặn đường vào rồi quan sát, ta không nên tấn công, nếu địch mỏng yếu, ta có thể tiến đánh.

5. -"Hiểm" là nơi hiểm trở hành động khó khăn, trong thế địa h́nh này ta cần chiếm nơi cao ráo khoáng đăng chờ địch, nếu địch chiếm trước ta nên chủ động rút quân, tuyệt đối không nên đánh.

6. -"Viễn" là nơi cách xa chiến lũy của ta và địch, nếu thực lực 2 bên ngang nhau ta không nên khiêu chiến, v́ khó được thắng lợi, ta không nên miển cưỡng chiến đấu, v́ rất hao tổn sĩ khí.

Qua sự phân tích trên, Tôn-Tử cân nhắc: "Phán đoán địch t́nh giành chiến thắng, tính toán địa h́nh hung hiểm thủ sinh tồn, đó là điều tướng chi huy cần ghi nhớ để thủ phần thắng lợi.

B. -Phương pháp 2 quản giáo quân đội. (gồm 6 sai lầm). Trong quân đội cần nhất là sự tổ chức, có quy hoạch th́ binh lính có ḷng tin, ng̣ai ra cũng cần nhận rơ nhiều t́nh huống sai lầm có thể đưa đến chổ thất bại. Tôn-Tử tổng kết có 6 nguyên do: Tẩu, Tŕ. Hăm, Băng, Loạn, Bắc. Là những bài học kinh nghiệm cần quản giáo quân đội, là quyết sách tác chiến để tạo thành kinh nghiệm bản thân cần được sinh tồn.

1. -"Tẩu": Thua chạy, là khuyết điểm lớn nhất do tướng chỉ huy, không biết cân sức lực lượng giữa 2 bên, nếu địch gấp ta 10 lần, đương nhiên chuốc lấy thất bại, tổn thất lớn nhất vẩn là quân nhân, cho nên khi chạy người lính phải biết cách chạy.

2. -"Tŕ": Lỏng lẻo. Quân đội cần có sự chỉ huy nghiêm minh, phải có tướng tài và binh sĩ dũng mảnh, nếu tướng khiếp nhược, binh sĩ sẽ trở nên ngang ngược, lộng hành, tác chiến rời rạc, nếu tướng nhu nhược bất tài, quan hệ nội bộ lỏng lẻo dẫn đến tác chiến rời rạc không hợp nhất, phải chuốc lấy thất bại.

3. -"Hăm": Ḱm hăm. Tướng giỏi binh nhược th́ quân đội không có sức chiến đấu, muốn tránh ta cần năng thao luyện tinh thục tác chiến trước khi tác chiến, binh sĩ phải quán triệt kỷ luật trong những ngày nghỉ không tác chiến cũng phải năng tập dượt.

4. -"Băng": Tan ră. Tướng cấp dưới oán hận chủ tướng, tự chuyên không phục lệnh chủ soái, khi gặp địch th́ giận dữ tự tiện xuất chiến, chủ tướng lại không hiểu rỏ khả năng của thuộc cấp để khống chế họ, quân đội như thế th́ dễ tan ră và thất bại.

5. -"Loạn": Rối loạn. Chủ tướng nhu nhược thiếu nghiêm minh, quản giáo huấn luyện không có phương pháp, quân lính như rắn mất đầu, bày trận rối loạn không trật tự, quân đội sẽ chuôc lấy thất bại.

6. -"Bắc": Thất bại. Tướng lănh không biết phán đoán địch t́nh cũng không nhận rơ được ta mà hồ đồ khai chiến, lấy ít đánh nhiều, đem yếu đánh mạnh, không biết chủ lực của ta mà cứ dùng quân bừa băi, chắc chắn chuốc lấy thất bại. Đây là sai lầm lớn của lănh đạo chỉ huy, v́ chưa biết châm ngôn "Biết địch biết ta mới có thể trăm trận trăm thắng. ".

