trang truyện và Thơ của Trần Hà Thanh              |                 www.ninh-hoa.com

TRẦN HÀ THANH

  Cựu Hiệu trưởng:
Trung học Ninh Ḥa
(Trần B́nh Trọng)
Niên khóa 1971-1975


Hiện cư ngụ tại:
Tiểu bang California,
Mỹ Quốc


 

 

 

 

 


Đ Ô N G  D U
N G À Y  T R Ư Ớ C  và
T Â Y  D U
N G À Y  N A Y

Trần Hà Thanh
 

 

Đông du là phong trào đưa thanh niên Việt-Nam sang Nhật du học đầu thế kỷ 20 (1906-1908) Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ : Các phong trào kháng Pháp lần lược thất bai. Các phong trào cần vương cũng như phong trào văn thân lần lược cáo chung với việc Vua Hàm Nghi bị lưu đày sang Algerie và Quan Đ́nh Nguyên Phan Đ́nh Phùng chết trong rừng núi Vũ Quang Hà Tĩnh. Cùng thời gian nầy Pháp hoàn thành nền cai trị trên toàn Đông Dương : Việc thành lập Phủ Toàn Quyền Đông Dương. Đông Dương gồm 5 xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Cambodge ( tiếng Pháp gọi là Tonkin, An nam - từ Thanh Hóa đến B́nh Thuân – Cochinchine, Cambodge và Laos ). Với việc thành lập Phủ Toàn Quyền th́ Ḥa ước Giáp Thân 1884 (giữa Triều Đ́nh Huế và Pháp ) không c̣n giá trị ǵ nữa. Nhiều sĩ phu yêu nước chuyển hướng phương cách đấu tranh giành độc lập. Trước hết phải nâng cao dân trí : Khai dân trí Chấn dân khí Hậu dân sinh ( Phan Chu Trinh ). Phương hướng đấu tranh nầy do nức ḷng trước việc Nhật Bản trở thành cường quốc châu Á thời đó sau khi thắng Nga 1905. Thành quả nầy có được nhờ sau 30 năm duy tân ( 1867-1897 ) dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng.

 

Song song với với phong trào Đông Du và Duy Tân có Đông Kinh Nghĩa Thục.Trường Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập ở Hà Nội từ tháng 3-1907 đến tháng 11 năm 1907.

 

Các Ông Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Lương Văn Can và nhiều nho sĩ họp nhau ở Hàng Đào ( Hà Nội ) quyết định mở một trường tư thục lấy tên là Đông Kinh Nghĩa Thục.

 

Mục đích và phương châm : khai trí cho dân qua những lớp học không lấy tiền, tổ chức những buổi diễn thuyết. Đông Kinh Nghĩa Thục chủ trương bỏ lối học từ chương, du nhập những tư tưởng mới, phát triển văn hóa, thúc đẩy sử dụng chữ quốc ngữ thông qua các hoạt động giáo dục ( dịch, viết sách giáo khoa ) báo chí tuyên truyền cổ động …Ngoài ra c̣n chấn hưng thực nghiệp, mở tiệm buôn, phát triển công thương…

 

Trường có những nguồn tài trợ : những tiểu thương có ḷng với Đất Nước. Cơ sở của họ ở ngay Hà Nội và nhiều tỉnh thành gần đó …

 

Lúc đầu người Pháp cấp giấy phép hoạt động về sau họ cảm thấy những sinh hoạt vừa nêu trên đe dọa đến an ninh của chính quyền bảo hộ. Sau phong trào chống thuế ở Trung Kỳ 1908 và vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội, Pháp qui trách nhiệm cho những sĩ phu duy tân. Họ thu hồi giấy phép, đóng cửa các lớp học, cấm những buổi diễn thuyết, tịch thu sách báo ấn phẩm …

 

Đông Kinh Nghĩa Thục hoạt động chưa đầy một năm !

Phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân cùng tiến hành : một ở trong nước, một ở Nhật.

