Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ & Truyện: Mục Đồng                |                 www.ninh-hoa.com



 

 Trần Thanh Thiên
Bút hiệu: MỤC ĐỒNG

   Người làng B́nh Thành,
xă Ninh B́nh.

 Cựu học sinh trường
Trung Học Nguyễn Trăi
niên khóa 1992-1995.
 

---˜ ] ---

Hiện đang du học
tại Delhi, Ấn Độ.

 

 

 

 

 


Thái Độ Thực Tiễn Của

PHẬT GIÁO
 

Mc Đồng

? ˜ { @

 

 

1. Sự vướng kẹt của triết lư:

 

Đối với các vấn đề nguyên ủy của thế giới và loài người, nhân loại thường có hai xu hướng chính: một xu hướng họ quy về cho Thượng Đế - một đấng tạo chủ sáng tạo ra vạn vật; một xu hướng thiên về suy tư, họ luôn đặt ra những câu hỏi siêu h́nh về thế giới, về đời sống con người. Trong bản kinh cùng tên Mālunkyāputta, số 63, thuộc Trung Bộ 2, tôn giả Mālunkyāputta vốn xuất thân là một tu sĩ lang thang đi t́m chân lư theo xu hướng tư duy như thế. Sau khi xuất gia tu hành theo Tăng đoàn của đức Phật, ông vẫn c̣n ôm ấp trong ḷng mười câu hỏi siêu h́nh như sau:

 

1 & 2. Thế giới là vĩnh cửu hay không vĩnh cửu?

3 & 4. Thế giới là hữu biên hay vô biên?

5 & 6. Sinh mạng và thân thể là một hay là khác?

7 & 8. Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết?

9. Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại?

10. Như Lai không tồn tại và cũng không có cái sự không tồn tại?

 

Ở đây, chúng ta mạn đàm về một vấn đề rất quan trọng, đó là thái độ của Phật Giáo đối với các vấn đề siêu h́nh cũng như các thuộc tính nhị nguyên (dualism) khác. Thế gian, những ai mắc kẹt vào những vấn đề này, họ cứ đinh ninh rằng sẽ có một câu trả lời thỏa đáng. Tuy nhiên, đối với đức Phật, Ngài chẳng những im lặng, không trả lời mà Ngài c̣n mắng Mālunkyāputta: “Này kẻ ngu kia!”.

 

Những cái thấy, cái tư duy như trong câu hỏi về thế giới và con người thuộc về nhị nguyên tính. Ngay câu hỏi đă sai, ẩn chứa tính hữu ngă, nên không thể có giải đáp đúng được. Ngay cái gọi là “thế giới” đă duyên sinh mà khởi, huống ǵ nó là vĩnh cửu hay hữu biên. Nếu trả lời theo những câu hỏi này, th́ bị dính mắc vào một trong các tà kiến: chấp thường (chủ trương cho rằng con người và vạn vật tồn tại vĩnh cửu, sau khi chết vẫn có một linh hồn) hay chấp đoạn (chủ trương cho rằng con người sau khi chết là hết). Câu hỏi như trên cũng giống như câu hỏi của con cá hỏi rùa về cái gọi là “đất” sau khi nghe rùa nói đi chơi trên đất mới về. Mālunkyāputta cũng giống như con cá vậy, hoàn toàn không biết ǵ về thực chất của “thế giới” cả, mà lại đặt câu hỏi về cái phạm trù ḿnh không biết nên trở thành ngớ ngẩn.

 

Tư duy nhị nguyên chỉ đẻ ra được hai phạm trù thuộc hai giới vức khác nhau như thế, hoàn toàn không thể thấy được một phạm trù thứ ba nào nữa. Cho nên, tư duy nhị nguyên đóng khung thế giới lại trong một vũ trụ giới hạn, nghèo nàn. Và, nó chỉ h́nh dung ra cái ǵ có tướng thôi, chứ không nắm bắt được lĩnh vực thuộc vô tướng, rồi đặt ra những cái tướng này tướng nọ, nào là thế giới, nào là thường hằng vĩnh cửu, v.v. Mà trong kinh Kim Cang, đức Phật đă dạy: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”.

 

Các nhà triết học hiện đại cũng thường mắc kẹt vào t́nh trạng này: Đặt những câu hỏi hoàn toàn sai lệch, vô bổ mà cứ tưởng là ghê gớm lắm! Làm sao mà có thể tư duy được cái ḿnh không biết? Người xưa thường nói: “Muốn biết th́ hỏi”, nhưng cái hỏi ấy phải dựa trên một nền tảng thường nghiệm nào đó. Không biết ǵ về khái niệm ấy mà hỏi theo kiểu lựa chọn đáp án do ḿnh đặt ra là sai quấy. Do đó, ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ có câu:

Đạo bất tại vấn, vấn bất tại đạo” (Đạo không có trong câu hỏi, câu hỏi không có trong Đạo). Tất cả câu hỏi th́ thuộc hữu ngă, nên không thể tồn tại trong Đạo, nên nói trong Đạo không có câu hỏi.

