LIÊN KHÔI CHƯƠNG
 


 

Cùng Một TÁC GIẢ
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

www.ninh-hoa.com

 

 


QUAN ĐIỂM

Ḥa B́nh Trong Chiến Tranh

Liên Khôi Chương

            

 

 

PHẦN 2:

 

IV. -H́nh thiên. (Dạng công ty, nơi hoạt động).

 

A. -Thắng lợi có thể dự đoán được, nhưng không thể đ̣i hỏi được, Tôn-Tử nói:"Người giỏi cầm quân đánh trận, phải biết cách khiến địch không thắng được ḿnh, rồi sau đó chờ thời cơ đánh thắng địch, khiến địch không thắng được ḿnh được quyết định chính ḿnh, c̣n việc thắng địch là tùy bên địch". Muốn địch không thắng được ḿnh th́ cần pḥng thủ. Muốn đánh thắng địch th́ cần tấn công. Pḥng thủ khi địch mạnh hơn và tấn công khi địch yếu hơn. Người giỏi chỉ huy cần chỉnh đốn chính-tri (đạo), giữ ǵn pháp chế mới quyết định thực sự thắng bại. Có 5 nguyên tắc đo lường: 1. "độ"(diện tích đất đai, phạm vi hoạt động) 2. -"lượng"(nguồn vật tư của cải, tài lực, vật dụng), 3. -"số"(số lượng binh lính, nhân lực), 4. -"xứng"(thực lực quân đội, nhân lực tương xứng hoặc cao hơn), 5. -"thắng"(xu thế thắng bại, phải nắm chắc phần thắng), người chỉ huy nắm được thực lực quân sự này th́ dễ dàng quyết định cục diện thắng bại của cuộc chiến. Đây chính là h́nh dạng đo lường một quân đội tác chiến "mạnh hay yếu".

 

A. -Đặt ḿnh vào thế bất bại để giành chiến thắng.

1. -Trước hết khiến địch không thắng được ḿnh, sau đó chờ thời cơ đánh thắng địch. Nói rơ hơn là tự ḿnh bảo vệ được ḿnh, phải giữ vững tinh thần, binh sĩ vững tin chủ tướng, khiến địch giao động tinh thần không thể thắng được ta, nhờ ở phương cách tác chiến hăng say đầy cương quyết của binh sĩ.

2. -Đặt ḿnh vào thế bất bại để dành thắng lợi. "Sự chiến thắng có thể dự đoán trước, nhưng không thể đ̣i hỏi được", v́ tác chiến cần ở tinh thần chiến sĩ, chủ soái phải biết so sánh toàn diện thực lực và cách bố tri của 2 bên (nghiên cứu 5 vấn đề như :Độ-Lượng-Số-Xứng Thắng), rồi quyết định khả năng thắng lợi của ḿnh, mới quyết định tác chiến.

 

B. -Nguyên tắc về tấn công pḥng thủ.

1. -Người giỏi pḥng thủ ẩn ḿnh như 9 tầng đất sâu. Khi nhận được thế lực ḿnh không thể thắng địch, th́ ta cần chọn ở thế pḥng thủ, trong cách pḥng thủ phải được chỉ rơ tận tường cho binh sĩ phương cách bảo vệ đội ngũ trong lúc chiến đấu, am tường địa thế để áp dụng ẩn núp che dấu nhằm đánh lừa địch.

2. -Người giỏi tấn công, linh động như từ 9 tầng trời giáng xuống. Khi nhận thấy thế lực ta đang mạnh, nên chọn cách tấn công, trước tiên phải áp đảo tinh thần địch, thanh toán từng phần để bảo toàn tiến quân, cần để ư hiệu lệnh chỉ huy của thượng cấp, không được phép hành động theo cảm xúc chủ quan, hay hăng say qúa mức, như thế đội quân sẽ tiến lên như vũ bảo và chiến thắng sẽ về ta. Tôn-Tử quan niệm:"Mọi sự việc cần thận trọng, phải điều nghiên chiến trường, xác định chiến thuật đứng đắn, đắng đo giữa lực lượng 2 bên và các diễn biến cụ thể trên lập trường chiến đấu rồi mới quyết định hành động.

 

C. -Thực lực quyết định thắng bại:Quyết định cục diện thắng bại của cuộc chiến, là tương quan lực lượng giữa 2 bên, Tôn-Tử đưa đơn vị đo lường như "dật" và "thù" để mọi người dễ nhận biết, ông nhận định:"Đội quân chiến thắng so với bên thất bại, như 1 dật so với 1 thù. "và "Quân-đội thất bại so với chiến thắng, như 1 thù so với 1 dật. "Đó là thực thể để quyết định đến sự thắng bại. Nói rơ hơn bên chiến thắng phải trên 500 lần so với bên thất trận chỉ bằng 1. (1 dật=24 lượng, 1 lượng=24 thù, vậy 1 dật=24x24=576).

1. -Thực lực quyết định thắng bài. Như vừa tŕnh bày ở trên, bên chiến thắng thế như nước vỡ bờ từ cao ngàn trượng trút xuống, sức mạnh không ǵ cản trở nổi, biểu tượng của thực lực quân sự. Trên thực tế tại chiến trường, Tôn-Tử có nhận định như sau:"Người biết giành chiến thắng trước địch quân, mới coi là thiên tài quân sự, tức là người mưu lược, thiện chiến, luôn giữ ḿnh ở thế mạnh thực sự, là người biết áp dụng nguyên tắc lấy "thực" đánh "hư".