C. -Phương pháp 3 quản giáo quân đội. (Yêu mà không nuông chiều). Phải thương yêu binh sỉ như chính thương yêu chăm sóc người thân thuộc, th́ binh sĩ sẽ cùng ta sống chết. Thương yêu mà không quản giáo, khi họ phạm pháp mà không trừng trị mà vẩn xử dụng tác chiến, chính thành phần này làm bại cả đoàn quân. Như phần nhận xét 6 sai lầm ở trên, có sự sai lầm của tướng lănh trong thái độ cư xử với binh lính. Tôn-Từ nhận định: "Tướng phải thương lính như con, không ngược đăi lính, c̣n lính phải trọng tướng trong việc chỉ đạo, thưởng phạt công minh, tuân hành luật phạt. ". Qua chương này ta thấy "Muốn có một quân đội chiến đấu kiên cường, phải áp dụng quân luật một cách nghiêm khắc".

 

XI. -Cửu địa thiên.

A. -Cửu địa: Có 9 dạng địa h́nh và quy luật tác chiến tại mổi dạng địa h́nh. Trong "Binh pháp Tôn Tử", địa h́nh là rất quan trọng, nên ông phân tích rất kỷ, chính ở chương này làm nổi lên cái tài binh pháp của Ông ta. Tôn-Tử nói : "Người có tài dụng binh, phải có khả năng khiến tiền quân và hậu quân của địch không thể tiếp ứng được, chặn đứng liên lạc giữa cấp trên và cấp dưới, tạo cho binh địch không tập trung, đội ngủ không chỉnh tề. Để đạt đến điều này, chủ soái phải biết đoạt chiếm vị trí mà kẻ địch xem là quan trọng nhất, th́ địch tất phải bị ta bày bố trận thế". Người giỏi dụng binh, phải biết đóng quân trên địa thế như loài "rắn suất nhiên". Rắn suất nhiên là một loài rắn ở núi Hằng-Sơn, đánh vào đầu nó th́ đuôi quật lại, đánh vào đuôi nó th́ đầu mổ táp, đánh vào giữa thân th́ cả đầu lẩn đuôi cùng vay bọc tấn công. Người biết dụng binh khi cho quân tràn sang đất địch, không v́ thiện chiến mà lơ là quân kỷ mà ham mê chém giết, phải nắm lấy thời cơ gặt hái lương thực trên cánh đồng ph́ nhiêu trong mùa lúa chín, cũng cố sĩ khí, tăng cường sức lực, phải có nghỉ ngơi, không nên mệt nhọc thái qúa. Nếu sa vào địa thế nguy hiểm, đừng có sợ sệt, vững chí một ḷng đột phá ṿng vây. Khi đă qyết định tấn công qua đất địch, cần đóng cửa ải, huy thẻ thông hành không để sứ giả qua lại, cần bàn tính kỷ lưởng từng chi tiết để chiếm lấy địa bàn chủ yếu của địch. (trong sách này ghi, bàn tính kỷ lưỡng tại miếu đường, một câu vô nghĩa trong binh pháp, là một sĩ nhục Tôn-Tử. ).

1. -"Cửu địa" và "lục địa". Căn cứ vào phương pháp dùng binh, địa h́nh mà phân chia thành 9 loại. vậy "Cửu địa" là thế đất trên trận chiến ở đất địch. Gồm có Tán địa (thế đất ly tán). Khinh-địa (thế đất vào nông). Tranh-địa (thế đất tranh giành). Giao-địa (thế đất giao nhau). Cù địa (thế đất thông suốt). Trọng địa (thế đất vào sâu), Bĩ-địa (thế đất khó đi). Vi-địa (thế đất vây bọc). và Tử-địa (thế đất chết).

C̣n 6 dạng địa h́nh "Lục địa" trong chương "địa h́nh" có phần khác biệt. Ta thấy trong "Địa h́nh" chia thành 6 thể "Thông. Quải. Chi. Ải. Hiểm và Viển" dựa trên tiêu chuẩn mức độ ảnh hưởng về địa lư tự nhiên thuần túy, như địa thế rộng hẹp, hiểm trở, bằng phẳng, xa gần đối với việc bày binh bố trận, là thế đất chiến lược dự sẳn cho cuộc chiến. C̣n "cửu-địa" dựa trên tiêu chuẩn khác biệt về toàn bộ trạng thái của quân đội, như tác chiến trên đất địch các dạng địa h́nh khác nhau, trạng thái tâm lư binhsĩ khác nhau, cho nên cần hiểu rơ các nguyên-tắc tác-chiến và phương-pháp bố trí khác nhau trên tất cả phương diện quân-sự, vậy "Cửu địa " thiên hẳn về chiến thuật.

