LIÊN KHÔI CHƯƠNG
 


 

Cùng Một TÁC GIẢ
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

www.ninh-hoa.com

 

 


NGƯỜI VIỆT
Nh́n Qua Sử Việt Nam

 

Liên Khôi Chương

            

 

Lạc-long-Quân Sùng-Lăm

Hồng-Bàng vốn họ vua Hùng-Vương.

Người đứng đầu của nước Văn-Lang.

Mười tám đời yên như bàn thạch.

Sống an nhàn một cỏi phương Nam.
Lấy đạo nhơn-ḥa xây dựng nước.

Không màng tranh chấp với lân bang

Trên dưới vua tôi vốn một ḷng.

Thương nhau tựa như cùng cha mẹ.

 

Thanh-b́nh trong cảnh đời dân dă.
Ḥa-b́nh trong cuộc sống chung nhau.
Thái-b́nh dân sống đời an lạc.

"Tam b́nh" chung lại sống thái-ḥa.

Vua tự xem dân như cha mẹ.

Dân trọng vua như bậc thánh-hiền.

Chung ḷng xây dựng nước Văn-Lang.

Phù trợ dương danh giống Lạc-Hồng.

 Được-Lời(LKC)

 

Người Việt nh́n qua sử Việt.

 

Mấy ai nói đến lời chân thật.

"Người Việt" ra sao mới thực là.

 

Để ḷng nh́n lại quá khứ ta sẽ thấy "Người Việt tự dối ḿnh" trên nhiều phương hiện, tự thấy nếu nói thẳng thừng th́ sợ người ta gọi ḿnh là ngang ngược và hồ đồ, v́ đây là vấn đề nhạy cảm đối với mọi người cùng chung nói tiếng Việt, cùng chịu ảnh hưởng đến sông núi Việt-Nam, đó là "Chất Việt" sẵn có trong bản thân "Cần cù, nhẩn nại, thông minh và ḥa b́nh", sự thật này không ai mà không nhận thấy, và cũng không thể chối cải được. Nhưng nói đến "Người Việt" người ta không nhận xét qua đời sống dân gian để phàn đoán, mà chỉ nh́n cảnh xô bồ bôn chen trong cuộc sống thị thành, các hàng phẩm quan quyền và nhất là qua sử sách, rồi b́nh phẩm một cách qua loa trong cái "Tính lơ là" sẵn có, bởi thế mất đi nhiều cơ may chính ḿnh tạo nên.

Nói đến sử sách th́ phải xét qua các triều đại lập quốc. Nh́n chung "Người Việt"  trông vẻ như ḥa  đồng và hiếu khách, trong lần gặp mặt đầu, sau khi giới thiệu qua tên họ và vài câu xă giao, thế nào cũng có câu tiếp "Anh là người. . H. . ?", khi nghe qua giọng nói hoặc cái họ của người đối diện, rồi liền hỏi trong vẻ tự nhiên như là lời xă giao, đây là "tính lơ là" cuả "Người Việt", v́ tôi được hỏi nhiều lần qua cấp chỉ huy hoặc những người bạn mới trong quân đội, không phải người Việt có tính kỳ thị mà v́ tính tự hào về dân tộc bởi sự thông minh sẵn có trong con người, cho nên mọi việc đều dè dặt và cẩn thận trong các ngành chỉ huy, lănh đạo, người Việt tin tưởng nhiều ở những người họ Lê, Trần, Nguyễn, qua sử người Việt vẩn c̣n dè dặt các họ như Đinh, Lư, Trịnh, Hồ, Bùi, Phạm và Ngô. . . "họ Ngô" đôi khi cũng c̣n nghi ngờ, sao tôi nói thế, v́ vợ tôi bạn bè cũng thường hỏi "Chị là người Hoa?". Sao người ḿnh lại có cái tính này, có phải v́ ảnh hưởng quan niệm "ngàn năm nô lệ giặc Tàu", đây là một định kiến cố chấp của những "Người Việt trí thức", chứ sao không nh́n qua nước Malaysia (24/100 gốc Hoa, 70/100 người bản xứ), Tân-gia-Ba (75/100 gốc Hoa, 25/100 người bản và gốc Ấn), quốc gia phát triển mạnh, nước họ có theo chỉ thị của Trung-Quốc không? Trong khi đảng Cộng sản Việt-Nam, Hồ-chí-Minh, Phạm-văn-Đồng v́ quyền lợi mà quên đi trách nhiệm quốc gia, không nghĩ đến dân tộc, luôn luôn nghĩ cách đề pḥng người Hoa mà không thấy đây là "Cộng đồng chất Việt". Người Hoa đến Việt-Nam trong gần 300 năm nay, không chỉ riêng ở Việt-Nam mà cả toàn thế giới, họ là những người đi tỵ nạn v́ chế độ hà khắc của Triều đinh Măn-Thanh kỳ thị chủng tộc. Cũng như ngày nay người Việt chúng ta ở khắp 5 châu cũng v́ Chế độ cộng sản, 2 dân tộc Việt-Hoa khắp trên thế giới này đều là người tỵ nạn chính trị, đều là những người bị chính quyền ngược đăi, riêng về người Hoa họ muốn đào thải cái chính quyền chuyên chế độc tài từ trước đến nay, người Việt th́ chỉ muốn đánh đổ chế độ cộng sản và oán ghét người Hoa, v́ nghỉ rằng người Hoa chiếm lấy hoàn toàn nên kinh tế Việt-Nam, và cho đây là "Sự xâm lược đồng hóa dân tộc Việt-Nam". Đây là một quan niệm yếm thế hẹp ḥi. Đến ngày nay đă gần 40 năm tỵ nạn chính trị tại các nước tự do mà người Việt không thấy rơ vấn đề khó xử cho những người Hoa đă sống từ 3 thế kỷ nay trên đất Việt, họ có cùng cái "Chất Việt" trong con người họ, họ có khi nào bạo lực với người Việt không ?

 

 Thử nh́n lại lịch sử. Tổ tiên người Việt là Lạc-long-Quân Sùng-Lăm thể hiện rơ "Chất Việt (75/100 Việt + 25/100 Tàu)", và trong thời ngàn năm Bắc thuộc có vị anh hùng nào mang cái họ vừa kể ở trên đâu?Các Ngài đă lănh đạo toàn dân, người cùng "Chất Việt", chống lại toán quân Tàu xâm lược. Như nh́n vào lịch sử, ta thấy thời kỳ độc lập của Việt-Nam bắt đầu từ Ngô-Quyền, nhưng khi nói đến các triều đại th́ các thầy dạy sử thường mở đâu với câu: "Đinh, Lê, Lư, Trần, Lê, Nguyễn. . "mà quên mất đi Ngô-Quyền và những người kề trước Ông như Khúc-thừa-Dụ (906-907), Dương-diên-Nghệ đă mở đường cuộc cách mạng chống Tàu hơn 30 năm liên tục, trước đó nữa có Lư-Bôn và thuộc tướng Triệu-quang-Phục không phải đă hơn 40 năm giữa nước Việt-Nam chống Tàu sao ?Họ có phải là người Việt thuần túy như các anh suy nghỉ đâu, họ chống v́ áp bức của bọn quan lại cấm quyền. Với quan điểm này người Việt ngày nay cần phải biết, muốn xây dựng Việt-Nam, cần phải xây dựng một chính quyền chân chính trong sạch không tham nhũng, không nhận hối lộ, không lộng quyền hà khắc với nhân dân, những người tham gia chính quyền phải được minh bạch tài sản khi tham gia chính quyền cũng như rời khỏi chính quyền, như thế "Tự do và Độc lập" tự nhiên sẽ đến trên đất nước Việt-Nam.

 Trong sử Việt nếu ta để ư ta sẽ thấy chỉ có Ngô-Quyền, Đinh-bộ-Linh, Trần-nhân-Tông, Lê-Lợi và gần thời chúng ta nhất là Ngô-đ́nh-Diệm là được kính phục, v́ những vị vua này trị quốc đúng cách một "Minh quân", c̣n các vị vua khác như Lê-Hoàn thời Tiền-Lê, Lư-công-Uẩn nhà Lư, Trần-Cảnh nhà Trần th́ không được huy hoàng ǵ mấy, đặc biệt thời nhà Trần với cuộc thảm sát của Trần-thủ-Độ làm kinh hoàng cho cả gịng họ Lư, Nguyễn-Huệ sau khi đại phá quân Thanh thống nhất Việt-Nam, tự xưng Bắc-b́nh-Vương, chiếm đi vị trí nhà vua của anh ḿnh là Nguyễn-Nhạc, và mưu t́m giết hại gịng họ Trịnh, Nguyễn Ánh sau khi thống nhất giang sơn th́ câm thù Nguyễn-Huệ và truy lùng bà con thân thích gịng họ Hồ-Thơm, có phải những người có hành động này cho rằng : "Họ Lư, Hồ, Trịnh không phải là chính tông họ của người Việt-Nam", vậy họ của người Việt-Nam gồm những họ nào ? Chỉ riêng họ Lê, Trần, Nguyễn ư, hoặc những người phải hy sinh cho đất nước Việt-Nam mới là người Việt, nếu nghỉ thế th́ qúa hẹp ḥi và sẽ làm chậm tiến xây dựng đất nước và không trách nhiệm đối với dân tộc.

 Trong thời Việt-Nam Cộng-Ḥa, nhóm Dương-văn-Minh, Tôn-thất-Đính, Trần-thiện-Kiêm đă giết ngài Tổng Thống Ngô-đ́nh-Diệm và cố vấn tổng thống Ngô-đ́nh-Nhu, trong khi đó Ngô-đ́nh-Diệm lại là cha đở đầu của Tôn-thất-ĐÍnh và Trần-thiện-Khiêm, lịch sử trớ trêu thế có sử nào ghi lại, tạo cho "Người Việt" trong cảnh mù mờ chỉ biết ḿnh là "Anh hùng chống ngoại xâm" mà quên đi cái tính thuần lương của "Người Việt" trong thời Lạc-long-Quân. Những điều này đều bởi cái tính "Lơ là" của hầu hết người Việt.

