trang truyện và Thơ của Trần Hà Thanh              |                 www.ninh-hoa.com

TRẦN HÀ THANH

  Cựu Hiệu trưởng:
Trung học Ninh Ḥa
(Trần B́nh Trọng)
Niên khóa 1971-1975


Hiện cư ngụ tại:
Tiểu bang California,
Mỹ Quốc


 

 

 

 

 


K I N H B Á U và
B ̀ N H B Á T V À N G

Trần Hà Thanh
 

 

 

Khoảng đầu năm 1990 thế kỷ trước, Truyền h́nh Việt Nam chiếu Bộ Phim Tây Du Kư. Bộ phim dựa vào Tiểu thuyết cùng tên của Ngô Thừa Ân ( 1506- 1581 ). Tác giả Ngô Thừa Ân sống vào đời Minh.

 

Phim truyện kể về chuyện Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Ngộ Tĩnh pḥ Đường Tăng sang Ấn Độ. Đường đi gặp bao tắc trở gian nan gặp đến 81 nạn cuối cùng đều vượt qua đến xứ sở Phật Tổ mang kinh Phật về truyền bá phương đông.

 

Tây Du Kư bắt nguồn một câu chuyện có thật : Nhà Sư trẻ đời Đường Thái Tôn tên là Trần Huyền Trang, năm 21 tuổi đă một ḿnh sang Ấn Độ t́m thầy học đạo. Nhà Sư Huyền Trang ra đi từ năm 629 đến năm 645 mới về Trung Quốc tổng cộng là 17 năm trong đó có 6 năm tu học ở Chùa Na Lan Đà, một trung tâm Phật Giáo thời bấy giờ. Khi về nước Sư Huyền Trang phải dùng đến 24 ngựa tải 657 bộ Kinh Phật.

 

So với câu chuyện có thật đời Đường thế kỷ thứ 7 th́ tiểu thuyết Tây Du Kư của Tác giả Ngô Thừa Ân sống ở đời Nhà Minh thế kỷ thứ 16 là một tiểu thuyết Dả Sử và Thần Thoại. Bộ phim Tây Du Kư do Trung Quốc sản xuất dưa trên tiểu thuyết vừa nêu. Bộ phim có 100 hồi, như nội dung hồi 99 :

 

 Tám mươi mốt nạn yêu ma hết,

 Vẹn toàn công quả đạo về nguồn.

C̣n hồi 100 Về thẳng phương Đông, năm Thánh thành Phật.

 

Nội dung hai hồi vừa nêu :

Cuối cùng khi đến cửa Phật, thầy tṛ Đường Tăng ( Trần Huyền Trang ) phải đổi bát vàng của Hoàng Đế Đường Thái Tôn tặng để nhận kinh Phật. Khi qua sông Thông Thiên, Đường Tăng gặp lại Lăo Rùa chở Thầy Tṛ sang sông. Khi đang chở Đường Tăng qua giữa sông, Lăo Rùa hỏi Đường Tăng có hỏi Phật Tổ giúp lăo ( Lăo Rùa ) bao giờ lăo tu đắc chánh quả không. V́ Đường Tăng quên hỏi nên bị Lăo Rùa hất cả bốn thầy tṛ lẫn kinh xuống sông. Kinh văn bị ướt sau khi phơi khô một số bị rách. V́ vậy kinh về đến Đông Thổ ( Trung Quốc ) không được trọn vẹn.

Cũng nơi hồi 100 Năm nhân vật thành Phật, đó là :

 Bạch Long Mă : ngựa đưa Trần Huyền Trang đi về qua hai quốc gia Hoa-Ấn.

 Sa Tăng ( c̣n gọi là Ngộ Tĩnh )

 Trư Bát giới.

 Tôn Ngộ Không ( nhân vật chính trong tiểu thuyết đồng thời vai chính trong phim )

 

 Trần Huyền Trang theo lịch sử đời Đường thế kỷ thứ 7 là một nhà sư trẻ mới 21 tuổi quyết chí học đạo nên mới đơn độc sang Tây Trúc học Phật Pháp ở chùa Na Lan Đà trong 6 năm, như vậy thời gian tu học và đi về mất 17 năm ; c̣n trong phim th́- vai tṛ của Sư Huyền Trang thật là “ vô tích sự “ có cũng như không.

