Trang Thơ & Truyện: Mục Đồng                |                 www.ninh-hoa.com



 

 Trần Thanh Thiên
Bút hiệu: MỤC ĐỒNG

   Người làng B́nh Thành,
xă Ninh B́nh.

 Cựu học sinh trường
Trung Học Nguyễn Trăi
niên khóa 1992-1995.
 



Du học
tại Delhi, Ấn Độ.

 

 

 

 


 


TỊCH MẶC KUCHA

Mục Đồng

Nằm giữa sa mạc mênh mông Taklamakan, một trong những sa mạc lớn nhất thế giới, ghi dấu ấn thời gian sâu đậm với những đoàn lạc đà cần cù mang nặng trên những đồi cát dài bất tận, Kucha đă cho tôi một giấc mơ vượt thời gian, để về với vùng đất huyền ảo, xa xôi, với những điều kỳ vĩ mà có lẽ sẽ là món nợ với chính ḿnh nếu chỉ măi ước mơ nhưng chưa một lần đặt chân đến. Kucha có ǵ huyền bí mà khiến cho ai đó mộng mơ nhiều đến vậy? Mời bạn hăy cùng tôi làm một chuyến ảnh du hay cũng có thể lật lại những trang sách cũ để t́m về vùng đất tịch mặc hoang sơ kia.

 

Hăy lật trang đầu tiên để nh́n tổng quan toàn vùng sa mạc lớn nhất nh́ thế giới. Taklamakan với vị trí địa lư thuận lợi, giáp ranh giữa Trung Hoa đại lục và vùng Tây Á, khi nhắc đến con đường tơ lụa, phải nhắc đến địa danh này. Và nó cũng là cửa ngơ giao thương quan trọng cho những chuyến trao đổi hàng nối từ Tây Á đến Trung Hoa và ngược lại.

 

Con đường tơ lụa (tên này được đặt bởi nhà nghiên cứu địa lư người Đức - Ferdinand von Richthofen) có mặt từ thế kỷ thứ 2, qua sự kiện Trương Khiên phụng mệnh Hán Vũ Đế đi về phía Tây để liên minh các quốc gia Tây vực. Nó nối dài từ Trung Hoa qua đến Ba Tư (Iran ngày nay), sang La Mă và các nước châu Âu, giúp trao đổi thương mại, tư tưởng, văn hóa và tôn giáo cho các quốc gia giữa châu Á và châu Âu. 

 

Phong cảnh thiên nhiên th́ nào núi non, sông ng̣i, sa mạc, thảo nguyên, chúng luôn luôn biến hóa. Nét đặc sắc của chúng chính là cái bao la, khoáng đạt, và tạo cảm giác mênh mang. Hẳn nhiên rồi, nhưng c̣n núi cao, vực sâu hoặc trong ḷng sa mạc th́ cảnh sắc kỳ ảo, rực rỡ, tráng lệ khiến người ta không khỏi đắm ch́m trong nỗi niềm đam mê bất tận. Nh́n từ h́nh ảnh vệ tinh trên Google maps, có thể không rơ tên địa phương, nhưng ta có cảm tưởng hầu như được xem những bức tranh sơn dầu cổ điển. Trên con đường xa xăm nhiều ngh́n km ấy, rải rác đây đó là những ṭa cổ thành, những hang thạch động, chúng lóe lên ánh sáng ngọc ngà thần bí. Cho dù đă có nhiều nhà bác học trên khắp thế giới nghiên cứu, nhưng cũng vẫn chưa làm lộ ra hết bức màn bí mật trong bản thân chúng.  

 