 

Trước hết Phan Bội Châu lập Duy Tân Hội (1904) c̣n gọi là Ám Xă ( Hội hoạt động trong bí mật ) Hội hoạt đông bí mật bài Pháp giành độc lập, c̣n phong trào duy tân do Phan Châu Trinh lập ra là Minh Xă. Hội hoạt đông công khai, không chủ trương cầu viện ngoai quốc cùng chống Pháp. Phan Chu Trinh chủ trương Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

 

Sự h́nh thành phong trào Đông Du : ở Nam kỳ th́ có Tri Phủ Trần Chánh Chiếu, ở Trung Kỳ th́ có Nguyễn Thành hay Nguyễn Tiểu La ở Thăng B́nh Quảng Nam. Các vị nầy chiêu mộ thanh niên và lập danh sách đưa họ xuất dương sang Nhật. Đồng thời họ văn động tài chánh cho những du học sinh chi phí ở Nhật.

 

Thực hiện : Ngày 20 tháng giêng âm lịch Ất Tỵ (1906) Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ( cháu 5 đời của Hoàng Tử Cảnh ), hai người họ cùng Tăng Bạt Hổ xuống tàu thủy ở Hải Pḥng, từ Hải Pḥng sang Quảng Đông rồi Hong Kong, Thượng Hải rồi Yokohama ( Hoành Tân ).

 

Qua sự giới thiệu cùa Lương Khải Siêu họ gặp hai nhà cải cách Nhật : Okuma Shogenoba ( Bá tước Ôi Trọng Tín ) cựu Thủ Tướng Inukai Tsuyoshi ( Khuyển Dưỡng Nghị ). Hai ông nầy khuyên nên cổ đông thanh niên ra nước ngoài học tập để sau nầy về giúp nước. Thế là phong trào cầu viện trở thành phong trào cầu học.

 

Tên trường học : Trường Chấn Vơ, Số học viên lên đến 200. Vấn đề tài chánh : trong nước tài trợ qua tổ chức Hội Hoạt động trong bí mật của Phong Trào Duy Tân từ trong nước.

 

Sự thất bại :Như trên đă nói sau phong trào chống thuế ở Trung Kỳ tháng 3-1908 tiếp đến vụ lính Pháp bị đầu độc ở Hà Nội, Pháp qui trách nhiệm cho các sĩ phu duy tân. Đối với phong trào Đông Du, Pháp kư với Nhật hiệp ước vào tháng 9-1908, theo đó Pháp cho Nhật vào Việt Nam buôn bán đổi lại Nhật không cho các nhà cách mạng và du học sinh lưu trú ở Nhật nữa. Những nhân vật lănh đạo phong trào Đông Du rời Nhật phân tán khắp nơi từ Trung Hoa đến Thái Lan, những du học sinh cũng thế, một số khác Pháp yêu cầu phụ huynh kêu về nước.

 

Thế là các phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và Đông Du lần lượt chết yểu song ư nghĩa lịch sử của phong trạ c̣n măi trong ḷng dân tộc như bỏ lối học từ chướng, dùng chữ quốc ngữ ( sau tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Nam Kỳ cuối thế kỷ 19 : Nông Cổ Min Đàm), các phong trào dóng lên hồi chuông Cách Mạng Trong Giáo Dục. Sau khi việc hoc chữ nho cáo chung ( Bắc Kỳ 1916 và Trung Kỳ 1918 ) các trường hoc dùng chuyển ngữ là tiếng Pháp. Học sinh khi nh́n lên bảng đen đều phải đọc câu cách ngôn bằng tiếng Pháp : Nos Ancetres etaient des Gaulois ( Tổ tiên chúng ta là người Gaulois ). Tuy vậy khi chuyển qua chuyển ngữ là chữ quốc ngữ từ sau 9-3-1945 th́ cả thầy lẫn tṛ đều không lúng túng.

Sau phong trào Đông Du ( 1908-1945 ) đến phong trào Tây Du ( sang Pháp du hoc ) h́nh thành. Tây du có nghĩa là sang Pháp du học. Thành phần du học sinh : đủ mọi giai tầng trong xă hội, từ Hoàng gia, con quan, con em thị dân thành thị, dân địa phương được ưu đăi như dân Nam Kỳ Lục Tỉnh (1). Nam Kỳ theo các ḥa ước 1862, 1874, 1883 và 1884 giữa Pháp và Triều Đ́nh Huế, th́ địa phương nầy là thuộc địa của Pháp.