2. -Tán-địa, khinh-địa, tranh-địa, giao-địa và trọng-địa.

a. -Tán-địa: Trận địa nằm trên biên giới quốc gia. Tôn-Tử nói: "Cần phải hợp nhất ư chí toàn quân, v́ tác chiến trên đất nước ḿnh, ḷng quân dễ phân tán, tâm lư muốn bỏ chạy về nhà".

b. -Khinh-địa: Trận chiến nằm sâu trong đất địch. Tôn-Tử nói: "Quân đội không nên ở lâu, nếu bắt buộc đóng quân ở đó, th́ trận địa và doanh trại phải liền sát nhau.

c. -Tranh-địa: Là trận địa bên nào chiếm được đều có lợi thế. Tôn-Tử nói: "không nên đường đột tấn công, nếu cần tấn công, ta phải hối thúc viện binh phía sau nhanh chóng đến kịp.

d. -Giao-địa: Là nơi 2 bên đều có thể đến, đây là đầu mối giao thông quan trọng, Tôn-Tử nói: "Tại giao địa, đội ngũ hành quân không nên đứt đoạn, phải cẩn thận trong việc pḥng thủ.

e. -Trọng-địa: Trận địa nằm sâu trong lănh thổ địch, dựa vào nhiều thành ấp của địch. Tôn-Tử nói: "Trong trọng địa ta cần tăng cường cướp đoạt lương thực để bổ sung lương thảo cho quân đội ḿnh".

B. -Phương pháp quản giáo quân-đội. (thức 4. Toàn quân dũng mănh như một). Muốn có một quân đội hùng mạnh là phải biết phối hợp linh hoạt trong tác chiến như "rắn suất nhiên". ngoài việc soái tướng biếi chọn địa thế trận chiến, c̣n binh sĩ cũng phải được huấn luyện, Tôn-Tử phân tích vấn đề nhắm vào 2 điểm chính.

1. -Lợi dụng t́nh thế. Quân ta dù mạnh, chưa phải là yếu tố để ta thắng trận, như ta thấy trong cơn nguy kịch nhất th́ mọi người đều hợp sức chống chọi để dành sự sống, cho nên Tôn-Tử nói: "Muốn tạo thêm thế mạnh tác chiến, muôn người chung một ư chí, tốt nhất là đặt họ trong hoàn cảnh cực kỳ nguy hiểm, họ sẽ quyết chí chiến đấu để sinh tồn"

2. -Bưng bít tai mắt. Nghĩa là làm cho binh sĩ không biết ư định của chủ soái, cố ư hành quân quanh co, như thuật "Cửu biến" thường dùng, làm như vô t́nh rơi vào cái bẩy của địch, như thế binh sĩ mới quyết tử để chiến thắng.

C. -Tử địa phải quyết chiến. Hách-Liên-Bột-Bột. (381-425) là người hùng trong thời Đông-Tấn thập lục quốc, đă lập lên nhà Hạ (407), xưng là Thiên-Vương lấy hiệu Long-Thăng, năm 413 dẫn 2 vạn tinh nhuệ binh tấn công Nam-Lương, cướp hơn chục vạn trâu ḅ dê ngựa và vô số của cải, vua Nam-Lương cử binh gấp bội đến đánh, Hách-liên-Bột-Bột định rút quân bỏ chạy v́ lực lượng ít ỏi, lại tiếc nhóm trâu ḅ cướp được, sau khi quan sát địa h́nh, ông quyết định cho phá vở băng trên mặt sông, đem xe chận lại những chổ có thể chạy vượt qua sông, trong ư là để cho binh sĩ thấy qua sông cũng chết bởi băng trên mặt sông sẽ vỡ rồi cũng chết, nên cần phải tử chiến mới sinh tồn, ông tính t́nh tuy tàn bạo nhưng binh kỷ rất nghiêm minh, nên toàn quân quyết ḷng đánh giặc, nên đánh vở tan quân Nam-Lương đuổi xa hơn 80 dặm. Quân Hạ toàn thắng. Đây là "đặt quân vào tử địa t́m đường sống. ".