Trong quá tŕnh t́m tài liệu và nghiên cứu bản đồ để giảng dạy bộ môn Lịch sử Phật giáo thế giới, tôi đă phải tự ḿnh viện lư do thời gian cần tập trung soạn bài, để có thể mạnh dạn đóng màn h́nh, tắt máy, bởi cứ hễ t́m đến những địa danh như Tân Cương, Turfan, Kuqa, Hotan… th́ lịch sử, h́nh ảnh và bao nhiêu nguồn cảm hứng lại trào dâng. Chắc chắn một điều, đâu đó từ ngàn xưa đến nay và trong mênh mông gió cát ấy, thế nào chúng ta cũng sẽ được một lần chạm mặt hay đồng hành cùng bước chân vượt dặm ngàn về phương Tây của pháp sư Huyền Trang, hành tŕnh phong sương cô tịch của tư thế bị áp giải trong binh đoàn Lữ Quang từ Tây vực đến đại lục của pháp sư La Thập, hay vó ngựa chiến chinh của đội quân Thành Cát Tư Hăn, cũng như vô số những sinh linh từng bị lạc bước hay băo cát nhấn ch́m trong vô định. Giữa cái mênh mông ấy, cũng như nh́n về quá khứ xa xưa kia, ta sẽ thấy ḿnh nhỏ bé biết bao nhiêu, không gian sẽ trở nên cô liêu tịch mịch biết nhường nào.

 

Đứng giữa vùng trời bao la ấy, xin chọn một điểm dừng để tâm tư ḿnh được thỏa sức t́m về những cung bậc mộng mị, hoang vu, cái hoang vu được trang bị bởi một bề dày lịch sử. Vâng, điểm dừng của chúng ta chính là vùng đất Kucha, hay Kuqa, được dịch âm là Khâu Tư, hoặc Quy Tư, Khuất Chi (theo Huyền Trang), cũng chính là huyện Khố Xa ngày nay, thuộc khu tự trị Tân Cương của tộc người Duy Ngô Nhĩ.

 

Kucha có ǵ mà khiến bạn phải ưu tư nhiều đến vậy?

Kucha giữa mênh mông sa mạc - ảnh Google maps

 

Chắc chắn rồi! Nó hấp dẫn đến nỗi Amold Toynbee[1], nhà nghiên cứu lịch sử người Anh, khi được hỏi về nơi ông muốn sinh ra ở kiếp sau, ông đă trả lời rằng: “Tôi muốn được sinh ra ở Kucha, vùng đất thuộc Tân Cương ấy, từng là nơi giao thoa của rất nhiều nền văn hóa và dân tộc”.

Nhắc đến Kucha là nhắc đến âm nhạc Khâu Tư, Thiên Phật động Kizil, di chỉ thành cổ Subashi và cả nhân vật nổi tiếng xuất thân từ Kucha - Tam tạng pháp sư được vua Diêu Hưng nhà Hậu Tần vô cùng ưu ái và kính phục đă tôn là Quốc sư - ngài Cưu Ma La Thập (Kumarajiva).

 

Quốc gia Kucha cổ dựa lưng vào núi Thiên Sơn (núi Tengri Tagh - dăy núi thần linh, theo tiếng Duy Ngô Nhĩ), dăy núi dồi dào khoáng sản ở phía bắc, có thể cung cấp cho các quốc gia trong khu vực. Nguồn nước ở đây cũng rất dồi dào, cho nên trồng trọt và chăn nuôi ở Kucha rất phát triển. Nằm trên giao lộ của con đường tơ lụa, nên Kucha phồn thịnh về thương nghiệp và thủ công nghiệp.

 

Tín ngưỡng Phật giáo được ở nơi đây rất mạnh. Đền chùa, miếu mạo được xây dựng với mật độ dày đặc. Đặc biệt, sẽ khó quên với ngôi chùa có tên Acharya, gắn liền với một giai thoại hết sức kỳ lạ. Câu chuyện ấy được ngài Huyền Trang kể trong “Đại Đường Tây vực kư”, đại ư như sau: Có một vị hoàng đệ đă tự hoạn ḿnh và bọc kín rồi trao vật ấy cho nhà vua trước khi vua du hành phương xa. V́ ông ta đă đoán trước và đúng thật rằng, khi ở lại thay vua trị nước, sẽ có người dèm pha ḿnh là người thác loạn, thông dâm với nữ nhân trong cung. Sự cẩn thận ấy đă bảo vệ được mạng sống của ḿnh dù giá trả hơi đắt. Kỳ lạ hơn ở chỗ nhân quả mầu nhiệm, sau khi ông ta cứu đàn ḅ 500 con trên đường đem đi thiến, cơ thể ông ta hoàn lại như xưa. Nhà vua cảm khái sự việc này, nên cho xây dựng chùa để tôn vinh giá trị tâm linh cao quư.

