Trở về trang VT-NTH


www.ninh-hoa.com
 



  TRƯƠNG KHẮC NHƯỢNG
 

Quê quán làng B́nh Thành,
Xă Ninh B́nh, Ninh Ḥa
 

Tốt nghiệp Khóa 1 Sư Phạm
Qui Nhơn
 

Giáo sư Trung học Đệ Nhất Cấp dạy môn Toán, Lư, Hóa tại
Trung tâm Giáo dục
Hàn Thuyên, Nha Trang.
 Sau 1975, vẫn dạy cấp 2
tại Nha Trang. Đă hưu trí.
 

 

 

Hiện đang sinh sống tại
Nha Trang, Việt Nam

   
Trang Văn Học Nghệ Thuật
THƠ / TRUYỆN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những NGƯỜI THẦY KHẢ KÍNH

 tại Trường Trung Học VƠ TÁNH
Nha trang

Trương Khắc Nhượng

 


 

 

 

Để tôn vinh Những bậc thầy, người đời thường có những câu nói: -Nhất tự vi sư, bán tự vi sư-Trọng thầy, mới được làm thầy- Muốn con hay chữ phải yêu mến thầy-Tôn sư trọng đạo… Nhưng, nếu tôi không nhớ nhầm, th́ những thầy dạy tôi ở trường Vơ Tánh, chưa bao giờ ‘’hô các khẩu hiệu’’như thế để giáo dục ḷng kính yêu thầy. Nếu trường Sư phạm Qui Nhơn là nơi dạy nghề, TTGD Hàn Thuyên là một nơi HÀNH nghề tâm đắc nhất, là mănh đất lành cho tôi thăng tiến nghề nghiệp và học vấn …Th́ trường Trung Học VƠ TÁNH là nơi cung cấp chiếc ch́a khoá cho những lớp học sinh chúng tôi, mở cánh cửa của những mảnh vườn mộng mơ, với biết bao hoa thơm cỏ lạ của ĐỨC, TRÍ.

 

 Với tôi, đậu vào Đệ Thất (lớp 6) trường công vô cùng quan trọng, là bước ngoặc của cuộc đời.Nếu không vào được trường công, phải học trường Tư tại Nhatrang, chắc AnhChị tôi không nhiệt t́nh đài thọ..Thửa ấy thi cử không dễ dàng ǵ, Thi vào Đệ Thất trường Trung học Vơ Tánh, trường công duy nhất, uy tín, nổi tiếng nhất của các tỉnh Nam Trung bộ lại càng gay go hơn.Học sinh phải thi ba môn :TOÁN, TẬP LÀM VĂN, VÀ những câu hỏi về KHOA HỌC THƯỜNG THỨC. C̣n nhớ măi, đề môn tập làm văn năm đó là : Em có suy nghỉ và nhận xét ǵ về câu ‘’Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng’’, Với học tṛ tuổi 12-13, phải làm những bài văn có tính nghị luận như thế, trong kỳ thi concours(thi tuyển) th́ quả là chuyện không dễ.Với một chút khả năng, một sự chăm chỉ, cố gắng và may mắn, tôi đă vượt qua được khung cửa hẹp này một cách đầy tự hào và hănh diện, bởi số học sinh Ninh hoà đỗ vào Vơ Tánh chỉ đếm trên đầu ngón tay.

 