D. -Hạng-Vũ quyết chiến Tần. Năm 208 quân Tần tấn công kinh đô Cự-Lộc của nước Triệu, vua Triệu cầu viên Sở, Tề, Đại, Yên đến gíup, quân Đại, Tề, Yên đến nhưng không dám giao tranh với quân Tần, quân Sở do Hạng-Vũ làm chủ soái, sau khi vượt qua sông Hoàng-Hà thấy quân Tần oai nghi hùng dũng, c̣n quân Sở như vô trật tự, nghỉ bề khó thắng, ông bèn ra lệnh"Đập nồi, d́m thuyền" ư cho ba quân tướng sĩ chỉ có tử chiến mới có đường sống, nên binh sĩ liều chết chiến đấu đánh lui tướng Tần Chương-Hàm và tiến quân giăi vay Cự-Lộc bắt sống tướng Tần Vương-Ly. Qua 2 điển tích vừa kể trên ta thấy đều là "tạo thế tử địa để quân đội tử chiến", nhưng bên trong có phần khác biệt. Trường hợp Hách-liên-Bột-Bột, ông phá băng trên sông để lính thấy không thể qua sông được, nên những chổ có băng dầy ông lấy xe ngăn chận lại, việc làm của ông là thực tế, không phải bức lính liều chết, mà cần phải liều chết để sinh tồn. Trường hợp Hạng-Vũ có tính cách bắt buộc, nếu các anh không liều chết mà đánh các anh sẽ chết. Cho nên ta thấy sau này tướng sĩ phải rời xa Hạng-Vũ để Lưu-Bang chiến thắng lập lên nhà Tây-Hán, c̣n Hách-liên-Bột-Bột bịnh chết năm 425. Tổng luận trong chương này ta cần để ư, "Cần thắng trận để giữ thế mạnh sau này hay cần thắng để mà thắng không biết hậu hoạn mai sau. "

 

XII. -Hỏa công thiên.

A. -Năm cách dùng hỏa công. Nghiên cứu về loại h́nh, phương pháp và điều kiện để tiến hành hỏa công. Tôn-Tử là người đầu tiên đưa chiến thuật hỏa công vào binh thư, ông dựa vào hỏa như một vũ khí có thể làm loạn cả một đoàn quân và cũng có thể tiêu hủy cả một đoàn quân, nên ông quy hoạch hỏa công nằm trong 3 nguyên tắc để nghiên cứu.

1. -Đối tượng của hỏa công. Tôn-Tử đưa ra 5 đối tượng.

      1). -"Hỏa nhân", đốt cháy binh lính đối phương (thông thường dân cũng bị họa lây).

     2). -"Hỏa tích", đốt cháy lương thảo quân nhu địch.

     3). -"Hỏa truy", đốt cháy trang thiết bị địch, như xe chở vật tư quân dụng, vũ khí trang bị, quân nhu, quân thảo v. v. .

     4). -"Hỏa khố", đốt cháy kho tàng của địch như kho vũ khí, lương thảo thông thường.

     5). -"hỏa đội", đốt cháy đội ngủ tiết bị hỏa công của địch.

2. -Điều kiện tiến hành hỏa công. Tôn-Tử phân tích gồm có 2 nhóm chính: a. -Điều kiện vật chất như các dụng cụ vật tư pḥng hỏa, kích hỏa. b. -Điều kiện về thời gian như thời tiết và thời điểm phóng hỏa. Thực hiện hỏa công cần phải có điều kiện nhất định và phải chuẩn bị sẳn sàng, về thời tiết cần phải khí hậu khô trong những ngày mặt trăng đi qua 4 sao Cơ, Bích, Dực, Chẩn bởi đó là những ngày có gió thổi lên, phóng hỏa trong điều kiện đó sẽ tăng cường hiệu qủa hỏa công.

3. -Vận dụng chiến thuật hỏa công. Cần phối hợp chặc chẽ với các binh chủng khác. Tôn-Tử nhấn mạnh: "Khi dùng hỏa công cần phải căn cứ vào 5 t́nh huấn khác nhau để áp dụng đối sách thích hợp, đó chính là chiến thuật hỏa công".

a. -Phóng hỏa bên trong trại địch, cần phải có quân tiếp ứng bên ngoài, để hợp nhất trong đánh ng̣ai sẳn sàng bố trí lực lượng bao vây và tiếp ứng khi cần thiết.

b. -Nếu lửa đă nổi mà địch vẩn yên, không nên tấn công ngay, cần quan sát t́nh h́nh, quân tiếp ứng bên ng̣ai không nên vội vă xông vào.

c. -Đợi khi lửa cháy mạnh, nếu tấn công được th́ đánh, ngược lại th́ nên rút lui.

d. -Nếu có thể phóng hỏa ở bên ng̣ai, th́ không cần chần chờ nội ứng, chỉ cần đợi đúng thời cơ là phóng hỏa.

e. -Nên phóng hỏa từ nơi đầu ngọn gió, không nên đánh nơi dưới luồng gió.