 

Trong “Đại Đường Tây vực kư”, Huyền Trang miêu tả về Kucha như sau: “Khuất Chi quốc Đông Tây thiên dư lí, Nam Bắc lục bách dư lí. Quốc Đại đô thành chu thập thất, bát lí”. Nghĩa là Nước Khuất Chi, Đông sang Tây dài hơn một ngàn dặm, Nam sang Bắc xa hơn 600 dặm. Kinh thành của nước này chu vi 17, 18 dặm.

 

Huyền Trang cũng miêu tả phiến đá ngọc nổi tiếng ở chùa Chiêu Hổ Ly trong cùng tác phẩm ấy: “Hoang thành Bắc tứ thập dư lí, tiếp sơn a cách nhất hà thủy, hữu nhị già lam, đồng danh Chiêu Hổ Ly, nhi Đông, Tây tùy xứng. Phật tượng trang sức đăi việt nhân công. Tăng đồ thanh túc, thành vi cần lệ. Đông Chiêu Hổ Ly Phật đường trung hữu ngọc thạch, diện quảng nhị xích dư, sắc đới hoàng bạch, trạng như hải cáp, kỳ thượng hữu Phật túc lí chi tích, trường xích hữu bát thốn, quảng dư lục thốn hĩ! Hoặc hữu trai nhật chiếu chúc quang minh.” Phía Bắc thành hoang hơn 40 dặm, bên ven núi, cách một con sông, có 2 ngôi chùa cùng tên Chiêu Hổ Ly, 1 chùa bên Đông, 1 chùa bên Tây, đối xứng nhau. Tô điểm cho các tượng Phật đại khái do nhân công từ xa tới phụ trách! Tăng chúng th́ thanh tịnh trang nghiêm, thành tâm siêng năng (tu tập). Trong Phật đường Chùa Chiêu Hổ Ly bên Đông có một phiến ngọc thạch, bề mặt rộng hơn 2 thước, màu trắng ánh vàng, có dạng như loài trai ṣ biển, trên mặt có dấu chân Phật dài 1 thước 8 tấc, rộng hơn 6 tấc! Vào những ngày chay có lúc phiến ngọc thạch này phát ra ánh sáng rực rỡ.)

 

Theo Hán Thư, Quy Tư (Kucha) là nước lớn nhất trong 16 nước Tây vực, dân số là 81.317 người, trong đó có 21.076 người có thể chiến đấu. Vào thời nhà Đường thống trị, thành Quy Tư (một trong An Tây tứ trấn) thường được coi là trị sở của An Tây đô hộ phủ. 

 

Thử h́nh dung ra vùng đất Kucha của 15 thế kỷ trước, đă có nhiều người dân Ấn Âu (Indo European) tóc đỏ, mắt xanh sinh sống ở đấy. Cổ thành Subaishi, thủ phủ của Kucha, là nơi hội tụ rất nhiều tộc người nô nức đến đây từ trú ngụ đến giao thương, tham quan, chiêm bái: Người Hung Nô, Turk, Cổ, Ba Tư, Ấn Độ, thậm chí cả những người Hy Lạp, Roma và dĩ nhiên cũng hiện diện rất nhiều người Trung Hoa đại lục, mà thời ấy gọi là người Hán. Phố xá náo hoạt liên hồi, từng đoàn ngựa thồ tơ lụa lũ lượt qua lại trên những con đường phủ bụi. Các thương lái tấp nập buôn bán, trao đổi hàng hóa với đủ loại ngôn ngữ, từ thổ ngữ Tochari đến tiếng Hán, cả tiếng Phạn cổ và nhiều tiếng nói của các sắc dân hiện hữu ở đây.

 

Xa xa kia là ḍng sông Muzat, một ḍng sông nhỏ xuất hiện từ những khe núi hiểm trở. Những đoàn người du mục trên sa mạc sẽ phát hiện các ốc đảo gần con sông này. Bờ sông là những vách núi cheo leo, nhưng lẫn khuất trong lớp bụi thời gian ấy là những lối ṃn cổ đạo, những lối đi quanh co, heo hút, h́nh thành nên huyết mạch quan trọng của con đường tơ lụa.