 Để nhận lại lịch sử rơ ràng hơn chúng ta bắt đầu:

 

 Sử Việt-Nam.

 

 Trong lịch-sử người Việt ai cũng biết họ Hồng-Bàng là họ của vua Hùng-Vương, chuyện đó không sai, gịng họ này bắt đầu từ thời nào?Đó là điều mà tất cả người Việt đều cần biết, theo quyển Việt-Nam sử-lược của ông Trần-trọng-Kim viết, vua Hùng-Vương bắt đầu từ thời con của Sùng-Lăm và Bà Âu-Cơ, theo sử ghi chép, vua truyền theo tục phụ đạo (lấy họ cha) trên thực tế là cha truyền con nối, nhưng sự thực không phải là họ Sùng mà là họ Đế của Bà Âu-Cơ, Lạc-long-Quân không muốn thấy t́nh trạng này tiếp diển trong tương lai, nên Ông đặt luật :"Người làm vua gọi là Hùng-Vương, mang họ Hồng-Bàng, truyền nhau được 18 đời, và tôi tạm gọi đây là luật Hồng-Bàng, v́ đây bắt đầu thể chế cho nước Văn-Lang.

 Sử chép vua Đế-Minh Nam du lấy nàng tiên sinh ra Lộc-Tục, sau Đế-Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế-Nghi làm vua phương Bắc, và Lộc-Tục làm vua phương Nam, từ điểm này ta nhận thấy, vua phương Bắc theo phụ-hệ, vua phương Nam theo mẩu-hệ, v́ Đế-Nghi theo họ cha, Lộc-Tục theo họ mẹ, Lộc-Tục cưới vợ sinh con là Sùng-Lăm, họ Sùng là họ của mẹ, Sùng-Lăm cưới Âu-Cơ (con của Đế-Lai), vậy con của họ phải là họ Đế. Xét theo gia phả gịng họ Đế, chúng ta thấy Bà Âu-Cơ gọi Sùng-Lăm bằng chú. Xét theo mẩu-hệ phương Nam, Sùng-Lăm và Âu-Cơ khác họ nên việc lấy nhau là chuyệnthường t́nh (cũng như ngày nay, hầu hết các nước Á-Châu như Việt Tàu Trung-Đông đều cho rằng anh em bạn d́ (Theo phụ hệ v́ đây là họ bên ngoại. Theo mẩu hệ th́ Sùng-Lăm và Âu-Cơ thuộc về họ bên ngoại nên ưng nhau là chuyện b́nh thường, v́ 2 người đều khác họ), bởi Trần-trọng-Kim nh́n Sùng-Lăm và Âu-Cơ theo quan niệm phụ-hệ của phương Bắc th́ không hợp lư, nh́n theo mẫu hệ của phương Nam, hai người đều khác họ, mặc dù họ là cháu của Đế-Minh (Sùng-Lăm gọi Đế-Minh là "ông ngọai"theo mẩu hệ, c̣n Âu cơ gọi Đế-Minh là cố nội, theo phụ hệ), nên Trần-trọng-Kim hỏi đây có phạm đến luân thường đạo lư không?Chứng tỏ Trần-trọng-Kim chưa phân rơ tập tục giữa "phụ hệ và mẩu hệ". V́ thời đó dân Việt theo mẩu-hệ, con sinh ra đều mang họ mẹ, c̣n trong triều đ́nh truyền ngôi vua chỉ truyền cho người nam, nếu cứ theo tập tục dân gian th́ các triều đại sau luôn luôn đổi họ, bởi thế khi Sùng-Lăm lên ngôi vua, Ông mới có luật "Người làm vua gọi là Hùng-Vương mang họ Hồng-Bàng", nên mới có họ Hồng-Bàng bắt đầu từ thời vua Hùng-Vương thứ nhất và duy nhất để chỉ rỏ "Hồng-Bàng" là họ của nhà vua, có nghĩa là anh em cùng nhà vua cũng không được mang họ Hồng-Bàng mà vẩn phải mang họ mẹ, như vậy họ Hồng-Bàng chỉ có 18 vị vua Hùng-Vương được mang họ "Hồng-Bàng" mà thôi.

 Đây là một quan điểm chính trị tuyệt đỉnh mà Lạc-long-Quân Sùng-Lăm đặt ra trong xă hội theo mẩu hệ, nhầm ổn định chế-độ quân chủ thời đó, ta có thể hảnh diện Sùng-Lăm là Ông Tổ của ngành "Luật Việt-Nam", những người trí thức Việt-Nam có nh́n thấy tư tưởng của Ông Tổ của ḿnh không, mà lúc nào cũng tự ti mẵc cảm ḿnh cần phải học theo tư tưởng Trung-Hoa, có biết Lạc-long-Quân là một tưởng vĩ đại nhất không?V́ tính thuần lương của Sùng-Lăm, nên khi lên ngôi vua Ông chỉ lấy vương hiệu là Lạc-long-Quân, Ông không dùng đến từ "Đế hoặc Vương"như các thế lực triều khác, nên nước Văn-Lang có thời thịnh vượng, v́ không có chiến tranh, dân gian sống thời thật thái b́nh, với quan điểm của thời vua Nghiêu vua Thuấn và Chu-văn-Vương (vua đầu tiên thời Tây Chu) bên Tàu.

 Trong thời Chu-văn-Vương, Sùng-Lăm có lần đi sứ qua Tây-Chu triều kiến Chu-Công (Chu-văn-Vương), nên nhận biết t́nh h́nh Tây-Chu, Chu-văn-Vương có 100 người con, nên khi về nước vào lúc thay vua cha Lộc-Tục Kinh-dương-Vương lên làm vua, Sùng-Lăm lấy vương hiệu là Lạc-long-Quân, cưới con gái Đế-Lai là Bà Âu-Cơ sinh ra một bộc trăm trứng nở ra 100 người con, đây như một chuyện cổ tích hoang đường không có thật, nhưng về mặt chính trị nhận xét, chúng ta thấy là chuyện có thật, v́ 100 người con này gồm cả những người con nuôi, như chuyện vua Chu-văn-Vương bên Tây-Chu.

 Như một thông điệp cho 15 bộ lạc nước Văn-Lang biết:"Lạc-long-Quân trị nước như Chu-văn-Vương, đây là một h́nh thức chính trị của Lạc-long-Quân, Ông không tuyên bố nhưng hành động của Ông cả nước Văn-Lang đều nhận rơ và tin rằng : "Đạo đức của Lạc-long-Quân chẳng khác ǵ Chu-văn-Vương". Đồng thời cũng trong luật Hồng-Bàng khiến Bà Âu-Cơ không vui, nên xẩy ra chuyện Bà Âu-Cơ dẩn 50 con lên núi (núi ở đây là núi vùng Bách-Việt, thuộc tỉnh Vân-Nam Quảng-Tây Quảng-Đông Trung-Hoa bây giờ) và Lạc-long-Quân dẩn 50 con xuống biển (biển ở đây là vùng Lạc-Việt, tức vùng châu thổ Bắc-Việt ngày nay) lập nước Văn-Lang. Điều này nói lên cho gịng họ Đế biết, nước Văn-Lang có một triều đại biệt lập không phụ thuộc vào Bắc phương. Đồng thời cũng để cho chúng ta thấy sự thông minh của Sùng-Lăm, Tổ của 18 vị Hùng-Vương, trị nước có phép tắc lấy chữ "B́nh" làm căn bản cho cả dân tộc Việt. Nhưng người Việt không vượt khỏi sự thông minh của Lạc-long-Quân mà vẩn c̣n tù túng trong quan niệm về dân tộc, v́ chưa nhận rơ dân tộc Việt thành h́nh từ đâu?Đây là sự thất bại của người Việt, chứ không phải là sự kiêu hùng của dân tộc, chung quy chỉ có sự khắc phục tạm thời để rồi chính tự dân tộc ḿnh dày xéo lẩn nhau qua nhiều thế hệ, rồi tạo sự dễ dàng cho ngoại bang xâm lấn, sự thực này trí thức Việt-Nam có nhận ra không ?Bởi thế khi đọc qua sử tôi mạo mụi lên tiếng "Nước Văn-Lang lập quốc từ năm nhâm tuất 1079tcn đến năm qúy măo 258tcn (1079tcn-258tcn là 821 năm cho 18 đời vua Hùnh-Vương, mổi Ông trị vị khoảng 45 năm) để phủ nhận quan niệm của ông Trần-trọng-Kim là năm nhâm tuất 2879tcn đến năm qúy măo 258tcn (2879tcn-258tcn là 2621 năm, mổi Ông trị vị 145 năm, qúa hoang đường), v́ dựa vào quyển sử chính Trần-trọng-Kim viết :"Việt Thường có 9 lần đến triều cống Chu-thành-Vương (1115tcn-1079tcn), điều này nói rơ thêm nước văn-Lang lập quốc cùng thời Tây Chu bên Tàu. Quan niệm và tập tục Văn-Lang thời Lạc-long-Quân tựa như Chu-vơ-Vương (con của Chu-văn-Vương), vị vua diệt vua Trụ nhà Thương chính thức lập lên Tây-Chu, vua coi dân như cha mẹ, dân trọng vua như bậc thánh hiền. Đời vua Hùng-Vương là triều đại lâu dài nhất của dân tộc Việt-Nam, trị quốc với quan niệm nhơn-ḥa, thực hiện tam b́nh "Thanh-b́nh, Ḥa b́nh và Thái-b́nh", khác với quan niệm thống trị của người Hán trong học thuyết "Trung hiếu" và "Tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ"(v́ trong gia đ́nh thường bao che con cái, chính lư do này tạo cảnh cường hào ác bá, trong xă hội đạo trung hiếu là đầu mối tạo tạo nên những giai cấp chuyên chế, độc tài, bởi thế nước Trung-Quốc ngày nay vẩn là một đế quốc độc tôn trong thời buổi tôn trọng Tự-do, Dân-chủ, Dân-quyền ngày nay).

