Trang Thơ và Truyện của Vơ Ngọc Thành                |                 www.ninh-hoa.com

Vơ Ngọc Thành
Sinh năm :19
57

Cựu Học sinh
Trường Trung Học
Trần B́nh Trọng
Ninh Ḥa (1968-1975)

Hiện cư ngụ tại Nha Trang, Việt Nam

 

 

 

 

 

 

  NGẬM NGẢI T̀M TRẦM  


 

 (Bài đă đăng trong ĐẶC SAN 8 Năm - Số 3
được đăng lại theo lời yêu cầu của Tác giả)

 

Kỳ 4: (tiếp theo Kỳ 3)
 

Ông rít thuốc vội vội vàng vàng, rồi đứng dậy bắt tay ngay vào việc, cứ như sợ cây dó sẽ biến mất. “Việc đầu tiên là gở rượng”(t́m cách hạ cây dó nằm ngang trên mặt đất). Ông nói như chẳng để nói với ai. Đứng quan sát cây dó một lúc, ông bước đến chuẩn bị đổ cây săng (từ gọi chung cho tất cả cây rừng không phải là cây dó) bên cạnh. Tôi hơi ngạc nhiên, bèn hỏi-“Sao ông không đổ dó mà lại đổ cây săng, định vác về làm củi hả”. Nghe tôi thắc mắc, ông dừng tay, ph́ cười rồi ôn tồn giải thích-“Cậu đúng là kẻ khù khờ, hèn ǵ thánh nhân đăi ngộ cậu” Ông nói vui, rồi ngoắc tôi đến gần chỉ tay lên ngọn dó dẫn giải. “Cậu thấy đấy, ngọn cây dó bị dây leo quắn tựa vào ngọn của cây săng này. Muốn hạ cây dó xuống phải chặt vào cây mà nó tựa vào; cũng tựa như muốn triệt quan tham, phải triệt tận gốc, cái mà họ tựa vào. Quan tham thường lợi dụng khe hở của luật để thao túng: xe hơi, nhà lầu, vàng bạc, đô la…đều chui tọt qua khe hở tưởng chừng chỉ có…loài gián mới chui lọt. Trét lại cái khe hở, nghĩa là triệt tiêu cái gốc, cái điểm tựa, hiểu chửa”. Thực ḷng mà nói, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng khi người ta vui, người ta có thể trở thành một “ nhà chính trị”.

        Chỉ mất khoảng mươi phút, cây dó đă ngoan ngoăn nằm ngang trên mặt đất, ngọn gác lên thân cây săng. Công việc c̣n lại cứ ngỡ đơn giản, hóa ra khá gây go. Băm ŕu vào đâu trên thân dó đều đụng phải kỳ nam-kỳ nam đóng dọc thân dó thành đường dzích dzắc, chỉ cách lớp vỏ ngoài một vài nhát ŕu. Vấn đề là làm thế nào tống những khối kỳ nam khỏi thân dó, mà không bị vỡ vụn. Loay hoay mất khá nhiều thời gian cũng chỉ loại bỏ được 1/3 lớp xác dó bao quanh lớp kỳ. Cuối cùng, đành phải dùng dây rừng buộc quanh bi dó, thắt thành những quai đeo cơng về trại; tiếp tục dùng dũm đại loại bỏ phần xác dó c̣n lại.

         Vừa về đến lưng chừng dương, bắt được mùi khói từ dưới lán, người bầu trưởng đă hú vang inh ỏi chia sẻ ngay niềm vui với hai nguời bạn địu. Khi nh́n thấy những bi dó sau lưng chúng tôi, hai người bạn địu đă bật ngay khỏi đôn-“Trúng mánh rồi hả ?” –“Nh́n thử xem thứ ǵ đây?”vừa tháo dây đeo ông vừa nói hồ hởi. Tôi không biết hai người bạn địu dựa vào đặc điểm ǵ để phân biệt giữa trầm và kỳ, nhưng chỉ mất vài giây họ đă reo lên “Kỳ, trúng kỳ rồi, trời đất…”có lẽ cậu ta định nói “ quỷ thần ơi” th́ kịp thắng lại. Và bắt đầu ngoáy mông nhún nhảy mà chẳng cần có phần nhạc đệm nào

