trang truyện và Thơ của Trần Hà Thanh              |                 www.ninh-hoa.com

TRẦN HÀ THANH

  Cựu Hiệu trưởng:
Trung học Ninh Ḥa
(Trần B́nh Trọng)
Niên khóa 1971-1975


Hiện cư ngụ tại:
Tiểu bang California,
Mỹ Quốc


 

 

 

 

 


NHỮNG NGÀY THÁNG 4 NĂM ẤY
Trần Hà Thanh
 

 

Thế là tôi đă rời bỏ Trung Học Ninh-Ḥa như một kẻ đào nhiệm. Hôm đó là ngày 31 tháng 3 năm 1975. Tôi theo ḍng người chạy loạn về phương nam. Chúng tôi dừng chân ở Cam Ranh. Sáng 1 tháng 4 năm 1975 chúng tôi thực hiện một chuyến về Ninh Ḥa trước hết biết t́nh h́nh sau nữa nếu có thể thu xếp việc trường lần cuối như thầy Hiệu Trưởng Trung Học Bán công Ninh-Ḥa đă làm. Chuyến đi không thể thực hiện được v́ từng đoàn người xen lẫn với ḍng xe đủ loại ùn ùn kéo về nam nên chúng tôi đành trở lại Cam Ranh. Chiều xuống dần xe và người vẫn tiếp tục xuôi nam. Ra biển Ba Ng̣i để t́m phương tiện đường thủy để đi nam th́ không t́m ra phương tiện nào nữa, đến chiều tối tôi kiếm phương tiện theo đường bộ về Phan Rang. Khi chúng tôi vừa đến rừng dừa gần ranh giới giữa Cam Ranh-Phan Rang th́ một máy bay F5 của Không Lực VNCH đánh sập chiếc cầu thế là hành tŕnh bị gián đoạn. Ngày 2-4-1975 chúng tôi tiếp tục ra đi. Cuộc hành tŕnh tiếp tục bị gián đoạn ; phía trước cầu găy, cướp hoành hành, súng nổ liên hồi, phía sau th́ xe tăng Bắc Việt đă xuất hiện ở ranh giới Khánh Ḥa-Cam Ranh. Ngày 3 tháng 4 năm 1975 chúng tôi mới dừng ở Nhà Thờ Hộ Diêm cách Thị Xă Phan Rang khoảng 20 km. Nơi Nhà Thờ Hộ Diêm tôi gặp vô số người từ miền trung, cao nguyên kể cả Đà Lạt tràn về đây. T́nh cảnh chúng tôi không đường tiến thối :

 

 Tây phương không đường đến,

 Bắc lộ khó ngơ qua

 Đường Nam phương thấy đó chẳng xa

 Th́ lại ngại quân ăn cướp.

 ( Nguyễn Cư Trinh – Săi Văi )

 

Hoàn cảnh của chúng tôi bị kẹt dọc đường là như thế đó.

 

Phía tây ( hướng Phan Rang-Đà Lạt ) th́ người ta di tản xuống. Quốc lộ 20 nối liền Saigon bị cắt đứt. Phía bắc th́ xe tăng Bắc Việt đang tiến về nam. Về phía nam là hướng chúng tôi mong ước đến nơi th́ bị nạn cướp. Bọn cướp không coi tính mang người ra ǵ. Nói thêm phía đông là biển cả, mà biển cả th́ không có tàu của Hải Quân VNCH.

 