 

B. -Tư-tưởng thận trọng trong chiến tranh của Tôn-Tử. Trong chương "Hỏa công thiên". Ngoài việc dùng hỏa tấn công địch, đối với quân nhà Tôn-Tử cân nhắc "Phải thận trọng với chiến tranh, vua sáng suốt cần thận trọng, tướng hiền cần cảnh giác", thận trọng cảnh giác ở đây nhằm ư nhắc nhở các vịlănh đạo không nên để địch khiêu kích mà tức giận, u mụi trong viêc chỉ huy và lănh đạo mà gây ra chiến tranh, qua đó ta thấy được mức độ coi trọng chiến tranh của Tôn-Tử: "Chiến tranh chỉ mong giữ ḥa b́nh", bởi thế trong cuộc chiến ông lúc nào cũng đặt "sự sinh tồn" lên trên hết.

 

1. -Nhà vua không nên v́ giận mà xuất binh. Tướng lănh không nên v́ oán hờn mà gây chiến. V́ chiến tranh tương quan đến sự tồn vong của đất nước, tương quan đến sự sống c̣n của quân-đội, cho nên nhà vua và tướng lănh không thể v́ giận mà quyết định sai lầm trong việc lănh đạo chỉ huy, v́ khi nổi giận con người thường hay mất cả lư trí, thiếu sự phán xét tinh tế.

2. -Tư-tưởng thận trọng chiến tranh của Tôn-Tử. "Có lợi cho ḿnh th́ thi hành, không có lợi th́ dừng lại. "Tôn-Tử đề ra "nguyên-tắc giữ yên đất nước, bảo toàn quân đội", đó là "Có lợi cho ḿnh th́ hành động, không có lợi th́ dừng lại, chưa nguy ngập chưa cần chiến tranh". Tư-tưởng thận trọng của Tôn-Tử là: "Hăy v́ lợi ích của quốc-gia và tồn vong của đất nước, sự an-nguy của dân-tộc và quân đội để lên hàng đầu, rối mới quyết định chiến tranh". Đây là tư-tưởng ḥa-b́nh nhằm xây dựng một quốc gia thịnh vượng thái b́nh, là tư tưởng đạo đức cho các bậc quân chủ và tướng lănh đời sau ghi nhớ. Bởi thế tư tưởng này đă đánh bại quan niệm "Chiến tranh hủy diệt" của các chiến lược gia Âu-Mỹ.

 

XIII. -Dung gián thiên.

 

A. -Tầm quan trọng của công tác gián điệp. Muốn biết trước địch t́nh phải nhờ vào người hiểu rơ t́nh h́nh của địch. Có vua sáng suốt, có tướng tài giỏi dĩ nhiên xuất binh là chiến thắng, nhưng không thể chỉ dựa vào đó mà khởi động cuộc chiến, v́ chiến tranh cũng sẽ liên lụy đến sự sống của dân ḿnh, cho nên chiến tranh phải sớm giải quyết càng sớm càng tốt, muốn thế ta cần phải hiểu rơ địch t́nh để có thể sớm chấm dứt chiến tranh, nên công tác gián điệp, nằm vùng cần thực hiện ngay trong ḷng địch, từ dân gian đến đầu nảo chi huy của địch.

1. -Muốn biết trước địch t́nh, "Phải dùng gián điệp". Tôn-Tử nói: "Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng", ông đă nói rơ tầm quan trọng công tác gián điệp, không những chỉ chuyên về địch quân, mà c̣n phải hiểu rỏ đời sống dân t́nh của địch, phải biết nơi nào cần cho tiếp liệu, nơi nào thích hợp đóng quân lâu dài, trong chiến tranh cũng cần ổn định t́nh h́nh đời sống nhân dân bên địch, mọi chi tiết phải rơ ràng, như thế mới bảo đảm sự tiến quân  ngàn dậm của đoàn quân viễn chinh.