2. -Điều kiện quyết định đến thực lực quân sự. Tôn-Tử cân nhắc:"Quyết định thắng bại của chiến tranh là do ở điều kiện quyết định đến thực lực quân đội". Vẩn dựa vào 5 yếu tố "Độ", "Lượng", "Số", "Xứng" và "Thắng". Trong đó "độ" nói lên sự khác biệt diện tích bờ cỏi giữa ta và địch, rồi quyết định đến "lượng" tài nguyên và nhân lực cần thiết, đó là "số" binh lính cần phải có để tương "xứng" thế lực, như thế mới quyết định "thắng" thua trong cuộc chiến, như đă tŕnh bày trong phần "H́nh thiên". Điều này cho ta thấy rơ Tôn-Tử luôn luôn ư thức "Cục diện thắng thua không những chỉ tùy thuộc bởi tương quan thực lực giữa 2 bên tham chiến, mà c̣n tùy thuộc bởi sức mạnh tương quan giữa 2 quốc gia liên hệ cuộc chiến.

 

V. -Thế thiên. (nhân lực và nơi hoạt động).

Thế ở đây có nghĩa là tiềm năng tạo ra sức mạnh, nhưng trong chương này Tôn-Tử chú trọng nhiều về thế địa h́nh, nơi xẩy ra trận chiến, c̣n về quân đội ông nói:"Chỉ huy quân đội, dù ít hay nhiều đều do sự tổ chức biên chế phải tuân theo hiệu lệnh chỉ huy của người trưởng toán, dù gặp địch tấn công cũng không bị thất bại, là nhờ biết áp dụng linh hoạt tương quan giữa "kỳ" và "chính" trong quan điểm "thực hư", dù rằng thế trận biến động, người ngựa rối ren, nhưng vẫn giữ vững trận thế, kiên tŕ tác chiến dũng cảm, sẽ tạo thế mạnh cho ta và làm địch nao núng rối loạn. "

 

A. -Khái niệm và tác dụng của "thế".

Thế là tiềm năng tạo thành sức mạnh, nhờ thế đất thuận tiện hiểm trở sẽ giúp ta rất nhiều trong điều kiện tác chiến, nhưng có nhiều nơi thế đất chỉ tiện việc pḥng thủ nhưng không có thế tấn công, nên ta phải tạo thế để thích hợp điều kiện để giành sự thắng lợi, chiến thắng là mục đích tối hậu của cuộc chiến.

1. -Tầm quan trọng của "thế". Tôn-Tử nói:"Thế, có tầm quan trọng trong tác chiến, là yếu tố cần thiết để đánh bại đối phương mà giành chiến thắng, ngoài việc địa thế c̣n yếu tố nhân lực cũng phải kiên tŕ, khômg được rối loạn hàng ngũ, vẫn phải bố trí chu đáo, giữ vững thế trận. ", Ông nhấn mạnh:"Người giỏi tác chiến phải biết tạo t́nh thế có lợi, không nên đ̣i hỏi ở thuộc cấp". (nếu người chỉ huy đ̣i hỏi ở thuộc cấp, th́ thế của ta có thể bị địch biết được khi thuộc cấp ta là kẻ nằm vùng, đây là bài học đau đớn của Mỹ tại chiến trường Việt-Nam).

2. -Mối quan trọng giữa "h́nh" và "thế". "H́nh" (thực lực) là cơ sở để quyết định cục diện thắng bại trong chiến trận, c̣n "Thế" là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thắng bại, trong trận chiến có rối ren hổn loạn, nhưng đội "h́nh" vẩn không nao núng sẽ tạo được "thế" vững chắc, tăng thêm "thế" mạnh của từng đội ngũ, bồi sức chiến đấu quân đội. Có "h́nh" vững chắc tấc sinh ra "thế"mạnh, mới đạt được chiến thắng cuối cùng. Trong "H́nh thiên" phân tích khách quan về thực lực quân sự "mạnh yếu". Trong "Thế thiên" tập trung phân tích các vấn đề "quản lư", "chỉ huy", "biến hóa" và tạo "t́nh thế có lợi" nhằm phát huy tính năng động chủ quan trong trận chiến để giành lấy chiến thắng.

3. -Gồm 4 vấn đề: Để phát huy thực lực chính ḿnh th́ ta phải biết cách hạn chế đối phương phát huy thực lưc, để làm được việc đó, Tôn-Tử cân nhắc đến 4 nguyên tắc có liên quan đến quân đội như sau:

a. -Tổ chức biên chế. Là cơ bản để quản lư và chỉ huy trong quân đội, như biên chế trật tự, tổ chức nghiêm mật, tôn tọng kỷ luật, thống nhất hành động.

b. -Hiệu lịnh chỉ huy. Quân nhân phải thông hiểu hiệu lịnh, v́ đây là cách thức truyền tin trên chiến trường, hiệu lệnh mới được thông đạt đến mọi người, quân đội mới được kịp thời điều chỉnh tiến lui, đội h́nh mới không bị rối loạn, thế quân mới được hùng mạnh.

c. -Kỳ chính: Nói về chiến thuật dùng binh và sự biến hóa trong chiến thuật. "Chính" là đối đầu trực tiếp với địch. "Kỳ" là tập kích bất ngờ, đánh  lén có kỹ xảo riêng. Đánh trực diện hay tác chiến theo quy tắc thông thường là "chính". Đánh lén, đánh bất ngờ, tác chiến một cách đặc thù riêng là "kỳ".

d. -Thực hư là biết cách tránh chỗ thực (mạnh)và đánh chỗ hư (yếu). Nhằm tạo cho ta biết cách giữ ở thế mạnh để chiếm ưu thế áp đảo chỗ yếu. để "Đánh thắng kẻ địch dễ đánh" và "Đánh thắng kẻ đă ở vào thế thất bại".