Những toán cướp dùng xe rượt đuổi nhau trên quốc lộ tiếp tục đến xế chiều. Lúc đó t́nh h́nh trên quốc lộ dần dần lắng dịu. Từ sự lắng dịu nầy, một lo âu khác hiện qua nét mặt của mọi người. Xe tăng của Bắc Việt xuất hiện ở Thị trấn Ba Ng̣i ( Cam Ranh ) cách nơi dừng chân của chúng tôi khoảng 20 km. Đang âu sầu như thế th́ mọi người vui mừng chỉ về hướng phi trường Tháp Chàm máy bay trực thăng lần lượt lên xuống. Rồi vài chiếc trực thăng lượn gần chúng tôi. Những h́nh ảnh đó như những chiếc phao cứu hộ rơi xuốn g biển cả cho những người bị đắm tàu. Nh́n về hướng bắc một số người di tản tiến về phía chúng tôi, họ báo cho chúng tôi biết lính dù đă đóng chốt ở Ba Tháp và địa phương quân đóng ở Du Long.Đang chuyện tṛ th́ chúng tôi chơt thấy một người trung niên mặc áo quần ngủ, đi xe vespa từ hướng bắc ghé lại, nét mặt bơ phờ như vừa thoát hiểm nói không ra hơi : ” Đây có phải là vùng tự do không ? “ Không ai trả lời mà như ông ta cũng tự biết đây là vùng c̣n do chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa kiểm soát. Ông ta c̣n nói ở Nha Trang có chính quyền mới do Bác Sĩ Nguyễn … thuộc. Lực lượng ḥa hợp ḥa giải đảm trách. Về sau chúng tôi được nghe kể lực lương ḥa hợp ḥa giải làm việc được mấy ngày thôi. Sau buổi chuyện tṛ đó chúng tôi c̣n biết tin tàu lớn của hải quân VNCH đang ở ngoài khơi Ninh Chữ Phan Rang. Nhưng trời đă tối rồi và không rành đường ra biển nên đành đợi sáng mai thôi.Đến tối qua đài phát thanh Saigon chúng tôi được biết tin Quân Đoàn 3 ra tiếp thu phần đất c̣n lại của Quân Khu 2 ( Quân Đoàn 2). Pḥng tuyến Phan Rang do tiền phương của Quân Đoàn 3 đảm nhiệm. Nghe tin ai nấy đều thở phào : thoát được nguy nan. Tất cả đều trông mau sáng để t́m đường về nam. Trong thư thả chúng tôi nghe những bài b́nh luận vẫn c̣n có lợi cho Miền Nam Việt Nam như là họ (những người đi lánh nạn ) bỏ phiếu cho Miền Nam Việt Nam bằng hai chân ( chạy về phía Viêt Nam Cộng Ḥa ), đài phát thanh ngoại quốc c̣n chê ông Kissinger qua bức biếm họa : ông ta cầm nửa giải Nobel Ḥa b́nh 1973 chạy theo ḍng người tỵ nạn. Chúng tôi c̣n được tin ( không biết lúc đó nên vui hay buồn ) Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford có kế hoạch di tản cô nhi từ Miền Nam Việt Nam sang Mỹ.

 

Về sau nầy chúng tôi mới biết đó là dấu hiệu báo trước Mỹ bỏ Miền Nam Viêt Nam.

 

Sau một đêm dài chờ sáng th́ có xe từ Phan Thiết trở ra, chúng tôi biết t́nh h́nh trong đó, an ninh đă văn hồi. Chúng tôi chen chúc lên xe về nam. Đến thị xă Phan Thiết th́ không có xe nào chịu đi B́nh Tuy v́ ngại không an toàn. Lúc đó một người chủ xe tốt bụng đưa chúng tôi về phía biển Thanh Hải. Đến đây chúng tôi gặp chủ tàu chiếc 6 lốc có chuyên chở 4 hoặc 5 chiếc xe hơi. Ông ta nói trưa mai ( khoảng 24 giờ nữa ) tàu mới khởi hành đi Vũng Tàu. Chúng tôi than trời ơi mai mới khởi hành. Chủ Tàu an ủi và bảo đảm : Chúng tôi c̣n đi lại nhiều chuyến nữa, nếu lo ngại th́ lên ngủ trên tàu. Rồi ông chỉ về phía lầu Ông Hoàng và nói bộ chỉ huy Tỉnh B́nh Thuân đóng ở đó, ngoài khơi th́ tàu của Hải Quân VNCH đang canh tuần. Nghe t́nh h́nh như thế chúng tôi như trut sự sầu muôn đă đeo đuổi chúng tôi suốt một tuần qua. Trời tối dần nhưng chúng tôi thấy an toàn v́ bóng dáng những người lính và xe nhà binh xuất hiện bên chiếc cầu. Sau một tuần chúng tôi mới ăn một bữa cơm ngon dù thức ăn là lương khô và cá khô. Cũng gần một tuần chúng tôi mới thấy bóng dáng người lính VNCH như thấy được sự sống c̣n xuất hiện hồi Mậu Thân 1968.