 

Sơ lược lịch-sử Việt-Nam.

 

Họ Hồng-Bàng (2879tcn-258tcn, theo sử kư Trần-trong-Kim). Đế-Minh cháu 3 đời vua Thần-nông đến núi Ngủ-Lĩnh (Hà-Nam) gặp tiên sinh con Lộc-Tục, Đế-Minh truyền ngôi cho con trưởng Đế-Nghi làm vua phương Bắc, và Lộc-Tục làm vua phương Nam, Lộc-Tục xưng là Kinh-dương-Vương lấy quốc hiệu là Xích-Qũy, nước Xích-Qũy bắc giáp hồ Động-Đ́nh, nam giáp Hồ-Tồn (Chiêm-Thành), tây giáp Ba-Thục, nam giáp biển Nam-Hải, Kinh-dương-Vương là thủy tổ Bách-Việt, lấy con gái Động-đ́nh-Quân là Long-Nữ sinh Sùng-Lăm. Sùng-Lăm lên ngôi xưng là Lạc-long-Quân. Lạc-long-Quân cưới con gái Đế-Lai tên là Âu-Cơ sinh ra một lần 100 đứa con, sau khi các con lớn lên, Lạc-long-Quân nói với Âu-Cơ"Ta là giống rồng nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau chung hợp thật khó", bèn từ biệt nhau, Âu Cơ dẩn 50 con lên núi, Lạc-long-quân dẩn 50 con xuống biển", lập lên nước Văn-Lang, gồm 15 bộ-lạc:

1-Giao-Chỉ (Hà-nội, Hưng-yên, Nam-định, Ninh-B́nh).

2-Vũ-Ninh (Bắc-Ninh). 3-Phúc-Lộc (Sơn-Tây).

4-Việt-Thường (Quảng-B́nh, Quảng-Trị).

5-Chu-Diên (Sơn-tây). 6-Ninh-Hải (Quảng-Yên).

7-Dương-Tuyền (Hải-Dương). 8-Lục-Hải (Lạng-Sơn).

9-Vũ-ĐỊnh (Thái-Nguyên, Cao-Bằng). 10-B́nh-Văn ( ? ).

11-Cữu-Châu (Thanh-Hóa). 12-Cữu-Đức (Hà-Tỉnh).

13-Tân-Hưng (Hưng-Hóa, Tuyên-Quang).

14-Văn-Lang (Bạch-Hạt tỉnh Vỉnh-Yên).

15-Hoài-Hoan (Nghệ-An).

Vua đóng đô ở Phong-Châu, đặt luật lệ triều chánh, con trai gọi là "quan-hùng", con gái gọi là "mỵ-nương", tướng văn gọi là "lạc-hầu", tướng vơ gọi là "lạc-tướng", truyền ngôi cho con trưởg lên làm vua gọi là Hùng Vương, truyền nhau được 18 đời vua đều gọi là Hùng-Vương.

 

 Trong 18 đời vua Hùng-Vương có 2 sự tích được truyền tụng trong dân gian:

1-Thời Hùng-Vương thứ 6 có tích bé thần đồng ở làng Phù-Đổng cởi ngựa sắt đánh dẹp yên giặc Ân rồi bay về trời, dân làng ghi nhớ công lập miểu thờ Phù-Đổng-Thiên-Vương để tạ ơn ngài.

"Thời vua Trụ bên Tàu là nhà Thương c̣n gọi là Ân-Thương(1751 tcn-1111tcn) có thể giặc Ân là giặc của triều đại này, nhưng nếu tính từ năm 2879tcn đến năm 1751tcn có tất cả là 1128 năm chung cho 5 đời Hùng vương"vậy mổi đời trị vị 225 năm, hoang đường hơn con số 145 năm cho mổi vua Hùng-Vương được ghi lại như Ông Trần-trọng-Kim.

2-Thời Hùng-Vương thứ 18 có tích "Sơn-tinh thủy-tinh". Thủy tinh v́ đem xính lễ đến trể nên không cưới được Mỵ-nương đem ḷng thù hận, dùng phép thuật làm nước sông dâng lên, ư muốn làm ngập núi để đánh với Sơn-tinh, kỳ thực là thề quyết diệt Văn-Lang. Sau này chính Thục-Phán người Ba-Thục đánh bại vua Hùng-Vương 18, chấm dứt triều đại Văn-Lang.

 

 An-dương-Vương(258tcn-207tcn).

Vua Thục xin cưới hỏi Mỵ nương không được bèn đem ḷng thù hận vua Hùng-vương, quyết ḷng trả thù Văn-Lang, đến đời sau Thục-Phán người Ba-Thục, khi lên ngôi đem quân đến đánh Văn-Lang, Hùng-Vương 18 thua nhảy xuống giếng tự tử, Thục-Phán lên ngôi xưng là An-dương-Vương, trị vị 50 năm đổi tên nước là Âu-Lạc, đóng đô tại Phong-Khê, bắt dân xây thành Cổ-Loa. Có Cao-Lổ chế được cái nỏ liểu bắn 1 phát ra 10 mũi tên, tạo thế quân rất mạnh, nhưng sau nhà vua bạc đải Cao-Lổ, Cao-Lổ bỏ vua, vă lại Mỵ-Châu(con An-dương-Vương) có tư thông cùng Trọng-Thủy (con Triệu-Đà) nhân đó phá hư nỏ thần, tạo thế để Triệu-Đà đem quân diệt Âu-Lạc rồi lập lên nhà Triệu.

 

 Nhà Triệu. (207tcn-111tcn).

1-Triệu-Đà (207tcn-137tcn). Bên Tàu Tần-thủy-Hoàng năm thứ 26 thống

nhất TQ (221tcn). Năm thứ 33 (214tcn), chiếm lấy Dương-Việt, dùng Nhâm-Ngao làm kư quận Nam-Hải, dùng Triệu-Đà làm lệnh quận Long-Xuyên, đến đời Tần-nhị-Đế (Hồ-Hợi) Nhâm-Ngao mất, Triệu-Đà lên thay. Sau khi nhà Tần bị Tây-Hán diệt (206tcn), Triêu-Đà chiếm Quế-Lâm và Tượng-Quận, năm 207tcn Triệu-Đà tự xưng Nam-việt-Vương. Năm 206tcn Lưu-Bang diệt Tần, thống nhất Trung-Hoa xưng Hán-cao-Tổ(206tcn-195tcn), măi đến năm 196tcn Lưu-Bang sai Lục-Gỉa sắc phong Triệu-Đà làm Nam-Việt-Vương. Đến năm mậu-ngọ 183tcn, Vơ hậu cầm quyền Hán triều, cho người đến khuyên dụ lần nữa, Triệu-Đà mới chịu thần phục nhà Hán, Ông mất năm 137tcn, tương truyền ông sống 122 tuổi, truyền ngôi cháu đích tôn tên Hồ.

2-Triệu-văn-Vương(137tcn-125tcn). Tên Hồ cháu Triệu-Đà lên ngôi được 2 năm, vua Mân-Việt (Phúc-Kiến) đem quân sang đánh, Triệu-văn-Vương cầu viện nhà Tây-Hán, Hán-vũ-Đế (140tcn- 86tcn) sai Vương-Khôi và Hàn-an-Quốc sang đánh và giết vua Mân-Việt, c̣n sai Trương-Trợ dụ về chầu Hán đế bên Tàu, vua cho thái tử Anh-Tề đi thay, Anh-Tề sống tại Hán triều 10 năm, đến năm 125tcn Triệu-văn-Vương mất, làm vua được 12 năm.

3-Triệu-minh-Vương(124tcn-113tcn). Tên là Anh-Tề vợ là Cù-Thị có con là Hưng, trở về làm vua xưng Triệu-minh-Vương, phong Cù-Thị làm hoàng hậu, Hưng làm thái tử, làm vua được 11 năm.

4-Triệu-ai-Vương(113tcn-112tcn). Tên là Hưng làm vua được 1 năm, thái hậu Cù-Thị đă tư thông với An-quốc thiếu qúy trước khi lấy Anh-Tề, khuyên Triệu-ai-vương nên triều cống nhà Hán và qua Tàu chầu vua Hán, thừa tướng Lữ-Gia can giáng vua không nghe lời mà c̣n nghe theo thái hậu Cù-Thị lập mưu giết Lữ-Gia. Lữ-Gia biết được làm loạn, Hán-vũ-Đế (140tcn-86tcn) bên Tàu sai Hàn-thiên-Thu đem 2. 000 quân sang đánh Lữ-Gia, Lữ-Gia cùng em trai và dân chúng giết Cù-Thị và vua (tức Hưng con riêng Cù-Thị và An-quốc thiếu qúy) cùng sứ gỉa Tàu, lập con trưởng Triệu-minh-Vương là Vệ-dương-Hầu lên ngôi vua.