 

Bộ phim lôi cuốn khán giả truyền h́nh Việt Nam đầu thời kỳ mở cửa 1990. Ngoài sự say mê tài năng Tôn Ngộ Không biến hóa đi mây về gió thoát được 81 tai ách, họ - giai cấp b́nh dân – cùng tranh luận chuyện hối lộ nơi cửa Phật : Muốn lănh kinh báu của Phật phải dâng nạp b́nh bát vàng ( Lời của Anan – đệ tử hàng thứ 10 của Đức Phật – và Ca Diếp – đệ tử hàng thứ 3 của Đức Phật.)

 

Tranh luận không có lời kết một khi khán giả truyền h́nh không rơ ( do không am tường nhiều lịch sử Phật Giáo ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ tư trước Tây Lịch ) là hai vị Anan và Ca Diếp sống cùng thời với Đức Phật c̣n chuyện nhận kinh Phật xẩy ra ở thế kỷ thứ 7 sau Tây Lich. Đó là giới b́nh dân., c̣n các bậc thức giả th́ sao.

 

Trước hết một lănh đạo cũng mê bộ phim Tây Du Kư, từ say mê bộ phim nhà lănh đạo đó đưa ra đường lối bài trừ tham nhũng, ông đưa ư kiến: cửa Phật c̣n có tham nhũng huống ǵ xă hội trần gian, cho nên ông chủ trương sửa đổi dần, uốn nắn dần, ông cũng thường nhắc nhở tránh việc “ ném chuột vỡ b́nh quí “.

 

Ngoài quan điểm của giới lănh đao về trị quốc, ông c̣n mê tài diễn xuất cùa nhân vật đóng vai Tôn Ngộ Không. Diễn viên nầy có tên là Lục Tiểu Linh Đồng. Din viên nầy cũng tham gia chính trường : đại biểu quốc hội. Khi đến thăm Trung Quốc, vị lănh đạo nầy c̣n tiếp kiến Lục Tiểu Linh Đồng để bày tỏ ḷng ngưỡng mộ tài năng. C̣n nhận xét trong giới trí thức. Trước hết giới trí thức trước thời đổi mới ( trước 1990 ). Lúc đầu họ ca tụng sư phản kháng của Tôn Ngộ Không như đai náo thiên đ́nh, b́nh đẳng xưng hô với Ngọc Hoàng Thượng Đế ( xưng Lăo Tôn với Thượng Đế ), thế rồi về sau lại bị Phật Quan Thế Âm rồi Đường Tăng khuất phục ( Phật Quan Âm dùng bàn tay giam Tôn Ngộ Không dưới núi c̣n Đường Tăng đặt ṿng kim cô trên đầu Tôn Ngộ Không ).Tiếp đến họ phê phán việc Tôn Ngộ Không thành Phật với danh hiệu “ Đấu Chiến Thắng Phật “. Theo họ đó là sự thỏa hiệp với giai cấp thống tri để kiếm miếng đỉnh chung.

 

Đến thời kỳ đổi mới tư duy sau năm 1990 th́ giới trí thức có suy nghĩ khác về chuyện “trao đổi “ nơi cửa Thiền :

“Để nhận kinh báu của của Phật dâng nap b́nh bát vàng là ngụ ư muốn thọ lănh giải thoát của Phật, con người phải xuất gia, ĺa bỏ danh vọng và của cải thế tục. Hành động của Đường Tăng ở đây là một ẩn dụ “.