 

B. -Vận dụng chiến thuật trong quân sự. Dùng "chính" đương đầu, dùng "kỳ" thủ thắng. Vận dụng biến hóa trong chiến thuật sẽ tạo thế mạnh trong quân đội. Vậy "kỳ" và"chính" được biến hóa như thế nào khi ta quan niệm "Chính là mạnh" và "Kỳ là yếu". Để hiểu rơ ta cần hiểu "kỳ"và "chính" được nhận định bởi Tôn-Tử theo 3 nguyên tắc như sau:

1. -Nguyên tắc dùng binh. Dùng "chính" đương đầu. Dùng "kỳ" để thủ thắng, trong triết học "chính" là b́nh thường, "kỳ" là bất thường. "Chính" là quy tắc thông thường trong chiến thuật, có tính cách "cố định". C̣n "kỳ" là bất quy tắc trong chiến thuật, có t́nh cách biến hóa.

Trong binh pháp nếu không biết sự biến hóa này th́ không thể có những chiến thắng bất ngờ, khả năng này chỉ có những tướng tài giỏi mới hoàn tất chiến thắng cuối cùng.

2. -Phương pháp để thắng không lập lại, biến hóa vô cùng. Nguyên tắc bất biến trong chiến tranh là sự "sống chết", nếu chỉ dùng sức mạnh không thôi th́ sự tang thương càng thê thảm, trong quan niệm chiến tranh Tôn-Tử :chú trọng đến việc tồn vong, không những cho bản thân người tham chiến mà cho cả một quốc gia, một dân tộc, cho nên Tôn-Tử quan niệm "Phương pháp để thắng không lập lại, biến hóa vô cùng". Áp dụng "Bất quy tắc trong trận thế" nhằm đạt đến một chiến thuật thiên biến vạn hóa, để đánh lừa và áp đảo tinh thần kẻ địch, đồng thời cũng để phát huy tiềm năng chiến đấu của ta để giành sự thắng lợi.

3. -"kỳ" và "chính" cần chuyển hóa lẩn nhau, không phải đối tượng đối lập tách rời, mà cần phối hợp chặc chẻ mới tạo thế vững bền. Lấy "kỳ" làm "chính" khiến địch tưởng đó là "chính", dồn nổ lực pḥng ta. Lấy "chính" làm "kỳ", khiến địch ngở đó là kỳ binh, ta dùng cánh quân này tập kích địch. "Kỳ" và "Chính" biến đổi không chừng cũng chỉ nhằm đánh lừa địch, nhưng thực chất sức mạnh của quân đội nằm ở chỗ biết cách phối hợp giữa "H́nh" và "Thế"của người chỉ huy.

 

C. -Tạo lập và tận dụng tối đa ưu thế. Điều khiển quân đội cần phải biết cách ngụy trang để đánh lừa địch, dụ địch sa bẩy, đôi lúc phải cho địch thấy ḿnh như không có khả năng chiến đấu, bỏ chạy để dẫn dụ địch vào chỗ ưu thế của ḿnh, v́ những nơi đó thông thường không có sẳn như ta muốn và địch cũng không biết được sẽ có những địa thế như vậy, thế ở đây tức là thế h́nh của trận chiến mà ta lập thành để có lợi cho ta. Như:

1. Cấu thế:Nhận rơ được thế có lợi. Người có tài tác chiến cần biết "Biết tự ḿnh t́m ra t́nh thế có lợi, chứ không đ̣i hỏi ở cấp dưới. Tướng tài cần "nhận biết thế h́nh như thế nào có lợi cho chính ḿnh, không nên nhờ thuộc cấp và đ̣i hỏi qúa đáng buộc họ cố t́m. Từ đó ta mớ́ tạo được mô h́nh cần thiết cho trận chiến, giúp ta tạo thế mạnh cho toán quân tác chiến.

2. -Tạo thế:Tự kiến tạo h́nh thế có lợi cho ḿnh. Làm tướng không nên chỉ dựa vào h́nh thế có sẳn trước mắt giải quyết trận thế, mà cần tạo thế để thuận lợi cho chính ḿnh. Tôn-Tử quan niệm: "ngụy trang", "điều khiển" và "dụ dổ địch" đều nhằm che dấu sự t́nh của ḿnh để địch phán đoán sai vềḿnh, rồi dẫn đến hành động thiếu chính xác mà sa vào bẩy của ta.

3. -Nhiệm thế:Tận dùng t́nh thế có lợi để phát huy khả năng, nhanh chóng mở rộng cục diện cuộc chiến, phải đúng lúc và kịp thời, nhầm tiêu diệt địch trên toàn trận tuyến.