5-Triệu-dương-Vương(112tcn-111tcn). Tên Kiến-Đức (con của Triệu-minh-

 Vương và vợ là người Nam-Việt) cũng gọi Triệu-vệ-Vương làm vua được 1 năm, Hán-vũ-Đế sai Phục-ba tướng quân là Lộ-bác-Đức lănh bộ binh vàDương-Bộc lănh thủy binh đem 5 đạo quân đánh chiếm Nam-Việt và đặt là Giao-Chỉ bộ chia làm 9 quận, đặt quan cai trị như các châu huyện bênTàu. Trong sách sử Trung-Hoa Dân-Quốc (QDĐ/TH) ghi:"Nước Nam-Việt gồm Quảng-Đông, Quảng-Tây và Bắc phần Việt-Nam bây giờ". Hán-vũ-Đế b́nh định Nam-Việt, áp chế sách lược cai trị hà khắc, nên dân t́nh ở đây không ổn định. (Khi ta đọc đến Bà Triệu-thị-Trinh khởi dậy đánh quân Đông-Ngô, Bà nói với anh:"Tôi muốn cởi gió đáp đường sóng biển, chém cá tràng ḱnh ở Biển Đông", điều này cho thấy từ thời Hán-vũ-Đế (tây Hán) đến hhét đời Đông-Hán bị diệt bởi Tào-Phi nhà Ngụy năm 220, nhà Hán vẩn chưa ổn định vùng đất Nam-Việt (Quảng-Đông, Quảng-Tây, Bắc phần Việt-Nam). Cớ ǵ Trung-Quốc ngày nay lại nói :"Biển Đông-Nam thuộc về Trung-Quốc từ thời Hán-vũ-Đế ? Lời nói của Bà Triệu thị-Trinh năm 248 cho chúng ta thấy :"Lănh thổ Nam-Việt bắc liền cả vùng Đông-Nam-Á, là vùng biển tự do đi lại của dân tộc Việt-Nam, và ranh giới nhà Hán chưa qua khỏi Quảng-Đông, Quảng-Tây).

 Từ đây dân tộc Việt bước vào thời kỳ nô lệ trên ngàn năm.

 

Thời kỳ Bắc thuộc.

 

A- Bắc thuộc lần thứ I. (111tcn-40cn).

Cuộc khởi nghĩa Trưng-Trắc Trưng-Nhị(40cn-43cn).

 Trong thời Bắc thuộc, các quan lại đều là người Tàu, dân Việt chỉ làm nô lệ, sau khi Hán-vũ-Đế mất (140tcn-86tcn), kế đến Hán-chiêu-Đế, Hán-tuyên-Đế, thế lực Tây-Hán suy yếu dần, triều chánh đều nằm trong tay anh em Vương thái hậu, quyền hành đều nằm trong tay người cháu Vương-Mảng, Vương-Mảng xoán ngôi diệt Tây-Hán, đổi quốc hiệu là Tân, thường gọi là Tân-Mảng (8cn-25cn). Tôn thất nhà Hán, Lưu-Tú, dẹp yên Vương-Mảng, lập lên Đông-Hán đóng đô ở Lạc-Dương (Tây-Hán đóng đô ở Trường-An), Lưu-Tú lên ngôi, Đông-Hán Quang-vũ-Đế (25cn-58cn), tại VN Tô-Định làm thái thú tàn ác hung bạo giết Thi-Sách, chồng Trưng-Trắc, người huyện Châu-Điền con quan Lạc tướng. Trưng-Trắc cùng em Trưng-Nhị người Mê-Linh làng Hạ-Lôi huyện Yên-Lăng tỉnh Phúc-Yên, con gái quan Lạc-tướng (vơ tướng thời Hùng-Vương), nổi lên ở Phong-Châu đánh giết Tô-Định, các dân ở Cửu-Chân và Nhật-Nam hưởng ứng cùng khởi nghĩa chiếm được 65 thành ở ng̣ai phía Nam nhà Đông-Hán, xưng vương năm 39cn đóng đô ở Mê-Linh. Năm 40cn Hán triều sai Mă-Viên đến đánh, năm 42cn Mă-Viện tiến đánh Lăng-Bạc 2 Bà thế cô cầm cự không nổi bèn rút về Cẩm-Khê, năm 43cn Hai Bà cùng tuẩn-tiết tại Hát-Giang.  

HAI BÀ TRƯNG


Ngược ḍng lịch-sử của bốn ba.
Hai bà Trưng đứng lên khởi nghĩa.
Từ Phong-châu dựng cờ cứu nước.
Cửu-chân Nhật-nam cũng một ḷng.
Giết Tô-Định trả mối thù chồng.
Giúp dân t́nh dựng lại quốc-gia.
Lấy Mê-linh làm nơi dựng nước.
Tự xưng ḿnh vua nước Việt-nam.

Với khí thế dân t́nh lúc đó.
Sáu mươi lăm thành Bà chiếm được.
Bên Tây-Hán tỏ ra lo lắng.
Sai Mă-Viện thống lănh ba quân.
Vi thế côi khó phương chống cự.
Nên rút về cố thủ Cẩm-Khê.
Rồi chạy đến Hạt-Môn cầm cự.
Sau cùng tuẩn-tiết tại Hát-Giang.
 
Tưởng công Bà dân ta ghi nhớ.
Hằng năm ngày sáu tháng hai âm.
Lễ tưởng niệm trang nhả linh đ́nh.
Để tỏ ơn một ḷng kính mếm.
Cũng nói lên tấm ḷng yêu nước.
Giới nữ nhi khí phách hùng anh.
Truyền đến đời sau con cháu rơ.
Việt-Nam ta có nữ anh tài.

Được-Lời (LKC) 

B-Bắc thuộc lần thứ II. (43cn-588cn)

1-Nhà Đông-Hán. (25cn-220cn). Sau cuộc khởi nghĩa của 2 Bà Trưng, Giao-Châu trở lại thời nô lệ như xưa, quan lại cai trị tàn ác và bạc đăi người bảnxứ, măi đến cuối thời Hán-linh-Đế(168-189) mới có Lư-Tiến lên làm thứ sử ở Giao-Chỉ xin vua Đông-Hán cho người bản xứ làm quan như người Hán, vua Hán đồng ư cho làm quan tại bản xứ mà thôi, sau lại có Lư-Cẩm làm lính tục-vệ hầu vua ở trong điện xin vua Hán cho người Giao-Chỉ làm quan như dân Hán, từ đây người Việt được dự vào các chức quan lại trong nguồn máy cai trị của Đông-Hán.

 Sĩ-Nhiếp (187-226) là quan thái-thú ở Giao-Chỉ từ năm 187, lúc này ở Giao-Chỉ loạn lạc khắp nơi, dân t́nh không yên, Sĩ-Nhiếp b́nh định được giặc ngoài, bên trong trị dân có phép và chăm sự dạy bảo dân lành, Sĩ-Nhiếp cùng các anh em của ông chia nhau mà cai trị các châu khác, thời thế thật sự thái-b́nh, ḷng dân cảm phục, bởi thế trong sử có ghi:"Việt-Nam có văn hóa bắt đầu từ thời Sĩ-Nhiếp". Trong giai đoạn này, thời Hán-linh-Đế giặt "Khăng vàng" nổi lên, loạn lạc khắp nơi, sau khi Hán-linh-Đế chết, Đổng-Trác lộng quyền nắm giữ binh quyền trong tay, tự lập lên Hiến-Đế và chuyên chế triều chánh, sau này Đổng-Trác bị giết, Tào-Tháo lên thay, đem Hiến-Đế chuyển về Hứa-Huyện, rồi sau đó Hiến-Đế bị Tào-Phi (con Tào-Tháo giết rồi tự xưng vương, đổi quốc hiệu là Ngụy-Quốc. Đông-Hán bị diệt năm 220cn. Từ đây bên Tàu thế lực phân chia:Bắc thuộc họ Tào gọi là Bắc- Ngụy, đông có Tôn-Quyền thuộc Đông-Ngô, cai quảng dọc theo các tỉnh ven biển, tây có Tây-Thục thuộc gịng họ Lưu-Bị.

 Năm 226 (năm thừ 5 Tôn-Quyền làm vua Đông-Ngô) Sĩ-Nhiếp mất, con ông là Sĩ-Huy tự phong làm thái thú, sau Đông-Ngô đến cai trị đưa Lục-Dần làm thái thú Giao-Châu thay Sĩ-Huy.

2-Đời Tam-quốc. (220cn-265cn). Tôn-Quyền nước Đông-Ngô thống trị nước ta, dân t́nh khổ sở. Năm 248 sai Lục-Dần làm thứ sử Giao-Châu, có bà Triệu thị-Trinh người huyện Nông-Cống ở cùng với anh là Triệu-quốc-Đạt, trong nhà chị dâu độc ác ng̣ai th́ quân Tàu hung dữ hà hiếp dân lành, bà tức giận giết chị dâu vào rừng tụ hợp nghĩa quân hơn ngàn người, lúc đó Bà chỉ 20 tuổi, bà khuyên anh cùng nổi dậy chốngTàu, người anh lại khuyên Bà không nên làm vậy, Bà có nói"Tôi muốn cởi gió đạp đường sóng dữ, chém cá tràng ḱnh ở biển Đông, chứ không bắt chước người đời cúi đầu c̣ng lưng làm t́ thiếp người ta". Năm 248 người dân không chịu được sự hung ác của quân Đông Ngô, nên Triệu-quốc-Đạt mới nổi dây chống Đông Ngô, Triệu-thị-Trinh bèn đem quân ra giúp anh ḿnh, lúc này quân dân tôn bà làm Nhụy-kiều tướng-quân, bà làm chủ soái thống lảnh ba quân đánh với quân Tàu hơn 6 tháng, ví thế cô bà bị vây ở xă Bồ-Điền, và tự tử chết tại đây. Về sau Nam-Đế nhà Tiền Lư khen Bà là người trung nghĩa sai lập miếu thờ tại xă Phú-Điền huyện Mỹ-Hóa tỉnh Thanh-Hóa ngày nay.