 Năm 1955, tôi vào học lớp Đệ Thất 5 trường Trung Học Vơ Tánh Nha trang.Môn Pháp văn do Thầy BỮU CÂN dạy, thầy thuộc ḍng dơi hoàng tộc-chữ Bữu là một trong mấy chữ của câu thơMiên, Hường, Ưng, Bữu, Vĩnh… ‘’ do một vị vua triều Nguyễn làm ra cho con cháu trong hoàng phái dùng đặt tên- thầy là một người thầy kỳ lạ, gây nhiều ấn tượng trong tôi.Giờ học đầu tiên của thầy, chúng tôi phải cặm cụi chép vào trang vở mới toanh câu: “ L`enfant ne vient pas à l`e’cole pour apprendre, mais apprendre à apprendre’’(Trẻ em đến trường không phải để học, mà là để học cách học).Mặc dù ở lớp Nh́, lớp Nhất chúng tôi cơ bản đă học Pháp văn, nhưng v́ căn thẳng, sợ sệt thế nào mà chép cứ sai hoài và mỗi lần như thế, trang vở mới của chúng tôi bị thầy xé không thương tiếc với lời phán lạnh lùng “ Tâu dạy tụi bây cách học’’.Lớp học im phăng phắt, chỉ có tiếng chân thầy đi lại và tiếng xé giấy soàn soạt.Lúc dạy chúng tôi thầy đă lớn tuổi, hay mắc chứng “hắc hơi’’, mỗi khi hắc hơi trên chục cái là lớp chúng tôi chuẩn bị ra sân sau chơi, hoặc ra về…Năm đệ Tam, tôi lại gặp thầy ở môn vạn vật, vào lớp, thầy biểu diễn vẽ một nét các con bươm bướm, cào cào, châu chấu.Với viên phấn trên tay, thầy ngoặc vài nét là trên bảng con châu chấu hiện ra rơ ràng, sinh động’’, Chúng tôi tuy đă là học sinh Đệ nhị cấp, nhưng vẫn trố mắt thán phục.Thầy c̣n chỉ cho chúng tôi cách nhớ một số kư hiệu hoá học bằng câu ‘’ CHỒN Sous KêPi Manger CaFé’’ đó là các hoá chất có kư hiệu C, H, O, N, S, K, P, Mg, Ca, Fe (Carbon, Hydro, Oxy, Nitro.Lưu huỳnh, Kali, Phos phor, Magne, Canci, và Sắt).thật là dễ nhớ.Tính sư phạm của thầy ảnh hưởng không ít trong đời dạy học của tôi sau này.V́ lớn tuổi, hay đau ốm, nên trong mỗi học kỳ thầy chỉ dạy độ mươi bài vạn vật, đến ngày thi Lục cá nguyệt (LCN), thầy ch́ cho học năm ba bài, thế là mấy cô cậu, lười học, chép sẵn ra giấy nộp cho chắc ăn.Đến giờ thi, sau khi cho đề (đề thi thường ngắn gọn như đầu bài học), thầy ra lệnh chừa ra 2, 3 ḍng kể từ đề thi, rồi mới làm bài.Thế là các cô cậu chép bài trước xanh mặt, ngồi im, chờ hết giờ nộp bài đă chép sẳn, rồi ra sao th́ ra.Đến khi bài thi được trả, các bạn ấy cũng được số an ủi 3, 4điểm/20 với lời dạy thật thấm thía, nhớ đời :”Tụi bây hưởng 3, 4 điểm ấy như hưởng 3, 4 cục lạp xường của tâu’’. Thật là hết ư ! thật là một ông thầy có gốc Hoàng gia có khác.Để chế riễu lối học “vẹt’’, thầy kể rằng : “Một cậu học tṛ học bài, cứ đọc lăi nhải –Rắn là loài ḅ…sát mặt đất.., sát mặt đất, ông bố nghe thế bực ḿnh quát : Thầy mô dạy mi RẮN LÀ LOÀI B̉..’’.Thật tội và oan cho mấy thầy dạy Vạn vật !.Chúng tôi học vẽ với thầy Vơ thành Điểm, thầy cũng là một giám thị của trường, thầy cười rất tươi với mấy cái răng mạ vàng sáng bóng.nhưng được vài tháng th́ thầy Dzĩ, vừa tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Sai gon về thay.

 Năm đệ Tứ, tôi học Pháp văn với thầy Nhơn (Xin thất kính v́ không nhớ họ tên đầy đủ ).Phương pháp của thầy thế nào mà khi vào thi Trung học Đệ nhất cấp, tôi đă làm bài luận tiếng Pháp dễ dàng, trôi chảy và vào vấn đáp môn này cũng không khó.Đề thi năm đó là tả cái quán ( l`auberge) bên đường nhân buổi trưa hè ghé qua;vậy mà có lắm học sinh cứ nhè con berger mà tả.Thầy c̣n hướng dẫn chúng tôi làm quen với sách Pháp như Le petit chose cùa Alphonse Daudet, lettre de mon mouline của Anatole France...Học tṛ thời ấy cũng tinh quái, đă gọi thầy là “thầy Nhơn khoặt’’ v́ thầy hay “khoặt..khoặt’’ như trong cổ lúc nào cũng có đàm.Nhà thầy ở Phương Sài và lũ quỹ chúng nó kháo nhau là thầy rất rất đúng giờ: giờ nào việc ấy không sai một phút, đến độ chúng c̣n khôi hài cho rằng kể cả giờ vào toilette cũng có trong Emploi du temps (Thời khoá biểu) của thầy, thật là hết ư !!.