2. -Ba không trong việc t́m kiếm địch t́nh. Muốn hiểu biết địch t́nh, ta cần dựa vào sinh hoạt thường ngày của đối phương về mọi phương diện, như sinh hoạt tướng sĩ, sinh hoạt dân t́nh, thói quen trong cuộc sống, đều cần thu thập rơ ràng và chính xác, cần để ư nhất là không dựa trên 3 nguyên tắc sau đây:

a. -Không thể cầu ở qũy thần.

b. -Không thể suy đoán từ những việc tương tự đă qua.

c. -Không dựa theo sự vận hành mặt trời trăng sao hay bói toán.

Mọi việc thông tin phải chính xác và trung thực chỉ nhờ vào những người biết rơ t́nh h́nh bên địch.

 

B. -Mạng lưới gián điệp được cấu tạo thành 5 loại gián điệp. Tôn-Tử phân loại công tác gián điệp thành 5 h́nh thức: "Hương-gián, "Nội-gián". "Phản-gián". "Tử-gián". "Sinh-gián".

 

1. Năm loại gián điệp.

a. -"Hương-gián": Dùng người bản xứ làm gián điệp như bọn tham quan ô lại, kẻ tham tiền tích nhận hối lộ, để biết t́nh h́nh trên đất địch

b. -"Nội-gián": Dùng quan lại thân cận người chỉ huy bên địch làm gián điệp, để thu thập tin tức t́nh báo cơ mật, đồng thời đặt kẻ nằm vùng chờ thời cơ thuận tiện hành động gây loạn khi có biến động.

c. -"Phản-gián": Lợi dụng gián điệp của địch để làm lợi cho ḿnh, tạo sự nghi ngở cho kẻ lấy tin để đưa tin thất thiệt trong nội t́nh ḿnh, Như Lưu-Bang bày tiệc cao sang định đăi sứ giả Hạng-Vũ đến, khi sứ giả đến, Lưu-Bang bèn nói: "Tưởng là sứ giả Phạm-Tăng, thất lễ thất lễ", nên yến tiệc linh đ́nh thay bằng bửa cơm đơn sơ, sứ giả về báo cho Hạng-Vũ, chuyện này ly gián Hạng-Vũ và Phạm-Tăng.

d. -"Tử-gián": Khi xưa thành phần này thường nằm trong hàng thân tín quan lại hay trong quân đội, khi thất bại thường bị đối phương giết chết, nhằm tung tin giả và thu thập tài liệu để gián điệp ta, chỉ huy ta hiểu thêm t́nh h́nh địch.

a. -Cố ư đi lừa địch. Khi địch biết được th́ bị giết.

b. -Vô t́nh bị người khác lợi dụng, địch thấy rơ ta lừa họ, cũng bị giết. Như Lưu-Bang phái Lịch-Sinh thuyết phục Tề-Vương, Tề chịu hàng Hán, nên không pḥng Hán, Hàn-Tín ganh Lịch Sinh, bèn nhân lúc Tề không pḥng bị, Hàn-Tín công Tề chiếm thành, Tề-Vương nổi giận đem nấu chín Lịch-Sinh.

e. -"Sinh-gián": Là người làm xong công việc t́nh báo trở vế, những tin này mới chính xác hơn, người trở về sẽ là người dẫn đường trong việc tiến quân đánh địch.

2. -Mạng lưới gián điệp: Sự kết hợp của 5 mạng lưới gián điệp được xử dụng cùng lúc trong hàng ngũ quan lại, quân đội địch, đồng thời tung tin thất thiệt về bên ta, như thế ta có thể theo dơi nhất cử nhất động địch t́nh và làm cho địch ngộ nhận về ta, 5 nguyên tắc tiến hành cùng lúc, th́ địch khó t́m được đầu mối của cuộc chiến gián điệp, như vậy ta có được tai mắt để hướng dẫn hành động cho việc tiến quân, bảo đảm điều kiện chiến thắng.

Bài viết trên đây được trích biên ngắn gọn từ quyển

"Binh-pháp Tôn-Tử" dưới cách nh́n hiện đại".

Không thấy tên tác giả hoặc dịch giả.

của nhà xuất-bản Hà-Nội.

 

 

 

HẾT

 

 

 

 

LIÊN KHÔI CHƯƠNG

(LKC)

Ngày 28/9/2014

 

Trở về Trang Tác giả

 

 

 

 


 


Trang BIÊN KHẢO LINH TINH