Họ dựa vào ư của A Nan và Ca Diếp : “ Đạo Pháp không thể truyền thụ dễ dàng dễ dàng nếu không đánh đổi “

 

Quan điểm nầy vô t́nh khiến nhiều nhà giáo dục Việt Nam dựa vào để “lư giải”việc tăng học phí hàng năm “ mua chữ phải trả tiền “ hay “ tiền nào của đó “ ( lớp học nào đóng tiền nhiều th́ th́ có nhiều tiên nghi như trang trí đẹp, mát về mùa hạ, ấm về mùa đông…)

 

C̣n về tu học theo nhà Phật th́ cách tu học trong muôn ngàn pháp môn mà Phật đă rao giảng khi c̣n tại thế : Vô Biên Phiền Năo Đoạn (đoạn tuyệt mọi phiền muộn ) rồi mới chọn tu theo một pháp môn để tu tập :

 Vô Lượng Pháp Môn Tu (có muôn ngàn cách tu).

Đánh Đổi cũng là một lối tu theo quan điểm thực dụng :” có thực mới vực được đạo “.Trong lịch sử Việt Nam vào thời Lê – Mạc phân tranh (thế kỷ 16 ) Trịnh Kiểm chuyên quyền muốn cướp ngôi Nhà Lê, ông cho Sứ giả ra bắc hỏi ư kiến của Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trang Tŕnh không trả lời sứ giả chỉ nói với người nhà hăy lấy thóc giống cũ ra gieo trồng, c̣n thóc giống mới không được tốt, nói xong ông ra chùa, sứ giả đi theo tiếp tục hỏi, Trạng Tŕnh cũng không trả lời, rồi vổ vai chú tiểu và khuyên : ráng thờ Phật cho thành tâm để được ăn oản ( hưởng của cúng Phật từ khách thập phương ). Sứ giả về thuật lại Trịnh Kiểm hiểu ư thôi không tính chuyện cướp ngôi nhà Lê nũa.Qua câu chuyện nầy người ta có thể suy nghĩ nếu hai ông A-Nan và Ca-Diếp sống đến thế kỷ thứ bảy sau tây lịch th́ hai vị ấy chỉ mượn danh nghĩa Đức Phật để nhận ( hay đ̣i hỏi ) Bát Vàng !

 

Nhớ lại ngày xưa Đức Phật rời bỏ cung điện ra đi.Lúc đầu ngài tu theo lối khổ hạnh trong 6 năm. Có một hôm Ngài ngất xỉu v́ lối tu nầy, Ngài tỉnh lại nhờ bát sửa của một bà già từ đó Ngài nghiệm ra cần ăn uống và sinh hoat b́nh thường như tắm giặt. Khi thể xác đă b́nh thường Ngài mới thiền định 49 ngày và đắc đạo khi b́nh minh chiếu sáng trên ḍng Anoma.Đó cũng là ư nghĩa “Có thực mới vực được đạo.”

 

C̣n như kinh điển hay “Pháp” : Pháp là phương tiện để đến Bờ Giác ( giác ngộ ). Nếu đă gọi là phương tiện th́ có nhiều như Phật đă rao giảng “Vô Lương Pháp Môn “

Chẳng hạn ngày xưa sư Huệ Năng không biết chữ nên không đoc đươc kinh nhưng nhớ hết lời giảng về sau thành Tổ thứ tư.

C̣n “trao đổi “ hay bố thí của cải thật nhiều để được nhận phước th́ Lương Vơ Đế( bên Trung Quốc ) trọn đời thờ Phật qua việc bố thí, xây chùa dựng tháp …Thế mà về sau phải mất nước tán thân.

 

Triết lư Phật Giáo có bàn đến duyên nghiệp, đó là trường hợp Vua A Dục hay Asoka ( 273 -232 trước Tây Lịch ). Đế Quốc Ấn Độ dưới thời Vua A Dục rộng bao la : phía đông đến Bangladeh, Assam, phía tây đến Iran, Afghanistan và phía băc đến Pamir. Cuộc chiến Kalinga ( 265-263 ) làm thương vong 100.000 quân dân Kalinga và vô số bị lưu đày, 10.000 quân sĩ của triều đ́nh Asoka tử trận. Có được chiến thắng, Vua A Dục chợt như bừng tỉnh cơn mê : Nhất Tướng Công Thành Vạn Cốt Khô.Đó là một cơ duyên đưa Nhà Vua đến với Phật Pháp. Từ khi ngộ đạo Nhà Vua chú tâm xây dựng chùa, bảo tháp, bố thí và tham gia nhiều Phật sự khác ….