 

Về thành phần du học sinh : Trước hết người trong Hoàng tộc th́ có Hoàng Tử Vĩnh Thuy sau nầy là Vua Bảo Đai ( 1925-1945 ) (2 ), thành phần con quan lại th́ có Ông Ngô Đ́nh Nhu sau này là cố vấn cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ; riêng thành phần có nhiều ưu tiên về du học : con nhà phú hộ nơi đất Nam Kỳ thuộc địa ( ngày nay gọi là Nam bộ) sang Pháp ưu tiên vào hoc trường thuộc địa, tốt nghiệp về Nam Kỳ họ trở thành công chức cao cấp của chính quyền thuộc địa ( ngạch đốc phủ sứ ) nhiều người trong số họ sau nầy tham gia chính quyền quốc gia hay đệ nhất cộng ḥa : Thủ Tướng Trần văn Hữu, Thủ Tướng Nguyễn văn Tâm, Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ…

 

Có người tuy không phải gốc gác “ Nam Kỳ Quốc” song có cơ hội theo tàu buôn xuất dương sang Pháp, tại Pháp vị nầy viết đơn xin thi vào trường thuộc đia nhưng Tổng Thống Pháp thời đó không chấp thuận lư do không phải dân gốc Nam Kỳ (3 ). Vị đó về sau làm chính trị khi giác ngộ “ Kach mệnh “ ( cách mạng ).Nếu vị đó được đặc cách theo học rồi trở về quốc làm quan cho chính quyền bảo hộ với ngạch Đốc phủ sứ, th́ lịch sử Việt Nam đă xoay chiều khác xa với hoàn cảnh hiện nay (4).

Kế tiếp du học sinh là hậu duệ giai cấp sĩ phu của thế kỷ 19 : tiêu biểu là bậc trí thức tân học Hoàng Xuân Hăn ( 1908-1996).

 

Năm 1928 Ông Hăn mới đỗ tú tài toàn phần, ông sang Pháp du học, năm 1930 ông thi đỗ vào Trường Ecole Normale Superieur và Ecole Polytechnique.

 

Giai đoạn 1932-1934 Ông Hăn thi đỗ vào Ecole Nationale des Ponts et Chaussees ( 5 ). Sau 1935 ông trở về nước dạy học, ông dạy toán ở trường Bưởi. Sau 9-3-1945 Ông là Bộ Trưởng Giáo Dục và Mỹ Thuật (Chính Phủ Trần Trọng Kim ) trong thời gian ngắn ( 17-4-1945 đến 19-8-1945 ) ông đưa chữ quốc ngữ làm chuyển ngữ giảng dạy ở bậc trung học, tháng 6 năm đó qua kỳ thi tú tài phần 2 : các môn toán, lư, hóa nhất là triết học đều thi bằng chữ quốc ngữ.

 

Điều đáng lưu ư : sau ngày chính phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm, ông Hăn trở về dạy học và viết sách toán bằng Tiếng Việt, cùng cứu văn những sách cũ, sách cổ bị đưa ra làm giấy lộn khắp đường phố Hà Nội.

 

Năm 1951 ông sang Pháp và ở luôn bên đó.

 

Ông Hoàng Xuân Hăn vốn là một nho sinh rồi trở thành trí thức tân học và nho học. Ông tinh thông khoa học, lịch sử, địa lư, thiên văn, văn hóa đông phương. Tóm lại Ông là một nhà khoa học, thầy giáo toán học, đồng thời nhà nghiên cứu Hán Nôm, một nhà sử học.

 

C̣n một nhà khoa bảng khác, đó là Phó Bảng Phan Chu Trinh. Cụ Phan chủ trương : Khai Dân Trí, Chấn Dân Trí, Hậu Dân Sinh. Trước hết hợp tác với Pháp để thực hiện chủ trương vừa nêu. Vậy khai dân trí là ǵ : bỏ lối học từ chương ( tầm chương trích cú ), mở trường dạy chữ quốc ngữ, cùng kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xă hội. C̣n chấn dân khí : Đó là thức tỉnh tinh thần tự lực, mọi người giác ngộ được quyền lợi và nghĩa vụ của ḿnh, giải thoát tư tưởng chuyên chế phong kiến. Tiếp đến hậu dân sinh : phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội địa hóa.