 Qua 2 cuộc khởi nghĩa của 2 Bà-Trưng, Bà-Triệu, cho ta thấy trong dân gian kính trọng người phụ nữ như thế nào, lúc nào cũng tôn lên làm soái tướng hoặc là vua, v́ xă hội trong thời này vẩn c̣n duy tŕ phong tục "mẩu hệ", ḷng người kính trọng người phụ nữ hơn.

3-Nhà Tấn. (265cn-420cn). Sau khi b́nh định được thế Tam quốc (Lưu-Bị, Tôn-Quyền và Tào-Tháo, Tư-mă-Chiêu, con Tư-mă-Ư, lên làm vua lập lên nhà Tấn). Trong thời kỳ nay v́ bên Tàu loạn lạc t́nh h́nh nhà Tấn không được ổn định giặc gỉa khắp nơi, bởi thế ở Giao-Châu tùy vào các quan thái thú, đời sống dân gian vẩn bị hà hiếp khổ cực.

 Thời đó nước Lâm-Ấp (Chiêm-Thành) thường hay quáy nhiểu Giao-Châu, quan quyền chỉ lo việc chống ngoại xâm, năm 420 Đổ-tuệ-Đô cử binh b́nh định Lâm-Ấp, nhưng đối với dân Giao-Chỉ sự cai trị của nhà Tấn cũng như các thời Đông-Hán Đông-Ngô, quan lại tham ô hà hiếp dân lành, dân t́nh khổ sở loạn lạc khắp nơi. Lúc này bên Tàu được phân quyền cai trị bởi Nam-Bắc Triều.

4-Nam Bắc Triều. (420cn-588cn). Nhà Tấn thua, Nam-Bắc triều thay thế, năm 433 vua Lam-Ấp Phạm-dương-Mại viện lư do đem lễ vật sang tấn cống nhàTống và xin cai trị Giao-Châu, vua Tống không bằng ḷng, bở́ vậy quân Chiêm-Thành thường đem quân sang cướp phá quáy nhiễu Giao-Châu. Năm 479 nhà Tống mất, nhà Tề kế nghiệp trị vị được 22 năm th́ nhà Lương lên thay, nhà Lương sai Tiêu-Tự làm thứ sử Giao-Châu, Tiêu-Tự tàn ác hung bạo khiến đời dân khổ sở, thời này có ông Lư-Bôn(Lư-Bí) thấy bất b́nh nổi lên đánh nhà Lương.

 

*Lư-nam-Đế (544-548). Lư-Bôn người Tàu sống ở Giao-Châu 7 đời nổi lên diệt Tiêu-Tự, lănh đạo dân quân địa phương chống lại nhà Lương, chỉnh sang mọi việc, tính cơ nghiệp lâu dài, năm 543 Lâm-Ấp sang cướp phá, ông sai Phạm-Tu vào đánh tại Cữu-Đức(Hà-Tỉnh), quân Lâm-Ấp thua chạy. Năm 544 ông tự xưng là Nam-Việt-Đế lấy quốc hiệu là Vạn Xuân. Năm 545 nhà Lương đem quân sang đánh, Lư-Bôn bỏ chạy về đất Phong-Châu (Vĩnh-Yên), cầm cự hơn 1 năm ông trao binh quyền cho tả tướng quân Triệu-quang-Phục, ông trở về Khuất-Liêu ở măi đến năm 548 ông mất.

 

*Triệu-Việt-Vương (548-557). Triệu-quang-Phục được tin Lư-Bôn mất, lúc này bên Tàu nhà Lương đang loạn, Triệu-quang-Phục thừa thế đánh đuổi quânLương chiếm thành Long-Biên, tự xưng Triệu-Việt Vương, c̣n anh của Lư-Bôn là Lư-thiên-Bảo và người bạn cùng họ Lư-phật-Tử bị quân Lương đánh bạichạy sang đất Lào đóng ở động Dă-Năng xưng là Đào-lang-Vương lấy quốc hiệu là Dă-Năng.

 

 Nhận định :

T́nh cảnh này tựa như Hồ-chí-Minh sống tại hang Pác-Bó ở Lào, nước có loạn th́ chạy ra nước ngoài chiêu tập cần vương, Như vua Bảo-Đại, t́nh h́nh 1954 không yên th́ Bảo-Đại chạy qua Pháp để điều hành Quốc-Gia Việt-Nam. Như Tổng Thống Nguyễn-Văn-Thiệu, Miền-Nam chưa mất th́ rời bỏ Việt-Nam chạy ra nước ngoài lánh nạn, chẳng khác ǵ tên lính đào ngũ, riêng Ông Thiệu tôi đă tŕnh bày, Ông là người đâm sau lưng chiến sĩ VNCH, là tên Việt cộng nằm vùng, Ông có ư định tiêu diệt SĐ-22BB và SĐ-23BB trong lần rút quân khỏi Tây-Nguyên và mưu toan giết Tướng Ngô-quang-Trưởng trong lần rút quân QĐI khỏi Vùng I Chiến thuật cuối tháng 3/1975, Ông tự điều động QĐIII thay thế nhân sự QĐII mới thua trận từ Vùng II Chiến thuật trở về để dàn xếp một cuộc ám sát Tướng Tướng Nguyễn-văn-Hiếu, Tư lệnh phó QĐIII, mở đường cho Việt cộng tấn công vào Sài-G̣n, đồng thời gây hoang man cho Vùng III và Vùng IV Chiến thuật bởi sự giải tán Chính phủ Trần-thiện-Khiệm trong đầu tháng 4/1975, và sự ra đi của Thiệu-Khiên-Quang trong ngày 25/4/1975 là một báo hiệu cho nhân dân Miền Nam Việt-Nam rối loạn, làm điều kiện tốt để Việt cộng tấn công. Các ngài HCM, Bảo-Đại, Thiệu là họ người Hoa ư.

 Năm 555cn (năm thứ 7 Triệu-việt-Vương) Lư-thiên-Bảo mất, không có con binh quyền về tay Lư-phật-Tử.

 

*Hậu-Lư-nam-Đế. (571-602). Sau 2 năm Lư-thiên-Bảo mất. Năm 557 Lư-phật-Tử đem binh đánh Triệu-việt-Vương, đánh nhau mấy trận không phân thắngbại Lư-phật-Tử cầu ḥa, Triệu-quang-Phục nghỉ t́nh họ Lư nên chịu ḥa thuận lấy Băi Quân-Thần( làng Thượng-Các huyện Từ-Liêu) làm giới hạn, c̣n gả con gái cho Lư-phật-Tử để thông gia với nhau, (Trong giai đoạn từ năm 557 đến năm 571, dân Việt chịu bởi 2 thế lực, Triệu-quang-Phục và Lư-phật-Tử, nhưng dân vẩn sống trong ḥa-b́nh). Năm 571 Lư-phật-Tử th́nh ĺnh đem quân đánh Triệu-việt-Vương, Triệu-quang-Phục thua chạy đến sông Đại-Nha (Nam-Định) tự tử, sau này dân kính mến lập đền thờ Ông Triệu-quang-Phục ở Đại-Bồ huyện Đại-An để nhớ ơn. Lư-phật-Tử xưng vương, người đời gọi là Hậu Lư-nam-Đế(571-602) đóng đô ở Phong-Châu, sai Lư-đại-Nguyên giữ Long-Biên, sai Lư-phố-Đỉnh giữ Ô-Diên. Năm 602 bên Tàu nhà Tùy b́nh định Nam-Bắc triều xong, đem quân qua đánh Nam-Việt, Lư-phật-Tử xin hàng và chịu thần phục như xưa. Từ đây, Giao-Châu thêm 336 năm đô hộ của phương Bắc.

 

Nhận-định.

*Như ta nhận thấy từ đời vua Hùng-Vương, cuộc sống dân gian theo mẩu-hệ, rồi từ thời An-dương-Vương đến gịng họ Triệu-Đà(257tcn-111tcn) 146 nămtheo phụ-hệ, như vậy người Việt thật sự theo hệ nào trong đời sống dân-gian?Đọc qua 2 thời kỳ Bắc thuộc đầu tiên ta thấy, lần thứ I Bắc thuộc người lảnh đạo đánh Tàu là 2 Bà-Trưng(40-43), lần thứ II Bắc thuộc là bà Triệu-thi-Chinh mà ta quen gọi là Bà-Triệu đem binh ra giúp anh là Triệu-quốc-Đạt lại được toàn quân tôn làm"Nhụy-Kiều tướng-quân"thống lảnh toàn quân đánh Tàu, điều đó cho ta thấy, thời đó (248) uy quyền của phụ nữ rất cao trong xă-hội như trong gia-đ́nh Triệu-quốc-Đạt có vợ hung tàn độc ác khiến Bà Triệu tức giận giết chị dâu rồi vào rừng mộ binh đánh Tàu, sự kiện này đủ nói lên trong đời sống dân gian người Việt thời này vẩn theo mẩu hệ. Vậy ta nên đặt câu hỏi trong thời Thục-Phán và Triệu-Đà có thực là người Việt không ?V́ 2 triều đại này vẩn theo phụ hệ khác với đời sống của dân Lạc-Việt.

 

*Trong thời Tiền Lư (544-602) tính ra ta có 58 năm độc lập, nhưng v́ sự tranh quyền của 2 tên bất tài Lư-thiên-Bảo và Lư-phật-Tử (giặc đến đánh th́ chạy, khi đất nước yên th́ về dùng thủ đoạn tranh quyền), cuối cùng Lư-phật-Tử phải xin hàng nhà Tùy để được an nhàn khi quân Tùy đem binh sang đánh Nam-Việt, những người như Lư-thiên-Bảo và Lư-phật-Tử trong thời nào cũng có, làm sao ngăn chận được bọn này, lúc đó nước Việt-Nam mới tránh được chiến tranh, dân mới thật sự có thái b́nh.

 

-C-Bắc thuộc lần thứ III. (603cn939cn).