 

 Có lần thầy thầy dùng lớp tôi dạy mẫu bài ‘’Thằng Bờm’’-không hiểu sao thầy dạy Pháp văn, lại dạy mẫu Việt văn- và bạn Tạ văn Ru được chọn đóng vai thằng Bờm, trông hắn ngáo ngáo rất nhập vai, hắn lại có mái tóc rũ phía trước giống bờm ngựa.Từ đó hắn mang cái tên ngộ nghĩnh “ Ru bờm’’;bờm ta cũng là một hiện tượng đáng nhớ; ở các lớp dưới chỉ học tà tà đủ lên lớp nhưng càng lên lớp trên càng học giói, bạn bè lại gọi hắn là Ru “vỡ năo’’.Quả thật là một hiện tượng ‘’vỡ năo’’, sau khi đỗ Tú Tài toàn phần, hắn đậu vào trường Đại học Nông Lâm Saigon, tốt nghiệp kỹ sư Nông học, hắn được học bổng du học nước ngoài và đậu Tiến Sĩ, làm việc cho FAO- Tổ chức Lương Nông của LHQ- tại Florida, USA.

 

 Dạy Toán là thầy Trần thanh Lư, có biệt danh là Lư Đại Hàn v́ thầy có đệ tam đẳng huyền đai Taekwondo, thầy dạy rất chuẩn, làm chúng tôi rất tự tin khl vào thi THĐNC.Dạy Địa lư là thầy Trần đức Long mà chúng tôi gọi là thầy Bu Man Long (tên một ngọn núi ở miền Bắc -ở Đệ Tứ, môn đjạ học về Việt Nam).Thầy là một tấm gương tự học, ở trường tư, thầy dạy Toán, lúc đi dạy thầy mới chỉ có bằng Trung học đệ nhất cấp, vậy mà sau này thầy đă là Luật sư ở Nhatrang.Tôi thi Trung học Đệ nhất cấp khoá ngày 10-01-1959.Thi viết các môn Luận Việt văn, Toán, Vật lư (hay Hoá học), bài luận Pháp văn, bài dịch Việt-Anh và bài dịch Anh-Việt.Năm đó chúng tôi thi môn Hoá, chỉ thỉnh thoảng mới thi môn này, nên nhiều học sinh bị hố, v́ chuyên nhiều vào môn Lư và cơ bản môn hoá lại yếu.Sau khi đủ điểm thi viết (Écrit ) mới được vào vấn đáp (Oral) tất cả các môn đă học, kể cả các môn đă thi viết. Thi vấn đáp thật sự là nổi lo âu, sợ hải với những học sinh yếu bóng vía, học hành lơ tơ mơ.Các vị giám khảo hỏi thi mỗi vị có một tính cách riêng: Có vị ưa truy học sinh, nhưng cho điểm th́ dễ chịu, có vị chỉ hỏi b́nh thường nhưng cho diểm rất dè xẻn, có vị cho biết điểm ngay, có người lại dấu điểm, có vị vui vẻ, thân thiện, có ư kiến với câu trả lời của thí sinh, trái lại có vị mặt lạnh như tiền, khiến thí sinh xanh mặt, không biết câu trả lời của ḿnh đúng, sai, có hợp ư thầy không? Cũng có giám khảo bị mang tiếng hỏi khó, khiến thí sinh cứ lấp ló ngoài cửa không dám vào sớm, đành rằng trước sau ǵ cũng phải đối diện với cái khó của thầy, chứ làm ǵ có chuyện bỏ cuộc. Các vị thầy giám khảo quả thật đầy uy lực ! Tuy mỗi người một phong cách nhưng đều thể hiện tính công bằng, mẫu mực của người thầy.

 Thời ấy, ít người được đi học, công việc làm không đ̣i hỏi tŕnh độ cao.Với bằng Trung học có người vào Sư phạm Tiểu học, có bạn học Cán Sự điện tại trường Phú Thọ, có người vào Vơ bị Đà lạt.chọn con đường binh nghiệp.