Chân nghĩa của vĩnh cửu là Duyên Khởi. Cái ǵ vô ngă tính, thoát ra khỏi ngă tưởng, thoát ra khỏi khái niệm, không c̣n vướng kẹt vào thời gian, không gian, cái đó là vĩnh cửu. “Vĩnh cửu” trong câu hỏi của Mālunkyāputta là thuộc về ư niệm, nó không phải là vĩnh cửu như thật nghĩa. Thắc mắc về thế giới này vĩnh cửu hay không là khái niệm hữu tướng đối lập nhau, là sản phẩm của tư duy. Ngay trong hiện tại, nếu ḿnh dập tắc được tư duy, th́ ngay khí ấy đi vào vĩnh cửu, tức vĩnh cửu mặc nhiên hiển thị. Phạm trù của “vĩnh cửu” thật khó nói, v́ vừa muốn nói là lập tức khởi lên ư niệm liền. V́ lư do đó mà đức Thế Tôn không trả lời.

 

Lư do thứ hai là việc trả lời câu hỏi này không có ích lợi ǵ cho việc tu tập cả. Nếu Như Lai có trả lời, th́ vấn đề lớn của Mālunkyāputta và của con người nói chung, cũng không được giải quyết, đó là vấn đề sanh, lăo, bệnh, tử. Cho dù, biết rơ sự thật thế giới có thế nào đi nữa, th́ sanh vẫn c̣n đó, tử vẫn c̣n đó, nguyên khối khổ uẩn vẫn c̣n đeo đẳng theo chúng sanh trong bao kiếp luân hồi. Vấn đề cần đối mặt là nỗi khổ đau. Khổ đau là cái có thật và cần phải đi ra. Đó là thái độ thiết thực của đức Phật, thái độ của một nhà Đạo học: Không nói triết lư. Đạo Phật không phải là một hệ thống triết lư, nhưng v́ để phổ cập với người đời, để người đời thấy vị trí của Đạo giải thoát mà phải nói ra các triết lư Duy Thức, Tánh Không .v.v.

 

Câu hỏi về “Sinh mệnh và Thân thể” đă giả định rằng có một cái ngă “sinh mệnh” và cái ngă “thân thể” riêng biệt. Sự thật sinh mệnh hay thân thể đều là nhân duyên mà có, không có thực thể. Cho nên, nếu trả lời câu hỏi về sinh mệnh và thân thể là sai ngay. Chỉ lập luận trên logic, nếu sinh mạng và cơ thể là một, th́ khi cơ thể chết, sinh mạng cũng phải mất chứ, tại sao vẫn c̣n nghiệp thức đi đầu thai? C̣n nếu sinh mạng và thân thể là khác nhau, tại sao khi thân thể lịm tắt như bị chích thuốc mê, th́ sinh mạng hay thức không biết ǵ cả? Cho nên, sinh mệnh và thân thể là những duyên tồn tại chung trong một hợp thể ngũ uẩn, nếu tách riêng ra để hỏi th́ vô lư, vô bổ.

Như thế, thực tại như thật, hăy để nó sống động, và ta cũng sống với thực tại ấy, không nên đem chia chẻ ra rồi đặt vấn đề. Thực tại cũng không nằm trong ư niệm trước sau, chỉ v́ giả tưởng, mộng mị mới đặt ra trước sau, c̣n thực tại không có trước sau. Câu hỏi về trứng gà và con gà cái nào có trước cũng vậy. Đă đặt các pháp vào chiều dọc suy tư và phân biện trước sau như thế th́ chỉ có loạn tâm thôi.

 

Thế giới là một khái niệm tưởng tượng, vốn nó không có, và hữu biên hay vô biên cũng là những khái niệm giả tạm đặt ra. Nó là những ngă tướng do tư duy (vô minh) của ḿnh h́nh dung ra. Thế giới này là một, tất cả là một, một là tất cả. Thế giới này là một pháp giới duyên khởi thế thôi. Nếu hỏi nước và sóng là khác hay một, nói khác cũng sai, nói một cũng sai. Cho đến khi nào biết sóng chính là nước th́ không hỏi nữa.