1-Nhà Tùy(589-617). Vua Tùy b́ết được nước Lâm-ẤP có nhiều vàng bạc, nên năm 605 vua Tùy sai Lưu-Phương sang đánh, Lưu-Phương bày mưu thắngđoàn quân hùng hậu có nhiều voi rừng của vua Lâm-Ấp Phạm-phạm-Chí tại sông Đồ-Lê, Lưu-Phương thắng trận và được nhiều vàng bạc châu báonhưng cuối cùng Lưu-Phương cũng bị bạo bệnh mà chết trên đường rút binh về nước.

2-Nhà Đường(618-907).

Nhà Tùy bị diệt, Lư-Nguyên thống nhất Trung-hoa lập lên nhà Đường, năm 621 sai Khâu-Ḥa làm tổng quản cai trị Giao-Châu, chia nước ta thành 12 châu để cai trị, luật lệ khắc khe và nghiêm ngặt hơn các triều đại trước, bởi thế đời dân rất khổ cực vả lại giặc cướp nổi lên khắp nơi từ Lâm-Ấp, Hoài-Vương(1)Nam-Chiếu(2) giặc bể(3) thường đem binh tới giết hai dân Việt, đời dân càng khổ thêm, cho nên dân ta thường bị các quan lại Tàu bắt làm nô lệ trong các đoàn quân đi dẹp loạn. Từ năm 864 nước Nam-Chiếu thường qua Giao-Châu cướp phá, quan lại địa phương không ngăn chận được, bắt đầu năm 860Nam-Chiếu đưa quân qua chiếm đất, nhà Đường có cho quân qua đánh nhưng khó thắng được quân Nam-Chiếu, măi đến năm 865 nhà Đường cử Cao-Biền sang làm tiết-độ-sứ và thống lảnh toàn quân, mới đánh lui quân Nam-Chiếu (866) ra khỏi Giao-Châu. Cao-Biền là tướng tài nhà Đường làm tiết-độ-sứ An-Nam, ông giỏi về quân sự, có tài văn chương, tinh thông địa lư, ông chỉnh đốn mọi việc ở Tinh-Hải (sau khi hàng phục được Nam-Chiếu nhà Đường đổi An-Nam là Tinh-Hải), sửa đổi thuế khóa xây đồn đấp lũy ở biên thùy, khai phá ghềnh thác chỉnh trang thủy lợi, xây thành Đại-La ở bờ sông Tô-Lịch, trị dân có phép, người dân rất kính nể, thường gọi ông là Cao-Vương, năm 875 ông được triệu hồi về làm tiết-độ-sứ ở Tây-Xuyên và cháu của ông là Cao-Tần làm tiết-độ-sứ Tinh-Hải.

 

 Chú thích:

*(1) Lâm-Ấp và Hoài-Vương là nước Chiêm-Thành sau này, thời Tùy Phạm-phạm-Chi là vua Lâm-Ấp, đến đời nhà Đường vua Lâm-Ấp là Phạm-đầu-Lê, Phạm-đầu-Lê mất, con là Phạm-trấn-Lang lên thay cũng bị giết, dân trong nước lập con của bà cô (Phạm-trấn-Lang có mẹ là họ Chư, nên em của mẹ thuộc gịng bên nội nên gọi là cô, đây là tập tục theo mẩu hệ, cho nên nguyên nhân Phạm-trấn-Lang bị ǵết do bởi thế lực muốn gịng họ Chư lên nắm quyền triều chánh) là Chư-cát-Địa lên làm vua, đổi quốc hiệu là Hoài-Vương quốc, nước Hoài-Vương đánh chiếm Châu-Hoan và Châu-Ai, năm 808 quân Đường đánh quân Hoài-Vương lui về giữ phía nam Quảng-nam Quảng-Ngăi bây giờ, từ đây đổi là Chiêm-Thành. Trong phần này ta thấy, con của em gái vợ Phạm-đầu-Lê là Chư-cát-Đạt, có nghĩa là mẹ và cô của Phạm-trấn-Lang là họ Chư, (v́ trong xă hội mẩu hệ Chiêm-Thành, người làm vua vẩn mang họ cha), v́ thế khi bà cô Phạm-trấn-Lang lên tiếng đưa con là Chư-cát-Địa lên làm vua thần dân đều ủng hộ và đổi quốc hiệu là nước Hoài-Vương. Điều này Lạc-long-Quân Sùng-Lăm đă thấy rỏ ngay từ đầu cái họa xă-hội mẩu-hệ khi người làm vua vẩn mang họ cha, nên đặt họ Hồng-Bàng chỉ dành riêng vuaHùng-Vương mà thôi, 821 năm cho một gịng họ làm vua mà đất nước không loạn lạc, chỉ duy nhất họ Ḥng-Bàng nước Văn-Lang, là một Triều đại dài nhất trong các triều đại ở vùng Đông-Á này.

*(2)Nam-Chiếu:Các tộc Thái ở phía Bắc Việt-Nam và Tây-bắc tỉnh Vân-Nam Tàu gồm có 6 chiếu, chiếu có nghĩa là vua, Mông-Huề, Việt Thác, Lăng-Khung, Đằng-Đan, Thi-Lăng, và Mông-Xá, Mông-Xá ở về phía nam nên gọi là Nam-Chiếu, Nam-Chiếu thế rất mạnh chinh phục 5 chiếu khác và xin hàng phục nhà Đường, Nam-Chiếu thường đem binh đi đánh Phổ-Thồn (Tây-Tạng) và Giao-Châu. Sau này đổi tên là nước Đại-Lư.

*(3) Giặc biển là nhóm người từ ngoài đảo Côn-lôn và đảo Đồ-Bà thường vào Giao-Châu đánh cướp dân làng.

*Mai-hắc-Đế. (722)

Năm 722 ở Hoan-Châu(Nghệ-An) có Mai-thúc-Loan nổi lên chống cự quan lại địa phương, chiếm được thành, xây thành đắp lũy, xưng là Mai-hắc-Đế hợp với Lâm-Ấp và Chân-Lạp làm ngọai viện chống lại quân Đường. Vua Đường sai Dương-tư-Húc và Quang-sở-Khách sang đánh, v́ thế cô nên bị thua mà chết, dân làng nhớ công ngài lập miếu thờ ở xă Hương-Lăm huyện Nam-Đường tỉnh Nghệ-An.

*Bố-Cái Đại-vương. (791).

Năm 791 ở quận Đường-Lâm(Sơn-Tây) có quan đô hộ nhà Đường Cao-chính-B́nh tàn ác dân lành, bắt dân sưu cao thuế nặng ḷng dân oán hận, ông Phùng-Hưng nổi lên đánh bại Cao-chính-B́nh và chiếm được thành tŕ, chỉ vài tháng sau ông bị bịnh mà chết, con là Phùng-An lên nối nghiệp cha. Tháng 7 cùng năm, nhà Đường cử binh sang đánh và dẹp yên. Dân gian tưởng nhớ công Phùng-Hưng lập miểu thờ cúng gọi ông là Bố-Cái-Đại-Vương. (bố nghĩa là cha, cái nghĩa là mẹ).

3-Đời Ngũ-Qúy(907-959).

Nhà Đường mất, bên Tàu chia ra Hậu-Lương, Hậu-Đường, Hậu-Tấn, Hậu-Hán, Hậu-Chu gọi là Ngũ-Qúy hay Ngũ-Đại, trong lúc này ở Giao-Châu họ Khúc dấy nghiệp.

*Khúc-thừa-Dụ (906-907).

Cuối đời Đường(906) các quan huyện vùng Giao-Châu làm loạn, dân gian bất an, dân bèn đề cử Khúc-thừa-Dụ làm tiết độ sứ, ông là người phú hộ biết lo và giúp đở dân lành, vua nhà Đường cùng thuận phong ông làm đồng binh chương sư. Năm 907 nhà Đường mất nhà Lương lên thay, phong Lưu-Ấn làn Nam-b́nh-Vương kiêm tiết độ sứ Quảng Châu và Tinh-Hải để cai trị Giao-Châu, Lưu-Ấn đóng phủ ở Phiên-Ngung, trong năm này Khúc-thừa-Dụ bị bệnh mất.

*Khúc-Hạo(907-917).

Năm 907 Khúc-thừa-Dụ mất con là Khúc-Hạo lên thay, chỉnh đốn mọi việc và chỉnh sang việc thuế, cho con sang Quảng-Châu làm thông hiếu nhưng cốt để thăm ḍ t́nh h́nh. Lưu-Ấn ở Phiên-Ngung được 4 năm th́ mất, em là Lưu-Cung (Lưu-Nham) lên thay, năm 911 Lưu-Cung tự xưng đế lấy quốc hiệu là Đại-Việt, măi đến năm 917 đổi là Nam-Hán.

Trong đoạn này (911-917) ta thấy Lưu-Cung có ư đồ thống trị dân Việt, nên lấy quốc hiệu là Đại-Việt, nhưng măi đến năm 917 Khúc-thừa-Mỹ không phục Lưu-Cung, nên Lưu-Cung đổi Đại-Việt thành Nam-Hán, đây là lối chính trị người Hán thường áp dụng. (không cần đánh để khuất phục đối phương, cũng như Triệu-Đà khi dẹp yên nhà Thục sát nhập 2 tỉnh Quảng-Đông, Quảng-Tây làm thành Nam-Việt. Chúng ta phải nhớ nước Văn-Lang đă phân ranh rơ ràng từ thời Sũng-Lăm Lạc-long-Quân, Vùng Bách-Việt đă hoàn về cho gịng họ Đế, cho nên năm 911 thấy Lưu-Cung xưng đế lấy quốc hiệu là Đại-Việt rồi thành Nam-Hán (917).