 Tôi học Đệ Tam B2, ngoài một số bạn cũ, c̣n có một số mới từ trường tư, hay từ các tỉnh lân cận được nhận vào v́ đă đỗ Trung học.Trường Vơ Tánh là trường lớn duy nhất lúc bây giờ ở Nam Trung Bộ có bậc Trung học Đệ nhị cấp.Ban B là ban khoa học Toán, ai khá toán, lư hoá theo ban này dễ dàng.Ai khá văn, ngoại ngữ theo ban C-ban văn chương, c̣n các cô cậu làn nhàn, không khá giỏi các môn trên th́ vào ban A-ban khoa học tự nhiên-đây là ban học “gạo’’, chuyên “tụng’’ Vạn vật, tuy nhiên, nếu học giỏi th́ cũng dễ đậu vào ngành Y, Dược. Người đẹp vào ban này nhiều hơn ban C, lớp Tam B của tôi cũng có vài cô, nhưng các cô theo ban Toán th́ nhan sắc cũng khiêm nhường, khắc khổ như các nhà toán học.Giờ ra chơi, nam sinh ban B của chúng tôi ai cũng thích lượn qua lại ngoài cửa sổ các lớp ban A hay ban C, để may ra được ngắm nh́n người đẹp, v́ đa số các bóng hồng ít ra khỏi lớp trong giờ chơi.Nữ sinh thời ấy c̣n e lệ, rụt rè, nhút nhác, rất nữ tính, không như thời gian sau này.Thầy Cao văn Duy dạy Toán, thầy là người Huế, con của thầy Tổng Giám thị Cao văn Hy.

 Đa số học sinh đều cho rằng Đệ Tam là năm học xă hơi, thư giản v́ không có kỳ thi vào cuối năm.Chúng tôi đều đi học trể, nên tuổi đời đă mười tám đôi mươi.Độ tuổi với những mộng mơ, bâng khoăn trước những tà áo dài trắng thước tha, những mái tóc thề chấm vai, lă lơi trong gió; và chỉ dám trộm nh́n những người đẹp, một thời làm rung động biết bao trái tim si t́nh.V́ nhút nhác, v́ lễ giáo, v́ môi trường sống lành mạnh, v́ chăm lo học tập…nên t́nh yêu của chúng tôi, nếu có, cũng chỉ là kiểu yêu trộm, nhớ thầm;ngắm nh́n người đẹp từ xa, ít có anh chàng nào dám đến gần nắm tay, bày tỏ t́nh cảm.

 Năm Đệ Nhị B2 thầy Nguyễn Phương dạy toán, thầy đốt thuốc liên tục mỗi khi giải Toán Lượng giác và viết tràn giang đầy một bảng lớn.Chúng tôi ghi lấy ghi để mà chẳng hiểu mô tê ǵ, về nhà phải nghiên cứu, t́m hiểu lại.Nhưng trái lại, những nét vẽ của thầy về đồ thị của hàm số về h́nh học không gian th́ thật tuyệt vời, sắc nét.Dạy Lư hoá có thầy Ngoạn mà chúng tôi gọi là thầy ‘’đít vịt’’v́ tướng đi của thầy giống như vịt.Hai thầy là bạn thân, v́ cùng yêu một nữ sinh mà thành giận nhau.Sau khi thầy Phương cưới người con gái ấy, thầy Ngoạn xin đổi về Huế.

 

 Chúng tôi dự thi Tú Tài phần thứ nhất (Tú tài 1), khoá ngày 23-5-1961.Ban B thi viết ba môn : Việt văn, Toán và Lư Hoá.Sau khi đỗ thi viết, chúng tôi có ba ngày chuẩn bị vào vấn đáp tất cả các môn đă học, đă thi viết.Tuy không c̣n bỡ ngỡ như kỳ thi Trung học nhưng vẫn lo âu, rụt rè lẫn sợ hăi; với những giám khảo có tiếng là khó tính.Có vài vị, buổi đầu không có thí sinh nào dám vào, cứ thập tḥ ngoài cửa, dù trước sau ǵ cũng phải vào cho thầy “vấn’’.

 

Tất cả kết quả của các kỳ thi viết cũng như đỗ hẳn sau vấn đáp, đều được xướng danh trên loa của trường Vơ Tánh.Sau khi biết ngày giờ công bố kết quả kỳ thi, học sinh, cha mẹ cũng như người thân đều tập trung trên đoạn đường ngắn, từ ngă ba Đinh tiên Hoàng đến ngă tư Hoàng Hoa Thám, trước trường, dưới bóng mát của hai hàng cây bên đường, hồi hộp chờ đợi kết quả.Hai hàng cây xà cừ trước trường Vơ Tánh, đă là chứng nhân của biết bao vui, buồn;biết bao nụ cười lẫn nước mắt của những thế hệ học sinh, kể cả các bậc phụ huynh.