 

Tiếp đây xin đề cập đến vai tṛ của Sư Huyền Trang qua sự nghiệp phát triển Phật Giáo đời Đường bên Trung Quốc.

 

Xin nhắc lại Bộ Phim 100 hồi th́ vai tṛ của Trần Huyền Trang mờ nhạt có cũng như không, ngoài c̣n bị chê u mê, nhu nhược và ba phải nữa.Trăm lần Tôn Ngộ Không khuyên ngăn cản : yêu ma đừng cứu.Đường Tăng cứ cứu.

 

Song theo chính sử đời Đường từ thế kỷ thứ 7 th́ Trần Huyền Trang tên thật là Trần Vĩ hay Trần Hy ( 602-664 ) mồ côi cha mẹ sớm ( năm 5 tuổi mồ côi mẹ, 10 tuổi mồ côi cha).Trần Huyền Trang xuất gia lúc 13 tuổi.Năm 21 tuổi, Trần Huyền Trang là một nhà sư trẻ tuổi có chí lớn : quyết tâm và đơn thân độc mă mạo hiễm sang Ấn Độ t́m hiểu kinh điến nơi chính gốc. Từ xuất gia 13 tuổi đến năm 21 tuổi Sư Huyền Trang chuyên nghiên cứu kinh đại thừa.

 

Bối cảnh lịch sử thời bấy giờ : Nhà Đường bất ḥa với sắc tộc Đột Quyết ở Tây Vực ( Trung Á ngày nay ).Vua Đường Thái Tôn ( Lư Thế Dân ) nghiêm cấm dân hai bên biên giới qua lại.

 

Sư Huyền Trang lặng lẽ rời Trường An đi về phía tây. Nhà Sư vạch hành tŕnh ; đi qua sa mạc Gobi rồi từ đó đi về phía nam để sang Tây Trúc ( Ấn Độ )

 

Đến biên giới Trần Huyền Trang viết thư tạ lỗi dâng lên Vua Đường Thái Tôn.Thư tạ lỗi giao cho Tướng Lư Đại Lượng đang trấn giữ biên cương.Lúc đầu Tướng Lư cũng hứa giúp đ cho Huyền Trang, song khi đến phong ḥa đài th́ Huyền Trang gặp trở ngại không thể đi tiếp được. Đó là ư của Lư Đại Lượng muốn làm nản ḷng Trần Huyền Trang, song nhà sư quyết chí đi tiếp : vượt sa mạc Gobi. Nhà sư chỉ tự than tên th́ Đại Lượng ( rộng lượng ) song bản tính th́ hẹp ḥi. Tai nạn xẩy đến : Huyền Trang suưt chết khát trên sa mạc. Một ḿnh một ngựa ra đi từ một phong hỏa đài. giữa đường b́nh nước dự trử rơi xuống đất đổ lai láng. Sức người chịu khát giữa cái khô lạnh nóng rát của sa mạc th́ có hạn không như sức chịu đưng của lạc đà. Một hôm nọ Huyền Trang bất tỉnh trên lưng ngựa, trong mơ màng Sư Huyền Trang c̣n đủ sức niệm Phật Quan Thế Âm. Thế rồi ngưa dừng chân nơi hồ nước ngọt giữa sa mac ( ngày nay gần thắng tích Phật Giáo Đôn Hoàng ) Suốt hành tŕnh Sư Huyền Trang găp hai đại nạn nũa. Gặp toán cướp ( giết người cướp của ) Sư Huyền Trang đối phó với toán cướp như thế nào.Sư nói: ta đi học đạo không sợ hùm beo thú dữ huống ǵ kẻ cướp cũng là người như ta đây, hởi các môn đệ. Câu nói đó đă khuất phục được toán cướp và họ đă để nhà sư tiếp tục cuộc hành tŕnh.