*Khúc-thừa-Mỹ. (917-923).

Năm 917 Khúc-Hạo mất, con Khúc-thừa-Mỹ lên thay, nhận biết được ư đồ Nam-Hán, nên nhận chức tiết độ sứ nhà Lương mà không thần phục Nam-Hán. Năm 923 Nam-Hán sai Lư-khắc-Chỉnh lănh bộ binh Lư-Tiến lănh thủy binh cùng tiến đánh Giao-Châu và diệt gịng họ Khúc (Gịng họ Khúc tuy không xưng vương, nhưng đă 17 năm (906-923) cùng dựng Văn-Lang để tránh họa Lưu-Cung đ̣ng hóa dân tộc Việt từ Đại-Việt thành Nam-Hán, ư đồ này chỉ có Khúc-thừa-Mỹ nhận ra, như vậy họ Khúc có phải là người Việt không ? 

 Đây nói lên tính thông minh của Khúc-thừa-Mỹ nào ai biết được.

Sử rằng chỉ có mấy câu.

Nào ai để ư biết đâu mà làm.

Ôi thôi sử qúa làm nhàm.

Người sau sao hiểu câu đàm sử gia.

 

*Dương-diên-Nghệ

               và Kiều-công-Tiển(931-938).

Năm 931 Dương-diên-Nghệ là tướng Khúc-Hạo mộ binh đánh lại Lư-khắc-Chỉnh và Lư-Tiến, tự làm tiết độ sứ Giao-Châu, đánh được 6 năm Dương-diên-Nghệ bị gia tướng là Kiều-công-Tiển giết và cướp lấy binh quyền, được tin cha vợ mất Ngô-Quyền đem binh chinh phạt.

 Trong giai đoạn này ta thấy Dương-diên-Nghệ đă bắt đầu ly khai nhà Lương và tự lănh đạo quân Giao-Châu chống lại Nam-Hán trong 6 năm liền. Đến đây chúng ta thấy có người nào họ Lê, Lư, Trần, Nguyễn nào đâu. Qua sử cho biết những người có quan niệm

 

*Ngô-Quyền phá quân Nam-Hán.

(938-939)

Kiều-công-Tiển cầu Nam-Hán giúp, quân Nam-Hán chưa kịp đến Ngô-Quyền đă bắt được Kiều-công-Tiển và giết. Vua Nam-Hán sai con là Hoàng-Thao lănh thủy binh tấn công từ sông Bạch-Đằng, Ngô-Quyền dùng cọc gỗ lớn đầu bọc sắt cấm dưới ḷng sông, chờ khi nước ṛng Ngô-Quyền tấn công, quân Nam-Hán loạn v́ thuyền tự nhiên bị ch́m, Hoàng-Thao bị loạn tên bắn chết trên sông Bạch-Đằng.

 

NGÔ-QUYỀN DỰNG NƯỚC


Làm tướng-quân giúp Dương-diên-Nghệ.
Đánh Kiều-công-Tiển chạy bỏ cờ.
Nam-Hán sai Hoàng-Thao đến giúp.
Chờ nước ṛng dụ địch tấn công.
Với cột gỗ trên đầu bọc sắt.
D́m dưới sông gài bẩy quân thù.
Thuyền Hoàng-Thao mắc mưu thụ địch.
Bị quân Quyền đánh ch́m vô số.
Thao bị giết trên sông Bạch-Đằng.
Thế là quân ta đà đại thắng.

Trong cái năm chín trăm ba chín.
Dân Việt ta dành lại chủ-quyền.
Dựng lên nước Việt-Nam độc-lập.
Với Ngô-Quyền rạng rở lừng danh
Đưa dân-tộc đến chổ vinh-quang.
Không c̣n sống cuộc đời nô-lệ.
Để đất nước thêm phấn rạng rỡ.
Dân-tộc ta đời đời ghi nhớ.

 

 Được-Lời (LKC)

 

Thời đại độc lập.

Nhà Ngô(939-965).

 

1-Tiền Ngô-Vương(939-944).

Ngô-Quyền đánh đuổi quân Nam-Hán, bắt đầu nền độc lập cho dân tộc Việt, đóng đô ở Cổ-Lao, năm 944 ông mất, được 47 tuổi, truyền ngôi lại cho con Ngô-xương-Xí lên thay, nhưng cậu là Dương-tam-Kha cướp ngôi lên làm vua xưng là B́nh-Vương. (945).

 

2-Dương-b́nh-Vương(945-950).

Dương-tam-Kha cướp ngôi vua của cháu Ngô-xương-Xí, Ngô-xương-Xí biết được chạy đến Nam-Sách(Hải-Dương) ẩn trốn tại nhà Phạm-lịnh-Công, lúc này thổ hào các nơi cũng nổi lên khắp nơi chiếm vùng tự trị, Dương-tam-Kha bắt em Ngô-xương-Ngập (Ngô-vương-Văn) làm con nuôi. Năm 950 ở Thái-B́nh(Tây-Sơn) có loạn, Dương-tam-Kha sai Ngô-vương-Văn cùng 2 tướng Dương-cát-Lợi và Đổ-Cảnh đem quân đi dẹp loạn, đi đến Từ-Liêm, Ngô-vương-Văn cùng 2 tướng ngược trở về

bắt Dương-tam-Kha, nở t́nh cậu cháu Ngô-vương-Văn không nể giết chỉ giáng xuống làm Trương-dương-công.

 

3-Hậu Ngô-Vương (950-965).

Năm 950 Ngô-vương-Văn lên làm vua xưng là Nam-tân-Vương cho người rước anh Ngô-xương-Xí về cùng làm vua, Ngô-xương-Xí xưng là Thiên-sách-Vương, thời này gọi là Hậu Ngô-Vương có 2 người cùng làm vua, nhưng chỉ vài năm sau Ngô-vương-Văn đem quân đánh trận bị chết(loạn 12 sứ quân), chỉ c̣n Ngô-xương-Xí làm vua 1 ḿnh măi đến năm 965 th́ mất.

 Qua đoạn sử này, chúng ta thấy gịng họ Dương lên ngôi vua, lư do v́ được người chị (Vợ Ngô-Quyền) ủng hộ, nói lên trong thời đầu lập quốc, nước Việt ta vẩn c̣n chịu ảnh hưởng của Xă hơi mẫu hệ, bởi thế sinh ra loạn 12 sứ quân.

 

Thập nhị sứ-quân(945-967).

 Ngô-Quyền mất, Dương-tam-Kha cướp ngôi vua của cháu (Ngô-xương-Xí), khiến thổ hào nổi lên khắp nơi (945) tự dựng một vùng gọi là sứ quân, về sau Ngô-vương-Văn khôi phục nghiệp củ, các sứ quân vẩn không chịu thần phục, Ngô-xương-Ngập phải lảnh binh chinh chiến liên tục bị chết tại chiến trường, Ngô-xương-Xí làm vua một ḿnh. Đất nước lúc này gồm có 12 sứ quân:

1-Ngô-xương-Xí giữ B́nh-Kiều, phủ Khoái-Châu (Hưng-Yên).

2-Đổ-cảnh-Đạt giữ Đổ-động-Giang, ở huyện Thanh-Oai.

3-Trần-Lăm tức Trần-công-Minh giữ Bố-hải-Khâu (Kỳ-Bố Thái-B́nh).

4-Kiều-công-Hản tức Kiều-tam-Chế giữ Phong-Châu (huyện Bạch-Hạc).

5-Nguyễn-Khoan tức Nguyễn-thái-B́nh giữ Tam-Đài (phủ Vỉnh Tường).

6-Kiều-Thuận tức Kiều-lịnh-Công giữ Hồi-Hồ (Cẩm-Khê Sơn-Tây).

7-Ngô-nhật-Khánh tức Ngô-lăm-Công giữ Đường-Lâm (Phúc-Thọ Sơn-Tây).

8-Lư-Khoe tức Lư-lang-Công giữ Siêu-Loại (Thuận-Thành).

9-Nguyễn-thủ-Thiệp tức Nguyễn-lịnh-Công giữ Tiên-Du (Bắc-Ninh).

10-Lữ-Đường tức Lữ-tả-Công giữ Tề-Giang (Văn-Giang Bắc-Ninh).

11-Nguyễn-Siêu tức Nguyễn-hữu-Công giữ Tây-phù-Liệt(Thanh-Tŕ Hà-Đông).

12-Phạm-bạch-Hổ tức Phạm-pḥng-Át giữ Đằng-Châu (Hưng-Yên).

 

Nhà Đinh (968-980).

 

*1-Đinh-thiên-Hoàng(968-979).