 

Hôm sau chúng tôi rời Phan Thiết về nam bằng đường biển. Khởi hành dưới bầu trời trong xanh nắng đẹp. Nắng đẹp so với những cơn mưa lạnh những ngày qua. Sau nầy chúng tôi mới rơ : Khi xe tăng Bắc Việt xuất hiện nơi nào th́ nơi đó đều có trận mưa trái mùa và rét buốt nữa !

 

Trở lại cuộc hành tŕnh, chiếc tàu đánh cá 6 lốc máy chở chúng tôi về nam dưới bầu trời trong xanh nắng ấm chan ḥa, con tàu chầm chậm lướt sóng, xa xa ngoài khơi chiếc tuần dương hạm ( thuộc Hải Quân VNCH ) đang tuần tiểu ; một bên là bờ biển với những đồi đá thấp trên hết là ngọn hải đăng cao hướng ra biển cả. Bờ biển nầy như là bức tường thành của lănh thổ VNCH c̣n lại. Chiều xuống dần rồi đêm đến không trăng, gió mùa thổi mạnh con tàu lướt sóng trong khoảng không đen như mực. Trong khoảnh khắc tịch mịch đó, qua radio chúng tôi biết được tin tức từ thủ đô Saigon và quốc tế. Chúng tôi tự hỏi không biết tương lai Đất Nước như thế nào. Ḷng buồn hơn nữa khi nghe ông bạn đồng hành –Bắc di cư 1954- than thở : ông ta đă di tản từ 10-3-1975 đến nay : Đà Lat – Cam Ranh – Phan Thiết- B́nh Tuy rồi trở lại Phan Thiết để đi Vủng Tàu như chúng tôi. Ông than thở nay mất tỉnh nầy mai mất tỉnh khác không biết tương lai ra sao. Chạy đi đâu khi Miền Nam không c̣n. Chúng tôi rung ḿnh nhớ lại mùa hè năm trước 1974 tại Phan Rang, một đàn sâu dài từ trên núi kéo xuống đồng bằng băng qua quốc lộ 1 hướng về bờ biển, đàn sâu đến bờ biển, chốn tuyệt lộ rồi chết ở đó. Thế mà hàng hàng lớp lớp sâu cứ tiến ra biển cả. Hơn một năm sau có phong trào vượt biên khi các trại tạm cư bắt đầu đóng cửa ( các trại nầy được thành lập khi Saigon thất thủ ngày 30-4-1975 ). Cuộc ra đi đầy mạo hiểm “t́m cái sống trong cái chết “ giống đàn sâu kia ! Phong trào nầy kéo dài cho đến năm 1990. Theo thống kê th́ có đến gần triệu người bỏ mạng trên biển cả hoặc rừng sâu.

 

Trở lại kể tiếp hành tŕnh dến Vũng Tàu. Một bạn đồng hành chúng tôi v́ quá nôn nóng trông đợi gặp gia đ́nh nên mỗi lần thức giấc nh́n vào đêm đen và nói đă tới Long Hải rồi. Ông bạn chưa hề đi biển nên không rơ Long Hải rất gần Vũng Tàu. Đang tṛ chuyện cho thời gian trôi nhanh th́ một người reo lên : Đến Vũng Tàu rồi. Con tàu chầm chậm tiến, ánh đèn đêm hiện rơ dần. Ánh sáng đèn rada quét màn đêm cho chúng tôi nhận rơ một phần thành phố Vũng Tàu phía bờ biển. Tuy không nói ra nhưng ai cũng thầm nhủ : đă tới bờ biển Miền Nam Tự Do. Tàu đến nơi nhưng phải neo đậu xa bờ. Chờ đến sáng nhà chức trách mới cho cập bến. Trời sáng dần. ánh b́nh minh lên cao quét sạch màn đêm. Thành phố Vũng Tàu dần dần rộn rịp dưới ánh nắng mai.