 

C̣n vấn đề “Như Lai” trong câu hỏi của Mālunkyāputta là hỏi về cơ thể của đức Phật Thích Ca, thuộc sắc uẩn. “Như Lai” mà tôn giả hỏi đó là khái niệm Như Lai được cảm nhận qua năm giác quan, cũng là một ngă tướng do người hỏi đặt ra. Tồn tại hay không tồn tại là khái niệm thuộc thời gian. Như Lai là một bậc đă thoát ly ngũ uẩn, thoát ly sự đối đăi, dập tắc và đoạn diệt ngũ uẩn rồi, mà câu hỏi và trả lời c̣n nằm trong phạm trù của năm uẩn. Làm sao có thể đem cái hữu hạn hữu lượng mà có thể đong đo cái vô lượng của Như Lai được? Cho nên, người đă biết thế nào là “Như Lai” th́ chỉ có thể cứng lưỡi, không thể giải thích được, và cũng không cần đặt câu hỏi nữa.

 

Ví dụ như ngay cả một chuyện rất nhỏ đă từng được kinh nghiệm ở đời: Đó là Yêu với Ghét, ai cũng biết, nhưng khi hỏi yêu là thế nào, không ai có thể nói được. Có nói th́ cũng gượng ép, hay diễn tả một khía cạnh rất nhỏ nào đó. Ngay cái kinh nghiệm sờ sờ đó mà c̣n không nói được, nói ǵ đến thế giới, đến Như Lai!

 

Có một thiền sư ngộ đạo đang ngồi thảnh thơi trên bồ đoàn uống trà, với vẻ mặt hiển rơ niềm hỷ lạc. Một thiền giả thanh niên luôn có những hoài nghi, thắc mắc, thế nào là Niết Bàn, cực lạc, và chân tướng là ǵ? Anh ta quyết t́m cho ra sự thật, đến gặp vị thiền sư ngộ đạo kia, khoe với Ḥa thượng “Bạch Ḥa thượng, con đă 15 năm tu theo kinh Kim Cang”. Ḥa thượng mới hỏi: “Kinh Kim Cang nói ǵ?” Thiền sinh kia bắt đầu trả lời, vừa mở miệng định nói bị Ḥa thượng cầm cán quạt đập cho một cái “bốp” ngay miệng, sưng vù lên. Anh ta tỉnh, nhờ sưng vù cái miệng mà ngộ đạo. Kim Cang có ǵ mà tu? Tu ngay cái chỗ không tu đó mới là tu.

 

Ta có thể định nghĩa Như Lai một cách tạm thời theo các kinh điển: Như lai có thể một người, vị trời, hay Càn Thát Bà, A Tu La... nhưng chúng sanh đó đă đoạn tận lậu hoặc. Ngài đă cùng pháp giới hiện hữu rồi, chỉ tùy duyên mà hiện thân 32 tướng để cứu độ chúng sanh thế thôi. Ngài thị hiện ở cảnh giới nào th́ phương tiện hiện thân bằng xương thịt để chúng sanh đón nhận qua cảm nhận giác quan của chính họ. Nên chúng sanh hiểu lầm Như Lai là cái thân đó. Kinh Kim Cang nói: “Không thể dựa vào 32 tướng để thấy Như Lai được.” Như Lai không phải là cái thân đó, mà Như Lai cũng chính là tướng đó (v́ tùy duyên). Như Lai là sự thật, là trí tuệ mà ḿnh thể nhập, phải vào được cảnh giới đó mới biết. Chỉ có Như Lai mới hiểu được Như Lai, khi lậu hoặc tiêu cũng chưa hoàn toàn biết về Như Lai, chỉ thấy bằng trí tuệ thôi.

 

Cảnh giới Niết Bàn của Phật là chỗ không thể nói được. Bao nhiêu bộ kinh luận cũng đều dùng cách phủ định để liên hệ. Ngay t́nh mẹ cũng vậy. Muốn ca ngợi t́nh mẹ phải dùng khái niệm vô ngă như đạo Phật mới nói được, v́ t́nh mẹ là thiêng liêng, không thể dùng ngôn ngữ thường t́nh mà tả hết được. Chỗ t́nh mẹ là chỗ không thể nói được? Chỉ có thể nh́n nhau thôi là hiểu rồi, đó là chỗ sống. Làm sao có thể nói được: “Mẹ ơi! Mẹ có biết là con yêu mẹ lắm không?”

 

2. Thái độ thực tiễn:

 

Triết lư là hỏi và bàn về cuộc đời. Nếu triết lư là để t́m hiểu về thế giới và con người, th́ đạo Phật có nói tới vấn đề đời sống con người, nhưng nói bằng con đường thực hành, chứ không phải bàn bạc, phân tích rồi viết thành những pho sách, những hệ thống lư luận. Sự thật của cuộc đời là phải “sống với”, chứ không phải để “nói về”. Một bà mẹ thương con, là sống với đứa con, chứ không phải bàn về, nói về đứa con. Khi nhớ nhung một người, ta thường dùng h́nh ảnh hay những kư ức để tư duy về người đó, nhưng càng tư duy, ta càng nhớ, chứ không thể dập tắc nỗi nhớ nhung ấy.