Đinh-bộ-Lĩnh là người Hoa-lư-Động (Ninh-B́nh), con ông Đinh-công-Trứ làm quan thứ sử dưới thời Dương-diên-Nghệ và thời Ngô-Quyền Vương, đến đầu Trần-minh-Công (Trần-Lăm), Trần-Lăm tin dùng và giao giữ binh quyền, sau Trần-Lăm mất, ông chiêu mộ thêm binh mă, hào kiệt khắp nơi hưởng ứng, năm 951 thời Hậu Ngô-Vương-Văn có đem binh sang đánh với Đinh-bộ-Lĩnh nhưng không thắng được, năm 965 Ngô-Vương (Ngô-xương-Xí) mất, Đinh-bộ-Lĩnh hàng được Phạm-bạch-Hồ (Phạm-pḥng-ÁT), phá được Đổ-cảnh-Thạc và các sứ quân khác đều thần phục, được tôn là Vạn-thắng-Vương. Năm 968 Đinh-bộ-Lĩnh Vạn-thắng-Vương lên ngôi Đinh-thiên-Hoàng quốc hiệu là Đại-cồ-Việt đóng đô ở Hoa-Lư, xây cung điện lập chế triều nghi, định phẩm hàm các quan văn vơ trong triều, phong Nguyễn-Bắc làm định-quốc-công, Lê-Hoàn làm thập đạo tướng quân, Đinh-Liễn làm Nam-quốc-Vương. Năm 970 đặt niên hiệu là Thái B́nh nguyên niên, đặt năm ngôi hoàng hậu, trong lúc này bên Tàu Triệu-khuôn-Dẩn đă lên làm vua lập lên nhà Tống (sau này gọi là Bắc Tống) đem quân xuống đánh Nam-Hán, Đinh-thiên-Hoàng muốn tránh việc chiến-tranh bèn làm thông hiếu (thuận việc triều cống) với nhà Tống, bên trong tổ chức lại quân cơ pḥng địch tấn công, tổ chức quân đội thành 10 đạo mổi đạo 10 vạn quân, trên thực tế nhà Đinh chỉ có 10 vạn quân đều dưới sự thống lănh của tướng quân Lê-Hoàn. Đinh-thiên-Hoàn bỏ trưởng lập ấu, cho con út Hang-Lang làm thái tử, con trưởng

Nam-quốc-Vương Đinh-Liễn bày mưu giết Hang-Lang. Năm 979 Đinh thiên-Hoàng và Việt-quốc-Vương bị Đổ-Tích giết chết, đ́nh thần bắt được Đổ-Tích trị tội và tôn Vệ-Vương Đinh-Tuệ làm vua. (Tục truyền Đổ-Tích nằm chiêm bao thấy sao trên trời rơi vào miệng, tưởng ḿnh có mạng làm vua nên Đổ-Tích chờ dịp Đinh-thiên-Hoàng say rượu ngủ mê rồi ra tay giết vua và giết cả Việt-quốc-Vương Đinh-Liễn, nhưng khi ta đọc tiếp sự t́nh ở sau ta thấy rơ:Đây là âm mưu củ Lê-Hoàn và bà Dương-thái-Hậu, v́ 2 người đă tư t́nh với nhau). Lúc xưa sử chép là thế, nhưng ngày nay chúng ta có nhận xét ǵ không?Một v́ vua thông minh như Đinh-bộ-Lĩnh cùng Đinh-Liển lại bị giết bởi tên Đổ-Tích vô danh này, trong khi đó Lê-Hoàn là đại tướng quân nhà Đinh lại tư thông với Hoàng hậu họ Dương, gịng họ có thế lực nhất từ thời Ngô-Quyền, cũng bởi cái quyền của phụ nữ trong thời buổi này, xă hội mẫu hệ, nên Hoàng hậu họ Dương trao quyền lănh đạo quốc gia cho Lê-Hoàn.

Kẻ dâm ô tục tằng có chước.

Bày mưu gian hăm hại Minh-quân.

Người đời đâu hiểu rơ chân t́nh.

Bởi sử viết theo lời Bạo chúa.

*2-Phế-Đế(979-980).

Đinh-thiên-Hoàng mất Đinh-Tuệ lên làm vua mới có 6 tuổi, mọi việc triều chánh đều ở trong tay Dương thái hậu và thập đạo tướng quân Lê-Hoàn, Lê-Hoàn cùng Dương-Hậu tư thông từ lâu, nhầm lúc bên Tàu nhà Tống đem quân sang đánh, quân Tống gần đến biên giới Lê-Hoàn sai Phạm-cự-Lương làm đại tướng đánh giặc Tống, trước khi xuất quân Phạm-cự-Lương tôn Lê-Hoàn lên làm hoàng-đế để khích lệ ḷng quân, cả đoàn quân đều tung hô ủng hộ, Dương hậu bèn đem ấn tín áo mảo của Đinh-thiên-Hoàng trao cho Lê-Hoàn, thế là Đại-cồ-Việt mất, Đại-Việt có triều đại mới, trong lịch sử ta gọi đây là Tiền-Lê. Như vậy nhà Đinh làm vua được 12 năm.

T́nh thế gấp kẻ khôn tạo thế.

Lấy thông minh che lấp gian tà.

Đời lẩn lộn thế cuộc gian manh.

Bưng bít măi triền miên sử sách.

 

Nhận định.

A-Trong 2 triều đại Ngô-Đinh, 2 ông vua đầu đều có vợ là họ Dương, trong thời vua Ngô, Dương-tam-Kha em vợ của vua cướp ngôi vua của cháu mới gây nên loạn 12 sứ quân, trong thời vua Đinh-thiên-Hoàng có vợ cũng họ Dương tư thông với Lê-Hoàn, bày ra chuyện Đổ-Tích nằm mơ ḿnh sẽ là vua rồi bày mưu sự giết vua, sau đó Lê-Ḥan lên ngôi vua với danh chánh ngôn thuận là vua châh chính do toàn quân đưa lên.

 Nhưng ngày nay với nhận xét của chúng ta đều thấy sự kiện này đều có liên quan đến người vợ họ Dương, cho ta thấy được trong thời đại này người phụ nữ vẩn c̣n ảnh hưởng đến quan niệm của một xă-hội mẩu hệ, và cũng chính từ "Xă hội mẫu hệ" sang "Xă hội phụ hệ", đấng chính trị "mày râu" đưa lên chiêu bài "ngàn năm nô lệ Tàu" để được sự ủng hộ toàn dân, rồi sau đó vẩn ung dung đón nhận tư tưởng Tàu để cai trị dân ḿnh, chẳng qua là "Nồi củ chỉ dung mới", "Phép vua thua lệ làng" là h́nh thức phong kiến của người Tàu ngày xưa, đạo "Trung hiếu" là tư tưởng gầy nên "Chính quyền quân chủ độc tài". Sao chúng ta không nghỉ lại thời lập quốc của nước Văn-Lang.

 B-Họ Hồng-Bàng là một thể chế chính trị được đặt ra bởi Sùng-Lăm trong một xă-hội theo mẩu-hệ, v́ trong xă hội mẩu hệ con sinh ra phải mang họ mẹ, người mẹ có nhiều ưu thế trong gia đ́nh, trong xă hội mẩu hệ người nam rất qúy trọng người nữ, nhưng trong lănh đạo quốc gia vẩn thuộc về người nam, dân tộc Việt-Nam ta có Kinh-dương-Vương  Lộc-Tục, vua thứ nh́ là Lạc-long-Quân Sùng-Lăm, nếu cứ thế mà tiếp tục th́ ta sẽ có nhiều họ khác nhau trong các đời vua kế tiếp, như thế triều đại dễ bị sụp đổ bởi quyền của người mẹ, muốn cũng cố cho triều đại lâu dài, nên Sùng-Lăm mới đặt luật lệ (luật lệ không thành văn), "người làm vua gọi là Hùng-Vương có họ là Hồng-Bàng", c̣n tất cả anh em khác vẩn theo họ mẹ, điều đó cho ta thấy triều đ́nh chỉ có 1 người duy nhất điều hành đó là vua Hùng-Vương, chính con đầu của Sùng-Lăm là vị vua Hùng-Vương đầu tiên mang họ Hồng-Bàng, như thế Sùng-Lăm không trái với luật xă-hội thời đó(mẩu-hệ), đồng thời củng cố thể chế chính trị trong các đời vua kế tiếp.

"Luật được tôn trọng xă-hội mới yên ổn". Sùng-Lăm đúng thật một luật gia đầu tiên của Việt-Nam. Bởi thế ta có thể nó́ họ Hồng-Bàng chỉ có 18 vị vua Hùng-Vương mới mang họ này mà thôi.

C-Chuyện 100 người con của Sùng-Lăm và Âu-Cơ, v́ thời này dân tộc ta vẩn chưa có văn hóa, mọi sự việc đều do truyền miệng truyền đến đời sau, khi vừa sanh 100 người con Sùng-Lăm nói với Âu-Cơ "Ta là rồng nàng là tiên, thủy hỏa không hợp nên phải chia nhau, nàng dẩn 50 con lên núi ta dẩn 50 con xuống biển" lời nói đó cho ta thấy rỏ chữ "Ḥa"(thủy hỏa không hợp), 50 người con theo mẹ lên núi 50 người con theo cha xuống biển, cho ta thấy rỏ chữ "B́nh", núi và biển nói về thiên nhiên cho ta

thấy sự yên tỉnh và tự nhiên của vũ trụ, nói rỏ chữ "Thái" và chữ "Thanh", nói lên sự đời không mờ đục, không ẩn ư, không gian dối, mọi việc đều tỏ rơ và chân thành. Đây là tư-tưởng của Sùng-Lăm, đem quan niệm "Tam-b́nh" trực tiếp vào cuộc sống để tạo đời sống thái-ḥa trong dân-gian. H́nh ảnh con vua sống cùng với dân gian gợi lên h́nh ảnh các quan lảnh đạo đều là anh em một nhà, để tránh việc tranh dành quyền lợi mà đánh lộn với nhau. Quan niệm Tam-b́nh thực sự đem lại THANH-B̀NH H̉A-B̀NH VÀ THÁI-B̀NH cho dân tộc Việt trong suốt 18 đời vua Hùng-Vương, tổng cộng 821 năm (1079tcn-258tcn) vẫn là đời vua lâu dài nhất kể cả các triều đại bên Tàu, nhờ có kỷ cương và luật lệ.

Những ḍng lịch sử này và lời nhận định là quan điểm cá nhân người viết, chuyện lịch sử là chuyện chung của tất cả mọi người, xin tất cả chung góp bàn tay cùng xây dựng cho đất nước Việt-Nam.

 

Được-Lời (LKC) Ngày 28-06-2014

 

 

 

 

LIÊN KHÔI CHƯƠNG

Được-Lời (LKC)

Ngày 28/06/2014

 

Trở về Trang Tác giả

 

 

 

 


 


Trang BIÊN KHẢO LINH TINH