 

Và đây nữa, dăy núi Karadag hùng vĩ, ở đó gắn liền với một địa danh thắng cảnh Phật giáo rất nổi tiếng: Thiên Phật động Kizil, nằm trên mạn núi bờ bắc sông Muzat, cách trung tâm Kucha khoảng 75km về phía Nam.

 

Thiên Phật động Kizil.    ảnh: internet

 

Thiên phật động Kizil là quần thể hang đá nằm ở cực Tây, được xây dựng sớm nhất ở Trung Quốc. Ngôi chùa được xây theo kiểu kiến trúc hang đá trên vách núi, bên trong có rất nhiều bức bích họa và những hang đá kéo dài, chạy suốt dọc vách núi Karadag. Giá trị to lớn của di tích này nằm ở các bức bích họa, vẻ đẹp của nó có thể sánh ngang với các bức bích họa ở Đôn Hoàng.

 

Công tŕnh này được khởi công vào khoảng thế kỉ thứ 3, 4. Về mặt thời gian th́ những bích họa này c̣n ra đời trước các bức bích họa ở Đôn Hoàng trên hai thế kỷ. Phong cách nghệ thuật đậm màu sắc tín ngưỡng Phật giáo Đại thừa, là đặc trưng của nghệ thuật Kucha, là nguồn tư liệu quư giá để nghiên cứu về quốc gia này. Tiếc thay, về sau những người Duy Ngô Nhĩ theo tín ngưỡng Hồi giáo đă phá hoại nghiêm trọng.

 

Nếu được một lần đến Kucha, ta sẽ về với Kizil, để được tận mục sở thị ngọn núi Karadag hùng vĩ đang tắm ḿnh dưới ráng chiều huyền ảo, dăy hang đá dài bất tận với những cửa hang động đều tăm tắp, những chiếc thang gỗ cao chất ngất và những dăy hành lang bí ẩn len lỏi qua các hang đá. Buổi sáng, ta sẽ trèo lên một đoạn tường thành, phóng tầm nh́n ra xa, để thâu vào tầm mắt những ngọn núi trùng điệp nối tiếp nhau trên dăy Thiên Sơn, tuyết rơi trắng xóa. Dưới chân núi là những thửa ruộng vuông vức, với hệ thống thủy lợi tưới tiêu rất quy củ.

 

Đến Kucha, ta sẽ có cơ hội được tham dự lễ hội Tô Mạc Già, được tổ chức hằng năm. Vào ngày này, người dân Kucha tổ chức các hoạt động vừa tín ngưỡng, vừa văn hóa, vui chơi, giải trí. Mục đích chính của lễ hội là cầu xin trời Phật ban cho mùa đông giá lạnh, tuyết lớn kéo dài. V́ lạnh nhiều và tuyết dày, th́ mùa xuân năm sau, lượng nước sẽ dồi dào cho mùa màng tươi tốt. Lễ hội này vốn bắt nguồn từ phong tục của các quốc gia Phật giáo Tây vực, được chủ tŕ bởi các quốc vương. Đến kỳ lễ hội, cao Tăng khắp nơi và du khách thập phương nô nức tựu về. Các hoạt động sẽ diễn ra như: giảng kinh cho đồ chúng, biện kinh giữa các pháp sư hay nhóm trí giả, phát lộc cho tín đồ, cúng dường trai tăng... Mọi chi phí đều cho quốc vương đài thọ.

 

Bên cạnh lễ hội, Kucha cũng là xứ sở của âm nhạc. Âm nhạc Kucha rất phổ biến tại Trung Quốc vào thời nhà Đường, đặc biệt là đàn luưt (đàn t́ bà). Âm nhạc Kucha đă được truyền rộng từ Trung Quốc đến Nhật Bản, cùng với các nền âm nhạc khác thời Trung cổ. Gagaku, hay nhă nhạc Nhật Bản vốn có nguồn gốc từ Kucha.