 

Chúng tôi thuê xe về Saigon ngay. Hôm sau chúng tôi ra phố hướng về trung tâm tiếp nhận. Đường phố Saigon rộn rịp hơn thường lệ do những đợt di tản từ miền trung và cao nguyên về đây. Đặc biệt nơi Ṭa Đại Sứ Mỹ trên đường Thống Nhất : một cảnh tượng chen chúc nhau. Đó là nhân viên làm Sở Mỹ và thân nhân chen lấn nhau ghi danh xin ra đi. Thế là song song việc di tản cô nhi người ta chuẩn bị một đợt di tản khác. Người ta đang lập danh sách chuẩn bị di tản. Khi hỏi lúc nào th́ di tản th́ người ta cho biết khi nào trên đài phát thanh quốc tế ( Hoa Kỳ ) phát đi bài ca “ I dream The White Snow “ tôi mơ mùa tuyết trắng th́ chuẩn bị di tản.

 

Có một buổi sáng ngày 10 tháng 4 năm 1975 khắp đường phố Saigon, người treo cao nhiều khẩu hiệu với những hàng chữ “Long Khánh, Long An là mồ chôn của cộng phỉ “Rồi tin tức chiến sự cho hay quân lực VNCH đă đẩy lui mấy sư đoàn quân Bắc Việt ra khỏi thị xă Long Khánh, giải vây Long An : Quốc lộ 4 Saigon – Miền Tây được khai thông. Gạo cũng như thực phẩm tươi sống được tiếp tế đều đặn về Saigon. Truyền h́nh và đài phát thanh trấn an qua sự dẫn chứng : Nếu không may Saigon bị bao vây và bị cô lập với bên ngoài th́ kho an toàn thực phẩm có đủ lương thực cung cấp cho dân trong thời gian 8 tháng. Trận đánh Long Khánh ngày 9, 10-4-1975 là trận giao tranh duy nhất và ác liệt nhất giữa quân lực VNCH và bộ đội Bắc Việt từ 10-3-1975 đến 30-4-1975.

 

Người ta hy vọng cuộc chiến đó sẽ lập lại như mùa hè đỏ lửa 1972. Người ta c̣n ví von trong hy vọng : trận chiến Long Khánh là trận Valmy 1792 đă cứu cách mạng Pháp 1789. V́ năm đó 1975 Long Khánh Long An là cửa ngơ vào Saigon.

 

Thế nhưng hy vọng để rồi thất vọng rồi tuyệt vọng : Phan Rang rồi Phan Thiết di tản chiến thuật ngày 17-4-1975 rồi Long Khánh mất ngày 21-4-1975. Cũng từ ngày 21-4-1975 Saigon bước vào những ngày hấp hối. Khi tin mất Long Khánh đến khi Tổng Thống Gerald Ford trên đường ra sân Golf. Tổng Thống dừng lại và nói : T́nh h́nh Nam Việt Nam như thế chỉ có trời mới cứu nỗi. Nói xong Tổng Thống tiếp tục ra sân golf. Trước đó Tổng Thống Ford xin quốc hội cấp 200 triệu USD để “ di tản những người đă hợp tác với chúng ta trong 15 năm qua “ Song quốc hội bắn tiếng : nếu chỉ di tản 6000 người Mỹ th́ cần ǵ đến số tiền đó. Thế là từ 28-4-1975 một cuộc di tản hay tháo chạy trong hổn loạn. Tiếp đến Nam Việt Nam đầu hàng ngày 30-4-1975