 

D. -Lợi dụng địa thế để chiến thắng. Mối chốt quyết định cục diện thắng bại chính là tương quan giữa "Thế" và "H́nh"của 2 bên tham chiến. "Thế"là thực lực phát huy tiềm năng, trên địa h́nh đó, tạo nên sĩ khí quân đôi và trợ lực hữu hiệu cho chiến thuật.

Trong trận hải chiến Salamis giữa quân Hy-Lạp và quân Ba-Tư, đối diện lực lượng hùng mạnh của quân Ba-Tư có gần 1, 000 chiến thuyền và 30 vạn quân, trong khi quân Hy-Lạp chỉ có 300 chiến thuyền, thế mà quân Hy-Lạp giành được thắng lợi là nhờ vào địa h́nh tạo thế thuận lợi cho quân Hy-Lạp. Quân Hy-Lạp cố giữ bên trong vịnh Salamis, bên ngoài cửa vịnh tỏ ra lơ là không pḥng thủ, cố t́nh dụ quân Ba-Tư tấn công vào vịnh, v́ đoàn quân Ba-Tư đông hơn gần ngàn chiếc, phạm vi trong vịnh lại hẹp, nhằm lúc biển bị động sóng to, lại bị 300 chiến thuyền Hy-Lạp tập kích, nên thuyền quân Ba-Tư tự đụng nhau mà ch́m, phần th́ bi quân Hy-Lạp xạ kích, chiến thuyền quân Ba-Tư ch́m hơn 200 chiếc trong khi quân Hy-Lạp chỉ có 40 chiến thuyền tổn thất nhưng tịch thu được nhiều chiến thuyền của quân Ba-Tư.

 

VI. -Hư thực Thiên. (chỗ yếu, chỗ mạnh).
A. -Tránh chỗ thực (mạnh)đánh chỗ hư (yếu). . Dùng quân "mạnh" đánh quân "yếu", đó là nguyên tắc căn bản trong chiến tranh. Biết vận dụng các biện pháp, phân tán, tập trung, tiến quanh, ṿng tắc saocho đến được địa điểm giao tranh đă định để tạo được thế ta đông địch ít, ta mạnh địch yếu, lấy nhiều đánh ít, lấy "thực" đánh "hư".

1. -Địch hư ta thực, tránh thực đánh hư. Địch thực ta hư ta sẽ thua. Địch hư ta thực ta sẽ thắng. Trước khi tác chiến ta cần so sánh 5 vấn đề(ngũ sự) và 7 t́nh huấn(thất kế) có thể nhận thức được về tương quan mạnh yếu giữa thực lực 2 bên tham chiến. "Khiến địch phải lộ diện mà ta không lộ, ta sẽ tập trung binh lực, địch sẽ phân tán lực lượng, ta tập trung một chỗ, địch phân tán 10 nơi, như vậy ta có thể lấy 10 chọi 1". Kiến địch phải lộ diện, th́ cần ngụy trang đánh lừa đồng thời không để cho địch ḍ ra tung tích ta, như kiểu dương đông kích tây là chỗ địch không phát hiện ra được, đây là lối dùng "hư" lừa địch, dùng "thực" tấn công địch.

2. -Các nhân tố cấu thành hư thực. Tôn-Tử quan niệm:"Hư thực" không những dựa vào số lượng quân đội nhiều hay ít, mà c̣n tùy nhiều nguyên tố khác, luôn luôn đặt quân đội ḿnh trong trạng thái b́nh an, no đủ, yên ổn, vững tin chủ soái, như thế ta mới mạnh. T́m mọi cách khiến địch lâm vào t́nh thế mệt nhọc, đói khát và thường xuyên di động, như thế địch mới yếu.

 

B. -Trận chiến B́nh-Nhưởng. Dùng thực số (đông) đánh hư số (ít). Vào cuối thế kỷ thứ 16. tướng Toyotomi-Hydeyochi Nhật dùng thuyền đổ bộ lên eo biển Đối-mă(Tsushima) rồi tiến chiếm B́nh-nhưởng, vua Triều-Tiên Lư-Thương cầu cứu nhà Minh, nhà Minh biết Nhật (Oa-khấu)chiếm Triều-Tiên nhằm tấn công Minh, nên nhà Minh và Triều-Tiên hợp thành liên minh đánh Nhật. Đây là dùng thực đánh hư. Như Việt-Nam ta, trận Đống-đa vua Quang-Trung đốc thúc toàn quân tấn công ra Bắc đại thắng quânThanh. Nói rỏ ra quân tại nước chủ nhà là "thực", quân xâm lược là "hư", xâm lược tất phải bại, quân chủ nhà tất thắng, như vậy ta thấy rỏ Tôn-Tư không chủ trương xâm lược, c̣n việc can qua nước khác chỉ nhầm để truy kích diệt địch, v́ địch đă xâm lược ta, như vậy ta phải hiểu rằng, "nếu ta muốn chiếm luôn đất địch, ta sẽ trở thành "hư" đó. ".

 

C. -Trận chiến Trường-Thược. Chiến thắng nhờ khí thế. Câu chuyện xẩy ra vào thời 684tcn giữa Tề-hoàn-công tiến quân đánh nước Lỗ, bên Lỗ dùng thế an nhàn chờ quân Tề tấn công(v́ quân Tề ỷ thế ḿnh mạnh, khinh địch tấn công Lỗ tức th́ nên bị thua trận, v́ qúa mệt nhọc. )cho nên ví dụ này không hợp để nói quân Lỗ nhờ "khí thế", vă lại câu chuyện tác giả đưa ra trước thời Tôn-Tử 120 năm, các bạn nghĩ rằng tác giả biết về quân sự không.