 

Đại nạn thứ hai : Huyền Trang gặp bộ tộc chuyên ăn thịt người. Do diện mạo của Sư Huyền Trang : “ Pháp sư cao hơn bảy thước xưa, da hồng hào với lông mày rậm và cặp mắt tươi sáng … Ngài đi đứng ung dung, khoan thai luôn luôn nh́n thẳng. Cử chỉ Ngài như ḍng sông lớn chảy và sáng sủa như đóa hoa sen nở trên mặt nước. …” ( hết trích ). Bộ tộc đó c̣n có mê tín ăn một miếng thịt của Sư Huyền Trang th́ sống khỏe và sống thọ. Họ đưa sư lên dàn hỏa.Huyền Trang niệm kinh cầu mong về cơi Phật. Trời đất trở nên tối và sấm chớp vang dội.Bộ tộc ăn thịt người hoảng sợ bỏ ư định giết người.

 

Khi đến nơi ( Ấn Độ ) Sư Huyền Trang vào tu học ở chùa Na Lan Đà 6 năm, thời gian c̣n lại, Sư đi khắp Ấn Độ t́m hiểu thêm kinh Đại Thừa.Sư c̣n tranh luận với phái Tiểu Thừa. Sư ở Ấn Độ đă lâu người ta nghĩ có thể thuyết phục ở lại nhưng sư quyết chí về Trung Quốc.Sư về đến nơi được Vua Đường Thái Tôn ( Lư Thế Dân ) đích thân ra đón.Ra đi lúc c̣n trẻ trở về tuổi đă trung niên. Sư Huyền Trang dùng quăng đời c̣n lại dịch đến 600 bộ kinh mang từ Ấn Độ về. Công việc dịch thuật kinh từ Tiếng Phạn qua Tiếng Hán. Đến năm sư 69 tuôi do làm việc nhiều và liên tục nên sức khỏe sa sút, sư viên tịch

 

C̣n theo Đại Đường Tây Vưc Kư có thêm nhiều sư kiện trong cuộc hành tŕnh đó như Vua Đường Thái Tôn tặng Huyền Trang bát vàng, mang thư ( sứ điệp ) đến những nơi Huyền Trang sẽ đi qua, Nhà Vua c̣n ân cần nhắn nhủ quy cố hương …

 

Chúng tôi gọi thêm sư kiện v́ mấy chục năm sau năm 629 t́nh h́nh bang giao giữa Trung Hoa và nhiều nước ở Tây Vực được cải thiện, việc đi lại được dễ dàng hơn, hàng hóa trao đổi đến tận Tây Á, cao nguyên Iran, đó là tiến tŕnh h́nh thành “ con đường tơ lụa “

 

Cũng theo chính sử th́ lần trở về Trung Quốc, Huyền Trang không đi ṿng qua sa mạc Gobi mà theo đường đi của các nhà buôn Trung Quốc – Trung Á, nên mới có chuyện Sư Huyền Trang dùng nhiều ngựa Tây Vực chuyên chở kinh sách.

Hơn chín trăm năm sau, vào thế kỷ 16 Sư Huyền Trang sống lại dưới ng̣i bút của Ngô Thừa Ân trong Tây Du Kư trong vai tṛ chỉ từ bi mà không có lư trí rồi cũng thành Phật như ai nhờ tu nhân tích đức nhiều tiền kiếp.

 

Nói về tác giả Ngô Thừa Ân : từ câu chuyện có thật theo thời gian rồi theo thời gian gần một ngàn năm ( từ giữa thế kỷ thứ 7 đến đầu thế kỷ 16 ) đă mang màu sắc huyền thoại và được truyền tụng trong xă hội rồi trở thành truyền thuyết.Đến đời Minh tác giả Ngô Thừa Ân thu thập truyền thuyết dă sử dựa vào những tác phẩm có trước đó để hoàn thành bộ tiểu thuyết Tây Du Kư.