 

Để thực hiện cụ Phan cho rằng phải phát triển kinh tế và giáo dục để tự lực tự cường, hội nhập vào thế giới văn minh rồi mới nên mưu cầu độc lập chứ không nên cầu viện ngoại bang dùng bạo lực để giành độc lập ( 6).

 

Nhân cơ hội Pháp ra Nghị Định 31-10-1908 thành lập một nhóm dạy tiếng Hán tại Pháp Cha Con Phan Châu Trinh và Phan Châu Dật sang Pháp năm 1911 ( Phan Châu Dật được cấp học bổng du học Pháp ).

 

Năm 1914 chiến tranh thế giới lần thứ nhất sắp xẩy ra, chính phủ Pháp gọi hai ông Phan Châu Trinh và Phan văn Trường ( luật sư ) nhập ngũ, hai ông phản đối : hai ông không phải là công dân Pháp ( quốc tịch Pháp ). Thế rồi hai ông bị nghi ngờ làm gián điệp cho Đức, hai ông bị bắt giam. Do không có bằng chứng hai ông được thả. Ra tù ông Phan Châu Trinh mất việc ( không c̣n được day Hán Văn nữa ) con là Phan Châu Dật không c̣n tiếp tục hưởng học bổng. Hai cha con phải mưu sinh bằng nghề nhiếp ảnh, cuộc sống rất túng thiều ( 7 ).

 

Ngày 19-6-1919 các ông Phan Châu Trinh, Phan văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành soạn bản Yêu Sách của Nhân Dân An Nam kư tên chung là Nguyễn Ái Quốc ( 8 ). Bản yêu sách được gởi đến Hội Nghị Versailles.

 

Ngày 29-5-1925 Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh mới được phép về nước ( 9 ).

 

Ngày 26-6-1925 hai ông về đến Saigon. Tuy bị bênh cụ Phan vần diễn thuyết. Các bài diễn thuyết là : Luận Lư Đông Tây, Quân Trị Chủ Nghĩa, Dân Trị Chủ Nghĩa. . .Cụ Phan Chu Trinh mất ngày 24-3-1926. Có 6 vạn người dự tang lễ. Cụ Huỳnh Thúc Kháng đọc điếu văn có đoạn :

“… Thôi, đất vàng một nắm, giấc mộng ngàn thu, sự nghiệp anh hùng, ngày nay hết cuộc. Chúng tôi chỉ mong mai sau những người kế chí tiên sinh, làm cho vẻ vang dân tộc Việt Nam ta th́ linh hồn tiên sinh sẽ được yên ổn mà ngậm cười nơi suối vàng …”

 

Giai đoạn 1945-1954 : Hoàn cảnh lịch sử : Vua Bảo Đại trở lại cầm quyền qua danh nghĩa Quốc-Trưởng. Chính phủ Quốc Gia được thành lập. Phong trào du học mang một ư nghĩa khác. Phong trào du học lúc đó tương tự như phong trào du học sinh Nhật sang Âu Châu du hoc Minh Trị Thiên Hoàng cuối thế kỷ 19.Thành phần du học : du học sinh đều tốt nghiệp tú tài 2, phần lớn đều du học Pháp về sau có thêm du học Hoa Kỳ. Thời gian đó Bộ Giáo Dục đặt ở Hà Nội đồng thời có một số Trường Đai Học gồm có nhiều phân khoa : Văn Khoa, Khoa hoc, Cao đẳng Sư Phạm, Trường Kỷ Sư Công Chánh ( đặt ở Saigon ), Y khoa ( đặt ở Saigon ). Ngoai trừ Văn Khoa và Cao Đẳng Sư Pham ( do giáo sư Việt đảm trách ) các khoa c̣n lai đều do giáo sư Pháp đảm trách.

 

Giai đoạn 1954-1975 hay giai đoạn Đất Nước chi chia đôi ranh giới là vĩ tuyến 17. Miền Bắc theo thể chế Xă Hội Chủ Nghĩa ; c̣n Miền Nam sông dưới thể chế Dân Chủ Tư Do. Trong hoàn cảnh lịch sử đó có phong trào di cư về Nam ( dưới vĩ tuyến 17 ) của non một triệu người. Trong những con tàu lướt sóng xuôi nam đó không thiếu h́nh bóng những trí thức, những giáo sư đại học, giáo sư trung học, học sinh trung học, họ ra đi để lại Thăng Long ngàn năm văn vật.