 

C̣n vấn đề của tôn giáo: Chiêm ngưỡng h́nh ảnh, lạy lục thờ cúng các h́nh tượng, đó là tôn giáo h́nh thức. Phật giáo không phải là tôn giáo h́nh thức, mà là con đường giải thoát. Khi nào con người trở về sống thật sự với tâm linh của chính ḿnh (sống với), cấp độ đó mới thật sự là nhân bản trí tuệ; c̣n nếu con người chỉ chú trọng tôn giáo h́nh thức, lạy lục thờ cúng (nh́n về, nghĩ về), đó là cấp độ suy thoái.

 

Đức Phật dạy: “Ta chỉ nói khổ và con đường diệt khổ” – chủ trương của đạo Phật là vậy. Không phải thấy qua người khác, mà phải thấy ngay nơi trí tuệ tự tu chứng của ḿnh.

 

Đối với các câu hỏi siêu h́nh, đức Phật nêu một thí dụ đặc sắc như sau: Như có một người bị tên độc bắn trúng. Việc khẩn thiết nhất là rút mũi tên ra và băng bó vết thương, không phải hỏi cho rơ nguồn gốc mũi tên, chất liệu độc, và người bắn tên là ai, vân vân.

 

Đó là một thái độ hết sức thực tiễn, và cũng đúng nghĩa là cứu tinh của nhân loại. Con người hiện đang bị vô số mũi tên độc của tham, sân, si hoành hành. Việc cấp thiết nhất là nhổ tận gốc tham sân si và đẩy lùi các nguyên nhân khổ đau, để con người đạt được sự tự do tâm linh. Nếu cứ luẫn quẫn với những câu hỏi đó, người ôm nó sẽ bị chết thê thảm trước khi có lời giải đáp như kẻ bị tên độc hoành hành mà không chịu rút tên.

 

Cuộc sống này đâu chỉ có những khái niệm hạn hẹp như thế. Thói thường, hễ không trắng th́ đen, hễ không ủng hộ là chống đối... đó là sự phi lư của tư duy. Cuộc sống c̣n cao đẹp hơn nhiều, rộng mở bao la hơn nhiều, đâu phải chỉ hai cực đoan trắng đen, phải quấy ấy. Chính cái đen - trắng, thị - phi đó, riêng nó c̣n chưa có (bởi nó cũng Duyên sinh) th́ làm thế nào liên hệ gán ép tính chất ấy cho cuộc đời được? Riêng đạo Phật th́ không khẳng định, cũng không khước từ theo khái niệm, chỉ có một thái độ “im lặng sấm sét” thôi. Nên, người đời thường cho đạo Phật là “ba phải” - v́ hiện tượng “không lập trường”. Lập trường làm sao được? Lập trường là cái chỗ đứng; làm sao có thể đứng khi nơi đó là chỗ của mộng mị, khổ đau, nơi của nguồn gốc sanh tử, không phải nơi của giải thoát. Người phàm phu c̣n chưa chọn lựa để đứng, huống ǵ bậc Đại Trí như đức Phật!

 

Thái độ tâm linh thực nghiệm này giúp cho hành giả mau chóng liễu thoát sanh tử hơn, có lợi hơn là giải đáp. Thế mà người khác, ngay cả đệ tử Phật như Mālunkyāputta lầm tưởng là đức Phật bất lực, không thể giải đáp.

 

Nên biết, đạo Phật không phải nói triết lư. Lời dạy của Phật là để thực hành thôi. Mỗi mỗi mệnh đề trong đạo là công án, công phu, không thể bàn tới, đàm luận. Khi nào hành, Diệu pháp xuất hiện. Phật pháp mà chỉ học, chỉ bàn thôi, đó là hiện tướng mạt pháp. Mạt Pháp không có nghĩa là pháp bị mất, mà pháp tuy có đó nhưng không có ai hành, ai chứng. Bởi vậy, không thể nói nữa, mà hăy lên đường thôi.

 

Tóm lại, đến với đạo Phật là t́m hiểu sự thật và để thực hành. Nếu chỉ t́m hiểu triết lư mà không hành th́ không bao giờ thấy được sự thật. Do đó, thái độ của hành giả khi t́m hiểu vào các kinh điển, hay cái nh́n của một người đối với đạo Phật cũng vậy. Hăy nh́n thấy tổng thể các khía cạnh của nó, không thể đem cái hiểu biết thiển cận của ḿnh túm lấy một vài hiện tượng nhỏ nào đó, rồi cho rằng đó là Đạo Phật. Nên nhớ, đạo Phật là con đường để thực hành. Không thực hành th́ không thấy được cái hay, cái đẹp của con đường, và do đó cũng không có quyền b́nh phẩm về con đường đó như thế nào.

 

 

? ˜ { @ 

 Mục Đồng
 

 

 

 

Trang Thơ & Truyện: Mục Đồng                |                 www.ninh-hoa.com