Cho đến bây giờ người ta đánh giá quân lực VNCH với nhiều thiên kiến hoặc thiên vị : nào là lính VNCH không chịu chiến đấu, chỉ lo tham nhũng v/v c̣n nói lính VNCH giỏi hơn lính Bắc Việt th́ nói giỏi sao lại thua. Sự việc Miền Nam thua trận không phải đợi sau 30 -4-1975 người ta mới đem ra tranh luận. Tối 28-4-1975 sau khi Tướng Dương Văn Minh nhận chức Tổng Thống. ông Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện VNCH đă tuyên bố :” Thế là chúng tôi thua. Song có một điều an ủi là chúng tôi thua người Việt Nam “. ChỈ thấy về sau nầy th́ mọi người mới sáng mắt ra :thua người Việt mà quá tệ hại so với thua quân Minh ( đầu thế kỷ 15 ) hay thua quân Pháp( cuối thế kỷ 19. )

 

Rồi đây lịch sử sẽ có cái nh́n khách quan về thể chế VNCH ở Miền Nam Việt Nam 1954-1975 trong đó quân l cống hiến thời son trẻ cho Quê Hương. Với họ th́ :

 

 Phận dù không gác khói đài mây,

 Danh đă dậy ngàn cây nội cỏ.

 ( VĂN TẾ TƯỚNG SĨ TRẬN VONG ).

 

Chúng tôi tin tưởng như thế.

 

Th́ đây, có lời nói của cựu Trung Tá Trần Ngọc Huế :

“ Người Mỹ đă nghĩ đến cá nhân tôi, nhưng tôi sẽ đọc diễn văn và tôi xin trân trọng nói với họ rằng người anh hùng vĩ đại và không được ca tụng đó là quân lực VNCH. Cá nhân tôi ( cựu Trung Tá Huế ) chỉ là một đóng góp nhỏ bé trong tập thể quân đội và đất nước của tôi. Tôi nghĩ danh dự nầy là một cơ hội để các thế hệ hôm nay và mai sau nhớ đến một quân lực bất hạnh, hy sinh rất nhiều, chiến đấu rất anh dung nhưng cuối cùng đă bị quên lăng “ ( Theo Rfa ngày 14-4-2016 : Một Người Việt Được Vinh Danh Người Hùng Thầm Lặng )

 

Ngày 24-4-2016 tới đây tại thành phố Kansas City, Tiểu Bang Kansas, Trung tâm Lowell Milken sẽ khánh thành pḥng triển lăm “Những Người Hùng Trầm Lặng “

 

Chúng tôi cùng trang lứa với họ, nghĩa là cùng trưởng thành trong chiến tranh, song chúng tôi được may mắn dạy học và sống an b́nh ở hậu phương. Những ngày tháng cuộc chiến trở nên ác liệt, ranh giới giữa tiền tuyến và hậu phương không c̣n phân biệt được nữa : bất kể ngày hay đêm đạn pháo 122 đều rơi xuống trung tâm đô thị. Thế nhưng thầy vẫn dạy tṛ vẫn học. Sinh hoạt học đường dần trở lại b́nh thường. Tiếng súng và pháo ra xa tận tiền đồn heo hút.

 

Những năm cuối cùng của thể chế Việt Nam Cộng Ḥa mặc cho cuộc chiến vẫn gia tăng cường độ ác liệt, chúng tôi vẫn có được cuộc sống thanh b́nh như thời tiền chiến. Đó là cuộc sống nơi thị trấn Ninh-Ḥa từ 1970-1975. Ninh-Ḥa nằm trên quốc lộ 1 nơi ngả ba quốc lộ 21 đi Ba Mê Thuộc. Ninh-Ḥa có Sông Dinh hiền ḥa bắt nguồn từ rặng Trường Sơn băng những cánh đồng bao la rồi đổ ra biển cả. Ninh Ḥa có núi cao bao quanh như những bức tường thành. Những tường thành đó mang nhiều biệt danh mật khu. Nhưng đối với chúng tôi đó là trường thành đem sự an binh. Sự an b́nh có được nhờ những bước chân âm thầm của những người lính. Họ thường xuyên đi sâu vào đất địch để hậu phương có cuộc sống yên b́nh. Có họ chúng tôi mới có một không gian và thời gian thanh b́nh : được sống dưới mái trường như một đại gia đ́nh. Họ là những chiến sĩ vô danh ( chúng tôi không có cơ hội gặp và quen biết ), họ cùng trang lứa với chúng tôi,sớm khoát áo chinh y dấn thân vào nơi gió cát để hậu phương được an b́nh.