 

VII. -Quân tranh thiên. (Tranh đua trong nghề).

Một vấn đề rất tế nhị trong "Binh-pháp Tôn-Tử", tranh đua có tầm quan trọng trong chiến tranh, sự tranh đua giữa địch và ta, sự tranh đua chính ngay trong ta. Nói về phối hợp hành quân trong quân độinhư nhanh chậm, chiếm ưu thế, giành thắng lợi là những h́nh thức cần thiết trong lúc hành quân.

 

A. -Tranh giành chiến thắng:

1. -Khái niệm quân tranh. Nguyên tắc căn bản là nh́n vào thực lực giữa 2 bên tham chiến, bên mạnh sẽ thắng, bên lớn sẽ hơn. Nhưng trên thực tế c̣n tùy thuộc nhiều yếu tố khác như : tŕnh độ huấn luyện quân đội, tinh thần đoàn kết nhất trí, thiên thời, địa lợi, vận dụng chiến thuật, nếu bên nào giữ được hoàn chỉnh, phần thắng chắc chắn hơn. Như vậy ta thấy : chính sĩ khí, thiên thời, địa lợi, chiến thuật là nhân tố tạo thuận lợi cho tác chiến, là mục đích của "quân tranh" giúp quân đội trở nên lớn mạnh, những việc này phải cần có chỉ huy nghiêm minh mới vượt hơn kẻ địch để giành thắng lợi.

2. -Khó khăn của việc tranh giành lợi thế. Chiếm được lợi thế sẽ giữ được phần thắng hơn, Tôn-Tử nói:"Không ǵ khó khăn bằng giành lợi thế". Điều này chứng tỏ việc giành lợi thế chỉ thể hiện được bởi người chỉ huy.

3. -Mặt trái của tranh giành lợi thế. Tôn-Tử cũng nhận thấy điều này, nên nhắc nhở:"không nên v́ lợi mà quên nguyên tắc sinh tồn, sẽ chuốc lấy tổn thất". Ông đưa ví dụ:"V́ muốn tới đích trước mà bỏ hết quân trang, đó là cái hại không biết tranh giành lợi thế. "(Ví dụ này được in trong sách, tôi nghĩ đây chỉ là ư của người viết, chứ câu nói đầu là đầy đủ lắm rồi).

 

B. -Phương pháp của quân tranh. Chung quy đều nhằm để chiếm ưu thế, bắt kịp thời gian đến chiến trường tạo thế mạnh đánh yếu, lấy "thực" chế "hư".

1. -Biết dùng đường ṿng trở thành đường thẳng. Trong cuộc chiến không dể để đạt đến mục đích, nên ta cần biết cách đánh lừa phán đoán của địch, chứ không lộ liễu để địch nhận ra hành động của ta. Tôn-Tử nói:"Phải biết biến cong thành thẳng", hàm ư ta phải biết kiến địch có con đường dài hơn, c̣n ta có con đường ngắn hơn, mặc dầu ta đi ṿng nhưng ta vẩn là người đến trước. (Chính điểm này làm nên triết lư chiến tranh bất diệt của Tôn-Tử, cũng như ngầm bảo ta, khi gặp nguy th́ chúng ta sẽ biến đường ngắn thành đường dài, để địch không bắt kịp ta, mấy ai hiểu được chân lư này, mới thật là chỉ huy giỏi. )

2. - Biến bất lợi thành có lợi. Trong điều kiện phức tạp của chiến trường, có thể thay đổi cục diện bất ngớ, người chỉ huy phải biết "Biến bất lợi thành có lợi", trong sách đưa ra ví dụ Trương-hiến-Trung trong cánh quân nông dân của Lư-tự-Thành trá hàng thuần phục một tri huyện nhà Minh, sau này v́ hạn hán, dân t́nh loạn lạc, Trương-hiến-Trung trở mặt giết tri huyện, đây là"trá hàng để chờ thời cơ khởi dậy chống địch"mà cộng sản thường áp dụng, mới nh́n vào ta thấy đúng, xét lại người viết qúa ấu trỉ không biết ǵ về Tôn-Tử, v́ tư tưởng chiến tranh của Tôn-Tử là chiến thắng tức thời, c̣n không thắng th́ "dĩ đào vi thượng" để sinh tồn, chứ không có việc trá hàng như sách đưa lên, bởi quyển sách này do tác giả Tàu viết, dịch giả là bồi viết cộng-sản Viêt-Nam. Chúng ta cần thận trọng những sách dịch từ sách cộng sản Tàu, v́ quyển "Binh pháp Tôn-Tử" là quyển sách nói lên cách thức tổ chức một tập thể mạnh, một lănh đạo giỏi, một tướng tài thiên hạ như thế mới giữ được ḥa b́nh quốc gia. Cho nên câu "Biến bất lợi thành có lợi" chỉ dành cho người có tài trong thiên hạ, người đó phải biết quyển "Binh pháp Tôn-Tử" nói ǵ chứ đừng nghe theo ư người tŕnh bày quyển sách.