 

Sau khi về Hà Nội từ 10-10-1954 Chính quyền tổ chức việc học hành và du học như sau :

Việc học rút ngắn thời gian : tiểu hoc và trung học 10 năm. Thành quả về giáo dục từ 1954-1960 : Năm 1959, năm của Đỉnh Cao Muôn Trượng, một trường cấp 2 đại diện ngành giáo dục nhận lá cờ đầu.

Về du học : nơi du học là các nước ở Đông Âu, Liên Xô ( ngày nay là Liên Bang Nga ), Trung Quốc.

Du học sinh tốt nghiệp được cấp văn bằng Phó Tiến Sĩ, Tiến sĩ.

 

Hiện nay không có con số thống kê chính xác về số học sinh sinh viên theo học ở các trường tiểu học trung hoc đại học ở Miền Bắc từ 1954-1975.

 

Trong lúc đó Miền Nam có những điều kiện thuận lợi : thanh b́nh trở lại, việc đi hoc và du học phát triển : non một triệu người di cư từ Miền Bắc cùng với dân số Nam Ngăi B́nh Phú su6t chín năm chiến tranh ( 1945-1954 ) giờ đây con cháu họ được sống trong thanh b́nh và được đi học.

 

Đáp ứng với sư phát triển Miền Đất Hứa, chính phủ mời gọi lớp du học sinh giai đoạn 1945-1954 nay đă thành đạt trở về giúp nước, về măt giáo dục họ sung vào ban giảng huấn dần dần thay thế các giáo sư người ngoại quốc.

 

Cùng thời gian nầy, phong trào du học phát triển mạnh :

- Số lượng du học sinh không ngừng gia tăng hằng năm

- Nhiều nguồn tài trợ ( cấp học bổng ) : Chính phủ cấp học bổng, nhiều quốc gia nhận du học sinh cấp học bổng, du học tự túc.

- Quốc gia nhận du học sinh : Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Tây Đức một số nước Tây Âu., Australia, Tân Tây Lan

- Cách thức nhận học bổng ; Đối với quốc gia cấp học bổng, ứng viên phải qua cuộc khảo sát anh ngữ. Đối với du học sinh tự túc, ứng viên phải có văn bằng tú tài 2 hạng ưu ( điêm trung b́nh các môn thi từ 16/20 trở lên ).

 

Từ đó mới có những thành tựu về giáo dục của Miền Nam Việt Nam :

Giáo Dục Miền Nam Việt Nam lấy Triết Lư : Dân Tộc Nhân Bản Khai Phóng làm kim chỉ nam.

Giá trị văn bằng : tú tài phần 2 ( toàn phần ), cử nhân, cao học, tiến sĩ đều có giá trị tương đương với văn bằng các nước Hoa Kỳ hay Tây Âu, Australia, New Zealand … ( Cử nhân tương đương BA, BS, cao học tương đương với MA…) Cho tới đầu năm 1975, Đại Học Luật Khoa cấp văn bằng Tiến Sĩ Luật Khoa, Các Đại Học khác đang có dự thảo việc mở văn bằng Tiến Sĩ.

 

Miền Nam chỉ hưởng thanh b́nh khoảng 6 năm ( 1954-1960 ), thời gian c̣n lại : cuộc chiến kéo dài triền miên, tuy nhiên giáo dục vẫn phát triển : sĩ số học sinh gia tăng, số lượng trường lớp gia tăng từ tiểu học đến trung học. Số lượng trường Đại Học gia tăng từ hai trường : một ở Saigon, một ở Huế năm 1957 đến đầu năm 1975 số trường Đại Học ( công và tư ) là 10 trường ( 10 ).

Các nước lân bang ước ao có được một nền giáo dục như Miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Những bậc trí thức, những chuyên viên, giáo sư đại học khi ra ngoại quốc công tác đều được nể trọng do phong cách cá nhân hay những bài thuyết tŕnh trước hội nghị.

 

Giai đoạn từ 1975 đến nay ( Chuyện du học )

- Trước thời kỳ chưa hội nhập ( 1975-1990 ).