 

Cho nên mỗi độ tháng tư về chúng tôi tưởng nhớ họ trong khi đồng minh của chúng ta đă vinh danh những người lính từng chiến đấu ở Việt Nam. Xin nhắc lại những cựu binh Mỹ từ Việt Nam trở về đă từng bị phỉ báng nguyền rủa là quân giết người, giết trẻ thơ. Độc ác thay phong trào phản chiến.

 

Chúng tôi biết ơn họ v́ chúng tôi may mắn hơn họ : được sống hậu phương học hành tới nơi tới chốn cũng như rao giảng triết lư giáo dục Dân Tộc – Nhân Bản - Khai Phóng.

 

Cũng có ư kiến cho rằng : bước qua năm thứ bốn mươi hai rồi, quên đi mà vui sống, coi như nước chảy qua cầu, có ai tắm hai lần trên một ḍng sông đâu. Đành rằng chúng tôi mang cái nợ ân t́nh mà không có hội tỏ bày v́ ngh́n trùng xa cách. Như một Nữ Khoa Học Gia đă nói : Chúng tôi mang nợ họ nhiều lắm, nhưng họ có hề đ̣i nợ chúng ta đâu song chúng ta có bổn phận phải nhớ khi c̣n hiện hữu. Điều quan trọng khi hướng về tương lai chúng tôi không khỏi ưu tư cho dân tộc đất nước được thế giới mệnh danh là Tuổi Vàng, Đất Vàng.

 

Tuổi Vàng : trẻ năng động, hai phần ba dân số thuộc thành phần trẻ.

Đất Vàng : Thiên nhiên ưu đăi ( biển cả, sông ng̣i) tài nguyên thiên nhiên phong phú.

Thế mà người ta vẫn bi quan cho tương lai kinh tế của đất nước :

Chưa giàu đă già ( người ta tiên đoán khoảng năm 2030 lăo hóa ở Việt Nam gia tăng đến 30% )

C̣n Đất Vàng trong ư nghĩa Đất Lành th́ miền đất đó cạn kiệt ô nhiễm tan tác như Bức Dư Đồ Rách :

 

 Nọ bức dư đồ thử đứng coi

 Sông sông núi núi khéo bia cười

 Biết bao lúc mới công vờn vẽ

 Sao đến bây giờ rách tả tơi

 Ấy trước ông cha mua để lại

 Mà sau con cháu lấy làm chơi

 

 ……………………………………………

 ( Nguyễn Khắc Hiếu - Vịnh Bức Dư Đồ Rách )

 

C̣n Tuổi Vàng th́ sao : 46% hoc sinh bậc trung học bỏ học và vào đời sớm. Rồi đây trong hàng ngũ lao nô ( đi hợp tác lao đông, làm cô dâu người …) không thiếu thành phần sớm rời mái trường. C̣n thành phần con cái của giới thượng lưu mới hay giới giàu có th́ ra đi tạo nên phong trào “ Di Tản Giáo Dưc “

 

Do đó những ai đă từng gắn bó với phấn trắng bảng đen đều ưu tư trong thất vọng. Thất vọng do cung cách “ trồng người “ (*) của thành phần có trách nhiệm. /.

 

 

 

 Ngày 16 tháng 4 năm 2016

 THANH TRAN

 

 

(*) Trồng Người dịch do từ ngữ Hán Việt “ THỤ NHÂN. Quản Trọng đời Chiến Quốc bên Tàu đă nói “ Vi thập niên nhi thụ mộc, vi bách niên nhi THỤ NHÂN “ ( v́ lợi ích mười năm trồng cây ; v́ lợi ích trăm năm trồng người ) Trước năm 1975 ở Đà Lạt có một Đại Học có tên là ĐẠI HỌC THỤ NHÂN

 

 

 

 

 

 

trang truyện và Thơ của Trần Hà Thanh             |                 www.ninh-hoa.com