 

Bên cạnh thiên nhiên, lịch sử, văn hóa, sở dĩ Kucha hấp dẫn tôi chính là v́ sự tôn kính tột bực đối với đại pháp sư, một dịch giả Phật giáo, để lại cho hậu thế một kho tàng đồ sộ kinh sách Phật giáo chuyển dịch từ Phạn sang Hán: Ngài Cưu Ma La Thập. Xuất thân từ ḍng dơi hoàng tộc, Ngài từ nhỏ có tư chất thông minh tột bực (mỗi ngày học thuộc cả ngàn bài kệ hơn cả vạn lời), nghiêm túc trong hành vi nhưng lại rất phóng khoáng trong tư tưởng. Đối với sự nghiệp dịch thuật, Ngài chọn phương pháp dịch khế hợp đại đồng các tầng lớp, làm toát nội dung kinh điển với ngôn ngữ mới mà vẫn không mất đi tinh chất của bản gốc.

 

Cuộc đời Ngài là một thiên trường ca đầy đủ các cung bậc bi tráng, hào hùng, đau đớn tột cùng cũng có, mà uy danh lẫy lừng cũng đủ. Lịch sử ghi lại, trước khi được vua Diêu Hưng trọng vọng, mở đạo tràng dịch kinh ở chùa Thảo Đường, xây dựng đồ chúng đệ tử mấy ngh́n người; Ngài đă bị đối xử hà khắc, thậm chí bị dùng nhục h́nh để ép phạm giới, và bị câu lưu suốt mười mấy năm dài bởi Lữ Quang - tướng nhà Tiền Tần, sau lập nên nhà Hậu Lương, và bị Diêu Hưng tiêu diệt.

Hành trạng của Ngài cũng rất ư phi thường. Vua Diêu Hưng kính trọng dâng 10 hầu nữ và được Ngài tiếp nhận ở vườn Tiêu Dao. Sự kiện này về sau các nhà sử học ghi lại không mấy tốt đẹp, đa số là thêm thắt những màu sắc thế tục, mà không hiểu trong hành trạng đặc thù của một bậc thánh, có những chuyện khó có thể dùng ngôn từ phàm phu để b́nh phẩm. Thời ấy, có một số vị Tăng bắt chước, cũng chứa mấy người nữ hầu; Ngài thấy vậy rất xót xa bèn triệu tập hết đại chúng, hai tay bưng hai bát đựng đầy kim trong đó và nuốt vào bụng. Sau đó ngài giáo huấn đồ chúng cẩn trọng trong việc phóng túng thân tâm, chạy theo h́nh tướng phàm phu mà xa ĺa mục tiêu chân đích; các vị Tăng kia từ đó không dám bắt chước theo nữa.

 

Trước khi viên tịch, Ngài nhóm hội chúng bảo: “Những kinh luật tôi đă dịch từ trước đến nay th́ chỉ có bộ Thập Tụng Luận là chưa kịp chỉnh lại cho đàng hoàng, nếu khế hợp với tâm Phật th́ sau khi thiêu, nguyện cho cái lưỡi không cháy tiêu.” Quả vậy, khi trà tỳ th́ cái lưỡi c̣n nguyên không hoại. Điều này chứng tỏ, công tŕnh dịch thuật vĩ đại của ngài xuất phát từ Phật tâm, và được lưu biểu bằng chân ngữ.

 

Hồi tưởng về người, một Kumarajiva vĩ đại, và một Kucha tuyệt vời, để trầm tư về những công đức to lớn c̣n bàng bạc trên những trang kinh, để rồi phóng tâm hồn ḿnh xa hơn với những hành tŕnh kỳ ảo, những bước chân vô tung, những vùng trời đầy ao ước. Và biết đâu, trong một thoáng chốc mây bay, hữu duyên ta sẽ được tự nghiệm tâm thức, thể nhập vào trạng thái tịch mịch cô liêu, nhưng ẩn chứa một nội hàm mănh liệt sức sống, để trải trang cho đời bao vườn hoa giải thoát.

 

Tượng ngài Kumarajiva trước Thiên Phật động Kizil

 


 

 

[1] Almold Toynbee (1889, 1975) - Khi lư giải sự phát triển và tan ră của các nền văn minh, ông đă từng nhấn mạnh vai tṛ của các giá trị tôn giáo và văn hóa và hạ thấp tầm quan trọng của các yếu tố kinh tế, đồng thời thể hiện niềm tin vào tác động sâu xa đối với lịch sử của chiều kích tâm linh.

 

 

 

Mục Đồng
1/6/2018

 

 

 

 

 

 

 

Trang Thơ & Truyện: Mục Đồng                |                 www.ninh-hoa.com