3. -Tuy đi ṿng mà biết dùng lợi nhỏ để dụ địch th́ dù xuất phát sau vẩn có thể đến đích trước để tranh lấy phần thắng. Dù đường ṿng đường thẳng ta cần thông hiểu mục đích sau cùng vẩn là lợi thế cho quân đội ḿnh, vậy cần phải tạo ra các điều kiện chuyển hóa thích nghi trong công tác ngụy trang lừa địch nhầm cản trở hành động đối phương để tăng phần lợi thế cho chính quân đội của ḿnh.

C. -Chiến công cờ lịnh. Đây là 2 loại công cụ hữu hiệu trong việc chỉ huy quân đội ngày xưa, ngày nay vẩn c̣n xử dụng trong những lúc t́m ḍ tiến chiếm mục tiêu, là lối chỉ huy trong lúc cận chiến, thường dựa theo nguyên tắc:

1. -Quân chính là cách nhận rỏ địch t́nh cũng như phong thái quân đội ở bên ta, là lối nhận diện chiến trường "hư" "thực", nên lúc xưa các cấp chỉ huy thường nói:"Thấy được th́ tiến, thấy khó th́ lùi". Đó là phép tắc quân đội cần nhận biết rơ ràng t́nh h́nh cả 2 bên rồi quyết định kế hoạch.

2. -Tác chiến ban đêm dùng chiên trống, tác chiến ban ngày dùng cờ lệnh.

D. -Có 4 nguyên tắc cần nắm vững, "Trị khí". "trị tâm". "trị lực "và "trị biến".

1. -Nắm bắt sĩ khí (trị khí). Nhụê khí và sức mạnh là sức chiến đấu của tướng sĩ, sức mạnh nhờ vào nhụê để phát khởi từ quân đội. "Tư-mă pháp", trong khi giao chiến dùng sức mạnh để chế ngự địch, dùng nhụê khí để áp đảo tinh thần địch mà đạt đến chiến thắng. Tôn-Tử cũng nhấn mạnh "tranh khí", "dành lấy ưu tiên về "sĩ khí" rất quan trọng trong lúc giao chiến.

2. -Nắm bắt tâm-lư (trị tâm). Muốn làm tiêu tan sĩ khí địch, ta cần làm lụt nhụê khí tướng chỉ huy, v́ binh sĩ biểu hiệu tâm lư và tinh thần của tướng chỉ huy. Ngô-tử-Tướng luận:"quân đội tuy có trăm vạn ngưới, nhưng chỉ có 1 người chỉ huy tính toán và sắp đặt mọi việc, bởi thế khi xưa Việt-câu-Tiển muốndiệt Ngô, chỉ cần việc lung lạc Ngô-phù-Sai.

3. -Nắm bắt sức lưc (trị lực). Những trận chiến lúc xưa thường là cận chiến, đôi khi 2 bên đánh tới 2 hoặc 3 ngày, nên sức lực binh sĩ là yếu tố cần đặt ra, thể lực từng người là mối chốt quan trọng để quyết định sự thắng bại của cuộc chiến. Do đó Tôn-Tử đề ra "trị lực" dùng chiến trường gần đối phó kẻ địch từ xa mới đến, dùng quân đội nhàn rổi khỏe mạnh đối phó kẻ địch mệt mỏi, dùng quân đội no đối phó quân đội đói.

4. -Nắm bắt biến hóa (trị biến. ). Biến hóa là sự linh hoạt trong chiến thuật, lựa chọn chiến thuật là nhân tố xác định sức chiến đấu của quân đội. Do đó Tôn-Tử nói:"Không chận đánh đoàn quân cờ xí chỉnh tề, không tấn công kẻ địch trận thế hùng mạnh, cần cơ động linh hoạt để giành lấy thế chủ động và ưu thế chiến thuật tại chiến trường.

 

VIII. -Cửu biến thiên. (luôn luôn thay đổi).

A. -Vận dụng chiến thuật cần linh động.

Phải hiểu biết ứng biến trong lúc hành quân, phải biết đường nào không nên đi, vùng nào không nên đến thành nào không nên chiếm, địch như thế nào không nên đánh, đôi lúc lịnh vua cũng không nên theo.

1. -Cữu biến. Có nghĩa là luôn luôn biến đổi, Tôn-Tử nói:"Tướng lănh phải biết linh hoạt trong lúc hành quân, biết cách biến đổi đội h́nh để thuận lợi tác chiến, như "Đất khó đi lại(bỉ địa)" không nên đóng quân, "Đất rộng răi thông suốt(cù địa)"nên kết giao với nước láng giềng, vùng "Đất khó sinh tồn(tuyệt địa)" không nên ở lâu, vùng "Đất dễ bị vây khốn(vi địa)"cần tính mưu kế, vùng "Đất không có lối thoát(tử địa)"phải quyết chiến. Tôn-Tử :"người chỉ huy phải biết t́nh h́nh trận chiến mà thay đổi chiến thuật, biến đổi liên tục để giữ vững thế tiến quân. "

2. -Cơ biến và bất biến. Tôn-Tử đưa vấn đề:"Lệnh vua có thể không theo" khi lệnh trái với 4 điều "cơ biến" sau đây th́ không cần nghe theo, như:"

a. -Con đường không nên đi, vua lệnh đi, ta không đi.

b. -Kẻ địch không nên đánh, vua lệnh đánh, ta không đánh.

c. -Thành tŕ không nên công, vua lệnh công, ta không công.

d. -Vùng đất không nên chiếm, vua lệnh chiếm, ta không chiếm.