Thành phần ở lại để phục vụ Đất Nước nhiều chuyên viên, trí thức, kỷ sư, bác sĩ trong số họ nhiều người từng du học ở Hoa Kỳ, Châu Âu cộng thêm số du học trở về. Tất cả họ đều có lư tưởng : chịu thiệt tḥi về vật chất để xây dựng Đất Nước thời thanh b́nh như họ từng mơ ước.

Song họ không có cơ hội đem sở học từ Âu Mỹ ra cống hiến cho xă hội đổi đời, chẳng hạn tài năng của họ không được sử dụng đúng vị trí. Ngoài xă hội th́ có sư phân biệt đối xử : con cái của quân nhân, công chức chế độ cũ khó mà dự thi hoặc chen chân vào đại hoc T́nh h́nh kinh tế th́ khó khăn : trẻ em th́ suy dinh dưỡng, người lớn th́ lo “ mất sổ gạo “.

 

Trong t́nh h́nh đó có nhiều phong trào ra đi : chính thức, bán chính thức, ra đi bất hợp pháp ( vượt biên )

…Có người chép miệng than thở “ chảy máu chất xám “ C̣n.nhà nước th́ nói : họ không chịu đựng nỗi khó khăn lúc đầu nên mới t́m cách ra đi như thế.

 

Tuy nhiên Du học trong giai đoạn nầy cũng phát triển : theo học ở Đông Âu. Liên xô, Trung Quốc. Song từ năm 1979, chính phủ không gởi du học sinh đi Trung Quốc nữa và không sử dụng những ai tốt nghiệp ở Trung Quốc trở về.

Từ năm 1986 trở đi thỉnh thoảng có du học sinh đi các nước Châu Âu ( những nước có bang giao với CHXH chủ nghĩa Việt Nam ) nhưng với số lượng rất hạn chế và chọn lọc.

 

Phong trào du học từ 1990 đến nay : phong trào phát triển rầm rộ và đa dạng nhất là sau khi Hoa Kỳ thiết lập bang giao từ 1995. Du học khắp thế giới gần th́ Thái Lan, Singapore, Nhật ; xa th́ Châu Âu, Hoa kỳ. Nhiều nhất là du học Hoa Kỳ. Cựu Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michalak đă từng tuyện bố : Đến năm 2020 th́ 80% lănh đạo Việt Nam từ hàng Bộ Trưởng trở lên đều có văn bằng tốt nghiệp đại học ở Mỹ hoặc Châu Âu. Hiện nay có 21.000 sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ (đứng thứ 10 danh sách các nước gởi du học sinh sang Mỹ ). Con số nầy gia tăng hàng năm. Có thể nói trào lưu du hoc hiện nay là trào lưu thực hiện “ Giấc Mơ Mỹ “

Thành phần thanh thiếu niên nào thực hiện được giấc mơ vừa nêu. Đó là :

Hàng chục ngàn sinh viên hiện đang du học ở Mỹ, tốt nghiệp t́m cách định cư nước sở tại.

Số thanh thiếu niên c̣n trong nước đang mơ ước ngày nào đó ngồi ở giảng đường đại học ở Âu Mỹ.

Đối với thanh thiếu niên thuôc thành phần trung lưu giàu có th́ việc thực hiện Giấc Mơ Mỹ dễ dàng.

C̣n lại thành phần thanh thiếu niên không đủ tài chánh, đành phải thi vào đại học hay cao đăng trong nước. Hiện giờ trong nước có đến 300 trường đại học và cao đẳng.

Điều đáng đề cập ở đây là hầu hết du học sinh là con cháu của giai cấp trung lưu giàu có, lưa tuổi du học sinh th́ đa dạng từ tiểu học đên tốt nghiệp trung học. Du học sinh ra đi th́ nhiều song trở về nước không bao nhiêu nhu đă nói ở trên. Phong trào ra đi rầm rộ đến nỗi người ta gọi là một cuộc “ di tản giáo dục “ v́ :

“ Nền giáo dục Việt đang xuống cấp trầm trọng không phải riêng việc thiếu chuyên môn, thiếu tổ chức, mà thiếu tư cách đạo đức – một nhân phẩm cần có nhất của nghề dạy học, nên cha mẹ chăm chăm đi t́m một trung tâm du học có uy tín thay v́ đấu tranh để xây dựng cho con một ngôi trường, có một trường học tốt. Con du học nước nào cũng đều được cả, v́ chắc chắn là vẫn tốt hơn Việt Nam. Và những kẻ đă đi th́ chẳng khi nào muốn quay trở về, buồn thay, bởi họ biết xấu hổ ( Nền Giáo Dục Không Biết Xấu Hổ - VOA 18-2-2017 Blog ).