 

 Tôi đỗ Tú Tài I và lên học Đệ Nhất B2 (lớp 12), học sinh trường tư có Tú tài 1 cũng được vào học đệ nhất trường công, trái lại học sinh trường công mà hai năm liền không có Tú tài 1 th́ phải ra trường tư học tiếp.Thời đó, chứng chỉ Tú tài 1 là ch́a khoá mở cánh cửa vào năm cuối của bậc Trung học. Qui tŕnh học tập thời ấy như sau : Đậu Trung học Đệ Nhất cấp mới được lên học Đệ Tam, mới vào được trường công Vơ Tánh, nếu trước đó học trường tư.Về sau ngành giáo dục bỏ nút chặn này, nghĩa là học sinh trường công chưa đỗ Trung học vẫn được lên học Đệ Tam, rồi Đệ Nhị.Nhưng chưa có Tú Tài 1 th́ không được lên lớp Đệ Nhất.Học sinh lớp Đệ Nhất là học sinh trường công và có Tú Tài 1.Trường tư thời ấy không có lớp Đệ Nhất.Nhiều anh chị dù học Đệ Nhị nhưng vẫn chỉ lận lưng tấm bằng Tiểu học và gần như suốt đời học sinh chỉ học trường tư, nhất là nữ sinh, nhiều cô học Đệ Nhị vài năm rồi lập gia đ́nh.

 Những thầy dạy năm Đệ Nhất ;Thầy CUNG GIŨ NGUYÊN dạy Pháp văn, tuy không có bằng cấp cao, nhưng thầy là một học giả uyên thâm văn học Pháp.Thầy viết sách báo tiếng Pháp mà cuốn sách tiêu biểu là quyển ‘’Le fils de la balaine’’( Người thừa kế của Ông Nam Hải ), thầy dạy văn học Pháp ở các lớp ban C, các anh chị kể khi viết commentaire (b́nh giảng một đoạn văn), thầy chấm sẳn một chấm trên bảng, và viết đến ngay đó là vừa đủ ư, thầy bảo đó là cách sắp xếp ư tứ để viết nhật báo.Dạy Pháp văn nhưng thầy hay nói chuyện triết lư, chuyện đời, chuyện sinh hoạt HƯỚNG ĐẠO-Thầy là trưởng đoàn hướng đạo thế giới tại Việt nam-Ngày thầy mất, các đoàn hướng đạo khắp nơi về dự tang lễ.Thầy đi chiếc xe Citroen đen bóng, mang kính trắng gọng vàng, ngậm pipe, dáng người cao to, trông thật là oai phong, là mẫu người lư tưởng cho ngay cả cánh con trai chúng tôi, nói chi cánh con gái đa t́nh, lăng mạng học ban C, Khi dạy chúng tôi, thầy đă là Hiệu trưởng trường bán công Lê Quí Đôn, thầy thường được giữ lại làm giám khảo vấn đáp môn Pháp văn Tú Tài 1&2 tại hội đồng thi Nhatrang v́ lớn tuổi và Uy tín.Môn Triết do thầy Vơ Túc dạy, thầy mới ra trường mà triết là môn khó nên chúng tôi cũng khó tiếp thu những bài giảng thiếu kinh nghiệm của thầy.Ban B chỉ học môn Luận lư học và chúng tôi phải bám theo cuốn Luận Lư học của Linh Mục Cao Văn Luận, viện trưởng viện Đại học Huế.

 