Cơ biến này nằm trong phạm vi lựa chọn quyết sách chiến thuật không thể thay đổi (bất biến), thuộc về tướng chỉ huy, nếu theo lệnh vua th́ mất thời cơ, làm lở chiến cuộc, đôi khi đưa cả quân đội đến chỗ diệt vong.

 

B. -Phải có sự chuẩn bị sẳn sàng tác chiến. Trong phép dụng binh, ta đừng nghĩ rằng kẻ địch không đến đánh hoặc không bao giờ tấn công ta, cũng như trong một quốc gia ta cũng đừng quan niệm rằng nước ta không bao giờ bị tấn công và cũng không nước nào dám tấn công nưóc ta, nếu ư thức được việc này, th́ ta phải có sự chuẩn bị sẳn sàng ứng phó khi có địch đến tấn công, v́ đây là việc thực tiển trong nguyên tắc bảo vệ đội quân luôn luôn được an toàn, và ḥa b́nh quốc gia, là sự sống c̣n của đất nước, đó là "Tồn vong chi đạo". Nên ta cần làm tốt công tác chuẩn bị pḥng ngừa, bố trí những dữ khiện sẳn khiến địch không thể tấn công ta, có lắm chuyện ta không thể ngờ được bởi âm mưu của kẻ ngoài họ vốn sẳn ư đồ xâm lược mà ta không ngờ được, nên kết cuộc thảm bại v́ lơ là không cảnh giác. Như ở Việt-Nam ta, vào thời vua Hùng-Vương thứ 18, bị Thục-Phán đem quân đánh bất ngờ, chiếm trọn nước Văn-Lang. Trong thế chiến thứ hai, Nhật-Bản tập kích Trân-châu-cảng, căn cứ địa hạm-đội Thái-b́nh-dương của hải quân Mỹ, và Đức tấn công chớp nhoáng Liên-bang Sô-Viết, chính do sự lơ là không pḥng bị, không tin địch sẽ tấn công theo lối này, sự việc không chuẩn bị trước là điều khiến cho địch có cơ hội tấn công. Những sự kiện vừa kể cho ta thấy ta phải luôn luôn chuẩn bị sẳn sàng ứng phó khi có kẽ địch định xâm lăng nước ta.

 

C. -Năm điều then chốt có thể tạo sự sai lầm cho tướng chỉ huy không biết cơ biến. Quân đội là cột trụ bảo vệ quốc-gia, tướng lănh là người chỉ huy quân đội, cho nên người làm tướng cần biết:"5 mối nguy hại khi tướng lănh không biết cơ biến. 1. -Liều mạng khinh suất sẽ bị giết. 2. -Tham sống sợ chết sẽ bị bắt. 3. -Nóng nảy vội vă dễ bị khinh địch. 4. -Liêm khiết dễ chuốc nhục nhă. 5. -Thương dân sẽ phiền phức không yên. Đó là 5 yếu tố địch chủ yếu vào vị tướng chỉ huy quân đội. có thể làm ông ta thân bại danh liệt. Tôn-Tử nói:"Tướng lănh có 5 điều nguy hiểm", chỉ rơ nhược điểm những người liều mạng, tham sống, nóng nảy, liêm kiết là dễ háo danh, nhược điểm của kẻ thương dân là không đành ḷng. Nếu những nhược điểm đó bị kẻ thù lợi dụng, sẽ dẫn đến tai họa là quân đội bị tiêu diệt, tướng lănh bị giết hại. Đây là vấn đề "cơ biến" trong quan niệm chỉ huy của Tôn-Tử:"Tướng lănh trên chiến trường cần phải biết ứng biến linh động, không nên qúa lệ thuộc vào nhân tố nào mà buông thả, nếu không làm thế, quân đội sẽ có nguy cơ bị tiêu diệt. ". Đây là kinh nghiệm trước mắt của chiến tranh Việt-Nam, năm 1972, chiến trựng Quảng-trị quân Bắt-Việt không màng sự sống của người dân (dùng dân để uy hiếp cấp chỉ huy của quân lực Việt-Nam Cộng-Ḥa), dùng người dân làm bia đở đạn, pháo kích bừa bải vào dân di tản, v́ họ muốn chiến thắng, nhưng họ không ngờ quân đội VNCH liều chết chống cự bảo vệ người dân, đồng thời quyết tâm đánh bại quân Bắc-Việt. Năm 1975 các tướng lănh VNCH như Nguyễn-khoa-Nam đành buông súng để chấm dứt chiến tranh (v́ sợ dân chết dưới bom đạn Việt-cộng pháo kích như trận An-Lộc năm 1972), phải tuân theo lệnh đầu hàng của Dương-văn-Minh(nghe theo lệnh vua), v́ sự nhơn từ của tướng chỉ huy, v́ sợ dân chết oan nên kéo theo sự sụp đổ của nước VNCH và cả quân-cán-chính Miền-Nam phải chịu cảnh tù đày.