        Niềm vui tột đỉnh của chúng tôi dần dần như quả bóng x́ hơi theo từng đường dũm. Kỳ nam không ăn thành khối như chúng tôi nghĩ lúc đầu; mà chỉ là những thanh kỳ kích thước khá nhỏ được gắn kết với nhau bằng những lớp thịt dó. Mất ba ngày chúng tôi mới hoàn tất toàn bộ công đoạn - từ việc găng dó đến việc soi tỉa để có một miếng kỳ hoàn chỉnh. Cả một thân dó dài khoảng 10m, đường kính 40cm chỉ khai thác được khoảng hơn 3lạng - miếng kỳ lớn nhất bằng chiếc tách uống trà, nhỏ nhất bằng đầu ngón út. (Thời giá lúc bấy giờ chúng tôi chỉ bán được 3 chỉ vàng; nhưng với thời giá hiện nay giá trị bằng khoảng 20 cây vàng - một con số chênh lệch dễ làm ta say xẩm - gấp 70 lần). Thực tế, chúng tôi chỉ cảm thấy hơi khá thất vọng, bởi đă đặt quá nhiều kỳ vọng khi phát hiện kỳ nam chi chít trên thân dó. Nhưng không v́ thế mà niềm vui của chúng tôi mất đi. Không khí ở lán lúc nào cũng rộn ră tiếng cười đùa, trêu chọc nhau. Chúng tôi đă tự cho phép ḿnh ăn ba bữa một ngày, thay v́ hai như thường lệ. Trúng kỳ dù ít hay nhiều, dân địu đều xem như một “ân sủng”ơn trên ban phát. Số người đi điụ trúng kỳ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Có một điều khá kỳ lạ, từ sau ngày chúng tôi phát hiện, và đốn hạ cây dó có kỳ, chúng tôi không c̣n thấy bất cứ dấu vết nào của “ông thầy”, không c̣n nghe những bước chân xục xạo về đêm. Kể cả những ban núi sau này, khi chúng tôi quay lại. Tiếng nổ của những ống pháo lồ ô làm“ ông”sợ, hay “ông”đă làm xong phần việc của ḿnh?. Chỉ có trời biết.