 Toán là môn chính của ban B, nên có hai thầy dạy: Thầy Bùi Ngoạn Lạc phụ trách môn h́nh học & đại số, nghe đâu thầy chỉ đỗ chứng chỉ MG (Math..Géneral ), một chứng chỉ Toán học Đại cương rất khó của khoa toán trường đại học, thầy nói năng nhẹ nhàng, dạy rất chuẩn và có biệt tài vẽ ṿng tṛn cho dù là những đường tṛn tiếp xúc nhau, với viên phấn trên tay thầy chỉ ngoặc một nét là đâu vào đấy.Môn số học và Cơ học do thầy Liễm dạy, thầy mới tốt nghiệp Đại học Sư phạm Saigon và có bằng Cử nhân Toán, thầy dạy rất hay không cần sách vỡ, bài học, bài tập đọc ra như có sẵn trong bộ nhớ của thầy.Trái lại thầy Bùi văn Chọng, dạy hoá th́ xé từng trang sách theo mỗi bài học để giảng cho chúng tôi. Một lần ở lớp B3, làm thí nghiệm về sức ly tâm, thầy gọi bạn Ngô Liệp vịn b́nh; thầy tṛ loay hoay thế nào mà b́nh vỡ, Liệp bị xây xác ở mặt, vụ này làm xôn xao các lớp Đệ Nhất.Ngô Liệp là người Ninh hoà, sau này tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gon, môn Lư hoá, về dạy tại trường cũ.Không biết có làm vỡ binh thí nghiệm như thầy không ? Dạy Vật lư có thầy Trần văn Sơn, Kỹ sư hàng hải, Thiếu Tá hải quân, huấn luyện trường Sĩ quan hải quân Nha trang, nhưng thầy chỉ dạy nửa năm th́ có lệnh quân nhân không được dạy bên ngoài. Thay thầy là thầy Minh, mới tốt nghiệp Đại học Sư phạm.Năm Đệ nhất chúng tôi học sử thế giới cận đại, dạy chúng tôi là thầy Nguyễn hữu Thứ, biện lư toà án tỉnh Khánh hoà, sử liệu của thầy thật phong phú, thầy chỉ cho chúng tôi cách sưu tầm và lưu gữi tài liệu. Sau này, thầy về Huế làm Chánh án toà Thượng thẩm.

 

 Tú tài 2 ban B, thi viết ba môn : Triết, Toán và Lư Hoá, tôi đỗ thi viết ngay kỳ đầu, nhưng lại hỏng vấn đáp.Lần đầu tiên nếm mùi thi hỏng.Ôi ! thật chua chát và cay đắng làm sao! Giám khảo hỏi đáp đa số từ Huế vào, c̣n rất trẻ, nhưng nghiêm trang và đầy Uy lực, luôn thể hiện một tŕnh độ kiến thức vững vàng.Có vị ưa truy hỏi học sinh về kiến thức tổng quát, nhiều khi không liên quan đến chương tŕnh, nhưng chỉ để đo lường sự hiểu biết, cách trả lời và sự nhạy bén trong ứng xử, chứ không nhầm đánh rớt thí sinh, bằng chứng là nhiều thí sinh rơi vào t́nh huống này đều đỗ và nhiều khi c̣n đỗ cao. Học sinh được đối xử b́nh đẳng :B́nh đẳng trong thi cử, với trường lớp, với thầy cô, với bạn bè.Không có chuyện học sinh theo mode, không đem sự giàu sang vào nhà trường để khoe khoang.Chỉ tranh đua học hành, thi cử, không tranh đua ăn diện.Tôi là một học sinh nghèo, khổ nhưng học hành không tồi nên các bạn thương yêu quí mến, chơi với nhau thân t́nh như với các bạn khác.không có một phân biệt nào, không hề có mặc cảm tư tôn hay tự ti.Môi trường giáo dục phải được như thế, mới đúng với vai tṛ thiên chức của nó.

 

 Làm sao nhớ hết những người thầy khả kính, khả ái của bảy năm học dưới mái trường Vơ Tánh vang danh và thân yêu* ! Những người thầy mà khả năng và đạo đức, tính sư phạm và sự chuẩn mực đă tác động không nhỏ trong đời sống, trong nghề nghiệp của bản thân tôi sau này.Chính những điều này đă tạo ra một thế hệ học sinh yêu thích nghề dạy học, để mong tiếp nối cái hào khí của quí thầy.Cũng chính điều này mà những thầy giáo trẻ là đối tượng theo đuổi, mơ mộng của các cô gái Nha thành và một số các thầy cũng t́nh nguyện xin chọn”Miền thuỳ dương cát trắng, hiền hoà, dễ mến ‘’ này làm quê hương thứ hai.

 

 

 

 

 

 

 Nha trang, ngày 08 tháng 6 năm 2011

 TRƯƠNG KHẮC NHƯỢNG

 

 

 ( Trích & bổ sung hồi kư ‘’Một thời để nhớ” viết năm 2003)

*Trong Bảy năm (1955-1962) học Trung học Vơ Tánh Nhatrang, tôi không học với một cô giáo nào, dường như, thời ấy không có cô nào dạy ở Vơ Tánh ?

-Sau 1975, trường Vơ Tánh mang tên THPT Lư Tự Trọng, khuôn viên trường bị thu hẹp, ở mặt đường Hoàng hoa Thám và Nguyễn Chánh, bởi nhà của các quan chức giáo dục & của dân,