 

D. -Lệnh vua có thể không theo, như Chu-a-Phu dẹp loạn thất quốc. Chuyện xẩy ra vào thời Tây-Hán, sau khi Lưu-Bang lên ngôi phong cho các bà con trong họ làm vương, để cũng cố thế lực đề pḥng các họ khác chiếm quyền. Vào đời Hán-cảnh-Đế, thế lực các nơi lớn mạnh tương đương với triều đ́nh, nhà vua chủ trương cắt giảm thế lực chư hầu để củng cố tập quyền trung ương, làm các nước chư hầu bất mản.

1. -Loạn thất quốc. Đời Hán-cảnh-Đế, 154tcn, các chư hầu Ngô, Sở, Triệu, Giao-Đông, Giao-Tây, Truy-Xuyên, Tế-Nam dấy quân làm phản dưới sự lănh đạo của Ngô-Vương Lưu-Ti, gọi là "Loạn thất quốc" nổi tiếng trong lịch sử Trung-Hoa

2. -Kháng lệnh mới chiến thắng. Đại tướng Chu-a-Phu phụng lệnh Hán-cảnh-Đế đem quân tiến về Lạc Dương chận hậu quân thất quốc cắt đứt đường lương thảo, nhưng đến nửa đường, Chu-a-Phu thay đổi kế hoạch, tiến quân theo đường ṿng, đến chậm hơn 2 ngày, nhưng lại vô hiệu hóa được phục binh của địch, trong lúc này liên quân Ngô-Sở bao vây tấn công nước Lương, t́nh h́nh nguy ngập, Hán-cảnh-Đế lệnh Chu-a-Phu đưa quân tăng viện nước Lương, Chu-a-Phu không nghe mà chỉ đem quân đánh bọc sau lưng liên quân Ngô-Sở cắt đứt đường lương Ngô-Sở, v́ thành tŕ nước Lương kiên cố, liên quân Ngô-Sở không hạ được thành, lâu ngày v́ thiếu lương thực, sĩ khí suy sụp, nên đành rút quân. (Trong trường hợp này ta thấy, tướng không nghe lệnh vua là phải, v́ vua ở tại triếu đ́nh, c̣n tướng ở tại chiến trường, việc này xây ra thường xuyên trong các chiến trận Trung-Hoa, vă lại lệnh vua nhiều khi bị kẻ nằm vùng mưu tính cho vua, nếu nghe theo lệnh vua th́ làm mất thanh danh đời tướng, như chuyện Nhạc-Phi bị Tần-Cối hảm hại, v́ không dám trái lệnh vua. Than cho người trung thế này. . )

3. -Quân Hán đại thắng. Liên quân Ngô-Sở rút khỏi nước Lương, Chu-a-Phu đuổi quân tiếp chiến, Sở-Vương Lưu-Mậu tự sát, Ngô-Vương Lưu-Tị chạy về Đan-Đổ định dựa vào Đông-Việt tiếp tục làm phản, sau một tháng Đông-Việt bị quân Hán mua chuộc bắt giết Lưu-Tị, quân Chu-a-Phu tiếp tục truy kích các phản vương khác và tiêu diệt hoàn toàn, quân Hán đại thắng, câu chuyện cho ta thấy Chu-a-Phu có tài năng"biết vận dụng linh hoạt trong thế cửu biến".

 

Nhận xét riêng trong phần "lệnh vua có lúc không thi hành", thực ra trong bài viết này, câu cuối cùng trong bài viết:"biết lợi dụng linh hoạt lẽ cơ biến", v́ cơ biến trong quan điểm của Tôn-Tử, không theo lệnh vua chỉ có 4 điều đă nêu ở trên, là lúc vua thân chinh theo đoàn quân, ở ví dụ này vua không có đi theo với đoàn quân, nên việc Chu-a-Phu đi nửa chặn đường rồi đổi ư đi chậm hơn 2 ngày, không phải là ông trái lệnh vua, v́ ông vẩn làm theo kế hoạch chận hậu cướp lương Ngô-Sở, Chu-a-Phu không chia quân tiếp giúp Lương mặc dù có lệnh vua, v́ lệnh này không hiệu lực bởi vua ở triều đ́nh c̣n tướng ở ngay tại mặt trận, sao phải nghe lời vua chứ, v́ lời đó không phải là lệnh, nên có lần tôi hỏi "tác giả có biết về quân sự không?". Trong câu chuyện này ta phải công nhận Chu-a-Phu là tướng tài, v́ ông tinh thông "cửu biến", ông đă đi nửa đường rồi đổi thành đường dài hơn, để quân Ngô-Sở ngở là ông đi lạc đường, nên đốc túc quân nhanh đánh chiếm thành nước Lương, chỉ chậm có 2 ngày đánh chiếm quân lương địch, mà Chu-a-Phu tạo ra thế quân Ngô-Sở 2 đầu phải chống chọi quân Hán, đó là cách tạo "thế mạnh" cho quân Hán, bởi quân Ngô-Sở thiếu quân lương nên đành rút quân, rồi cuối cùng loạn "thất quốc" bị diệt, bởi thế tôi viết Chu-a-Phu có tài năng "biết vận dụng linh hoạt trong thế cửu biến".

 

 

 

Xem PHẦN 3

 

 

 

 

LINÊ KHÔI CHƯƠNG

(LKC)

Ngày 28/9/2014

 

Trở về Trang Tác giả

 

 

 

 


 


Trang BIÊN KHẢO LINH TINH