        Kỳ nam và Trầm đều phát sinh từ cây dó (có hai loại dó: bầu và me). Nhưng cách h́nh thành và đặc điểm lại hoàn toàn khác nhau. Kỳ nam được h́nh thành như thế nào trong thân dó vẫn c̣n là điều kỳ bí. Nó có thể nằm giữa phần thịt dó (ngay ṿng tṛn đồng tâm), phía sau vỏ thân dó(trường hợp này vỏ dó sẽ cháy xám, và bị lơm vào trong - dân địu gọi là mặt b́; xuất hiện ở ngọn, gốc, rễ… nghĩa là bất kỳ bộ phận nào của cây dó. Nhưng kỳ nam h́nh thành lại không phải do từ bất kỳ sự tác động(gây vết thương) nào của ngoại cảnh lên thân dó - con người, thiên nhiên - và kỳ nam khi đă h́nh thành thường là những khối đặc, bất kể lớn hay nhỏ; ngược lại hoàn toàn với trầm - cần có sự tác động của kiến đục làm hang ổ (cũng c̣n tùy loại kiến mà trầm đóng dày hoặc mỏng), đá lăn, mảnh bom, cành gẫy…Hoặc từ con người - mở rễ, mặt nhang…Hương thơm của kỳ nam và trầm cũng hoàn toàn khác biệt, có thể nói một trời một vực. Về h́nh thức bên ngoài cũng có sự khác biệt, bề mặt của kỳ nam nh́n bằng mắt thường ta có cảm giác ươn ướt như chất dầu đang tươm ra, nhưng sờ vào vẫn khô ráo, bấm ngón tay vào sẽ để lại dấu vết trên bề mặt, nhưng chỉ vài dây sau bề mặt liền lại như cũ; sợi liên kết trên bề mặt của kỳ nam có xớ to hơn trên bề mặt trầm. Trong vài trăm cây dó, chỉ có 1 hoặc 2 cây h́nh thành kỳ nam. Nhưng không phải bất cứ vùng, miền địa phương nào có dó là có kỳ nam. Hơn mười năm dong ruổi theo nghiệp trầm, tôi có thể khẳng định chỉ có những cây dó phát triển tại vùng núi Khánh Ḥa hoặc những địa phương có rặng núi tiếp giáp với Khánh Ḥa như :Đắc Lắc(phía tây- giáp Dục Mỹ), Lâm Đồng (tây nam-giáp Khánh Vĩnh), Phú Yên (tây bắc-giáp Vạn Giă) mới phát sinh kỳ nam. Một điều khá kỳ bí, nếu ta đi từ Khánh Dương hướng về Sông Hinh (PhúYên), bên tay phải là núi vọng phu, bên tay trái là những rặng núi (đầu nguốn Sông Ba) kéo dài đến Cheo Reo (Phú Bổn); hai rặng núi bị tách rời bởi đồn điền cà phê (trước đây đồn điền ông Kỳ), th́ chỉ có phần núi (vọng phu) tiếp giáp Khánh Ḥa dó mới phát sinh kỳ nam. Bước chân địu chúng tôi đă in dấu hầu hết khắp núi rừng phía nam từ: Bù- Đăng, Bù- Đốp (Sông Bé), Đắc- Nông, Đắc- Min,Nam- Nung (Đắc Lắc),Ma Nới (Ka Đô-Lâm Đồng), Sa- Thầy (Kom Tum), Giằng,Phước Sơn (Quảng Nam), Ba Tơ (Quảng Ngăi), Sông Pha, Sông-Mao (Phan Rang)… Những vùng miền kể trên đều có dó, nhưng chỉ có trầm, chưa nghe ai nói trúng kỳ nam bao giờ. Có lần, khi ăn dó ở miệt Phước- Sơn tôi đă thử hỏi dân địu Đại Quang, Đại Hồng…(Đại Lộc-Quảng Nam), địu từ Huế vào- “ Có bao giờ mấy ông gặp kỳ nam chưa?”câu trả lời của họ là cái lắc đầu, và trợn tṛn mắt ngạc nhiên không hiểu từ kỳ nam mà tôi hỏi ám chỉ đến loại ǵ!

Tôi: đơn thuần chỉ là dân địu, không có bất kỳ một tham vọng nào ngoài mong muốn nêu lên những hiện tượng khá kỳ bí của thiên nhiên đúc kết từ những năm tháng ngậm ngải t́m trầm. Có thể kết luận của tôi, ai đó sẽ cho là chủ quan, vội vàng chưa đủ cơ sở. Nhưng phải chăng v́ sự khác biệt lư thú và bí ẩn này, mà chỉ có Khánh Ḥa mới có vinh hạnh được mọi người gọi là: Xứ Trầm Hương?

 

***

        Mọi người thường lầm tưởng, sống ở rừng chắc con người sẽ cư xử với nhau bằng luật rừng. Nhưng thực tế hoàn toàn khác hẳn. Dân địu không bao giờ lấy trộm của nhau, buổi sáng tất cả mọi người đều đi dậm dó, lương thực vật dụng đều để ở trại không cắt cử người canh giữ. Đôi khi t́nh cờ có bầu địu khác lọt xuống trại, họ thường dùng than viết lên đá tên bầu địu, địa phương chẳng hạn như:bầu A, Vạn Giă… như một lời nhắn để lại. Chẳng bao giờ có chuyện đôi co, tranh giành, cướp bóc giữa các bầu địu; cũng không bao giờ dựa vào số đông để hiếp đáp kẻ thế cô. Một bầu địu (chỉ có 2 người) may mắn trúng trầm, đang găng dó để lấy trầm, t́nh cờ một bầu địu nào đó (6 hoặc7)trên đường t́m vùng ăn đi ngang qua dừng lại ngồi xem, nhưng không bao giờ trong tâm tưởng họ nảy sinh ḷng tham giở tṛ uy hiếp cướp bóc, và họ cũng chẳng bao giờ quay lại ŕnh ṃ để làm trộm. Dân địu sống với nhau rất có t́nh, chan ḥa, đùm bọc trợ giúp lẫn nhau không kể bầu địa phương nào, ngay cả khi chính họ c̣n thiếu thốn. Chẳng có nghề nào như nghề địu, người học việc vẫn được hưởng thành quả đồng đều như mọi người sau mỗi chuyến đi, không phân biệt tay nghề, công lao động nhiều hay ít. Mọi người sẵn sàng bỏ cả ban núi, để d́u người bạn địu không may ốm đau bệnh tật ra đến cửa rừng. Và nếu ban núi đó tiếp tục, th́ người ốm đau vẫn được chia thành quả như bất cứ thành viên nào khác trong nhóm. Cư dân địu ai cũng mang nước da trắng xanh, khuôn mặt nhợt nhạt như người đang mang một căn bệnh nan y nào đó, hệ quả của những năm tháng sống dưới tán lá rừng, những cơn sốt rét kinh niên, vật vă. Ai không từng sốt rét không phải là cư dân địu.