 

Tây Du Kư phản ảnh hoàn cảnh xă hội Trung Quốc đời Minh : quan trường như hư trường, Phật giáo đương thời thiên về tục lụy khác xa với thời Huyền Trang giữ ǵn tâm đạo Từ Đời Nguyên, cửa chùa là vơ đường của nhiều môn phái như Thiếu Lâm Tư, Vơ Đang, Nga Mi … Môn phái nào cũng có nhiều vơ sư “ vơ công thâm hậu “ đó là những sư phụ, sư bá, sư thúc, sư huynh, sư đệ, sư tỉ, sư muội…Rồi những mối t́nh thắm thiết hay eo le từ chốn cửa Thiền xuất hiện những nhân vật như Tạ Tốn, Triệu Minh, Vô Kỵ … Những nhân vật nầy trong nhiều tác phẩm ( tác phẩm và phim ) của Kim Dung làm say mê nhiều độc giả và khán giả truyền h́nh từ thập niên 1960 thế kỷ trước cho đến bây giờ.

 

Bản thân của Chu Nguyên Chương, Thái Tổ Nhà Minh, xuất thân là một hành khất ( Cái Bang )rồi có cơ hội vào sống ở chùa, nhờ có vơ nghệ cầm đầu cái bang, gặp thời chấm dứt Triều Đại Nhà Nguyên để lâp nên Triều Minh.

 

Có thể nói Phật Giáo đời Minh khác với Phật Giáo Đời Đường.

Chu Nguyên Chương tiêu biểu cho một thành phần xă hội tạm nương nhờ cửa Phật chờ thời.Về sau vào đời Gia Tĩnh Triều Minh có Từ Hải nổi loạn ở vùng Triết Giang Phúc Kiến. Từ Hải vốn là một nhà sư, nhà sư nầy thường đi lại chốn yên hoa. Nơi đây Từ Hải gặp Thúy Kiều. Khi Tổng Đốc Hồ Tôn Hiến dẹp tan loạn quân, giết Từ Hải, Thúy Kiều ôm thây thương khóc.

 

Một số khác sống lâu ra lăo làng như thi sĩ Trần Tế Xương ( đầu thế kỷ 20 ) đă châm biếm :

Tu lâu ắc hẳn lên sư cụ

Hoăc:

Công đức tu hành sư có lọng

 Xu hào rủng rỉnh mán ngồi xe

 

Do những điều trông thấy nơi xă hội ḿnh đang sống, có thể tác giả Ngô Thừa Ân cho tái sinh một Trần Huyền Trang trong vai tầm thường khoát áo nhà tu chờ thời hoặc lên sư cụ hoăc xuất thế trở thành một nhân vật như Từ Hải.

 

Về Tôn Ngộ Không, trước hết theo Đại Đường Tây Vực th́ trên đường sang Ấn Độ, Sư Huyền Trang dừng lại một vài nơi để thuyết pháp, có một lân, một người h́nh dung cổ quái nửa người nửa vượn ngộ đạo xin làm đệ tử.Từ đó hơn 900 năm sau nhân vật đó là vai chính trong Tây Du Kư, Tôn Ngộ Không có tài thiên biến vạn hóa lại đi theo hầu một sư phụ ba phải vô tích sự…có vậy mới xứng đang thành Phật với danh hiệu “Đấu Chiến Thắng Phật “. Điều nầy khiến một số tu sĩ phản đối tác giả Ngô Thừa Ân.( * )

 

Tuy nhiên qua câu chuyên năm nhân vật thành Phât, Tôn Ngộ Không được danh hiệu cao người ta nên suy nghĩ lại mọi từ nhân sinh cho đến muôn loài (chúng sanh ) đều có Phật Tính. Một khi cơ duyên đến, Phật Tính bừng sáng xua tan tăm tối …/.

 

 

(*) Vào năm Gia Tĩnh đời Minh, Từ Hải theo Ngu Sơ Tân Chí cầm đầu toán cướp ( giặc cỏ ) tầm thường.Ba trăm năm sau vào thế 19 trong tác phẩm Thúy Kiều, Thi sĩ Nguyễn Du đă anh hùng hóa :

 Đội trời đạp đất ở đời

 Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông

 

 

 

 

TRẦN HÀ THANH

 Ngày 5 tháng 6 năm 2018

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang truyện và Thơ của Trần Hà Thanh             |                 www.ninh-hoa.com