        Nh́n lại hơn muời năm lặn lội nơi núi rừng sâu thẳm, tôi mất nhiều hơn là được. Năm tháng tuổi trẻ - khoảng thời gian đẹp nhất, ấp ủ nhiều hoài băo nhất - trôi dần theo những bước chân ngập đầy lá ủ. Tương lai chỉ là khoảng trời nhỏ hẹp, mịt mờ qua những ṿm lá đong đưa. Đời địu, không ai không trải qua những điều cơ cực, tủi nhục, và cũng đôi lần tưởng đă nằm lại vĩnh viễn giữa núi rừng cô tịch. Có lúc (ở Nam Nung, Giằng, Phước Sơn), chúng tôi bị chính những người đồng loại ḿnh(những kẻ được trang bị súng) săn đuổi như một loài thú hoang dă. Mục đích ban đầu của nhà chức trách th́ tốt - nhằm ngăn chặn bởi có quá nhiều người bỏ ruộng vườn lao vào rừng t́m trầm. Nhưng phương tiện(người thi hành) th́ ngược lại. Thay v́ làm mỗi một việc ngăn chặn, họ tách thành hai việc: Ngăn chúng tôi lại ở cửa rừng lấy tiền măi lộ (ai không có tiền họ lấy lương thực, thực phẩm), sau đó lùng sục chặn đường ra để tịch thu trầm. Những ai không mang trầm th́ họ cho ăn vài bá súng vào vai, đá đít rồi thả về (tôi cũng từng nhận được “diễm phúc”này khi dám nh́n trừng trừng họ một cách căm phẩn). Vô phúc cho ai không may cha mẹ sinh ra có bộ râu rậm rạp. “Ai cho mi để râu, xuống suối dùng đá cà cho sạch râu” Họ hoạnh họe, quát tháo, khuôn mặt non choẹt đỏ rần; tức tối trút tất cả bực dọc lên đầu, lên cổ chúng tôi khi lục soát không t́m thấy trầm. Chúng tôi chỉ c̣n biết nuốt nước mắt vào trong, ngậm ngùi thương cho thân phận bọt bèo.

        Chưa có bất kỳ dân địu nào trở nên giàu có, qua những năm tháng vắt kiệt đời ḿnh nơi rừng thiêng nước độc; ngoại trừ “Tào kê”- người buôn trầm kỳ. Gác ŕu, treo ba lô… nh́n lại đời ḿnh: tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Kư ức về những năm tháng ngậm ngải t́m trầm vẫn như vết thương c̣n nguyên những mảnh đạn. Nó làm ta nhói đau mỗi khi hồi tưởng.

 

        Một chuyến đi, một con người, vài trang giấy…không thể chuyên chở hết đặc thù của một nghề, đặc biệt nghề địu - một nghề mà thành quả của công việc lệ thuộc quá nhiều vào sự rủi may, những hiện tuợng kỳ bí của thiên nhiên chưa thể giải mă. Cũng không thể nêu lên hết được những bi hài mà cư dân địu đă phải trải qua, chịu đựng. Chỉ mong “Mua vui cũng được một vài trống canh”.

 

 

 

 

 

Vơ Ngọc Thành

4/2011

 

 

 

 

 

Trang Thơ và Truyện của Vơ Ngọc Thành             |                 www.ninh-hoa.com