 

Như chúng tôi đề cập ở trên, con cháu thành phần thu nhập thấp đành phải chấp nhận theo học Đại Học trong nước để rồi trong tương lai gia nhập hàng ngũ đi t́m việc làm. Theo thống kê th́ hiện nay có đến 1, 1 triệu người không kiếm được việc làm trong đó người có văn bằng đại học 202.000 người, cao đẳng 122.000 người, chuyên nghiệp 73.800 người. Theo bản tin VN Express th́ chính phủ dự đinh đưa số cử nhân thạc sĩ thất nghiệp đi xuất khẩu lao động dưới danh xưng “ xuất khẩu chất xám “. Giới chức dự định đến 2025 hướng đến nhiều nước như Nhật : hộ lư, điều dưỡng ; Đức : cơ khí, công nghệ thông tin, điện tử có các quốc gia mới như Slovakia, Cộng Ḥa Czech …

 

Rồi gần đây ở trong nước người ta nghe nói nhiều đến tinh thần Phan Chu Trinh nhưng liệu có làm theo và thực hiện ước nguyện của cụ Phan lúc sinh thời như ước mong của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong điếu văn tang lễ cụ Phan tháng 4-1926 “.… …Chúng tôi chỉ mong mai sau những người kế chí tiên sinh làm cho vẻ vang dân tộc Việt Nam ta th́ linh hồn tiên sinh sẽ được yên ổn mà ngậm cười nơi suối vàng “. .Nói th́ dễ nhưng làm th́ khó lư do Giáo dục Việt Nam đang lâm vào khủng hoảng. Cao điểm sự khủng hoảng nầy sẽ đến vào đầu năm học. Năm nay người ta bắt đầu thấy dấu hiệu của sự khủng hoảng : “ Khó như Rớt thi tuyển vào Đại Học “. Đó là dấu hiệu Đại Hoc và Cao Đẳng ế khách như những năm trước nên mới có chuyện Bộ Giáo Dục và Đào Tạo giành quyền ban phát chỉ tiêu đến nỗi ông Bộ Trưởng ( Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ) phải than thở Bộ Giáo Dục là Bộ Thi Cử.

 

Một hiện tượng đi t́m việc ( xẩy ra ở một tỉnh miền trung ), nhiều ứng viên giấu văn bằng tốt nghiệp đại học để xin một suất lao động phô thông. Họ làm như thế để sống qua ngày chờ vận may …như xuất khẩu lao động ( sang Nhật, Châu Âu ) may mắn hơn nữa là gia nhập “ đội ngũ ba triệu công chức “ Điều nầy quá khó v́ giới chức có thẩm quyền thường than thở : Trong số ba triệu công chúc th́ một phần ba ( khoảng 1 triệu ) không có họ cũng được, c̣n một phần ba cần huấn luyện lại, như thế chỉ một phần ( khoảng 1 triệu ) thật sư làm việc.

 

Do đâu mà văn bằng tốt nghiệp đại học rẻ như bèo đến thế. V́ đại học là trung học kéo dài, hay đại học là trung học cấp 4. Nơi đây thầy đọc tṛ chép. Đọc và chép những kiến thức đă lỗi thời.

 

Thầy đọc tṛ chép là do giáo sư có văn bằng tiến sĩ thiếu công tŕnh nghiên cứu mới. Tuy Việt Nam có nhiều tiến sĩ nhất thế giới, song nhiều tiến sĩ đi làm công tác hành chánh, số c̣n lại ngồi chờ thời ra “ làm quan “ hơn nữa họ có học vị mà không có công tŕnh nghiên cứu v́ không đam mê công việc với nhiều lư do.

 

Hiện nay có hai vấn đề : di tản giáo duc ( con nhà giàu du học ) và xuất khẩu chất xám ( con nhà nghèo tốt nghiệp đại học mà không kiếm được việc làm ). Đó là hai vấn nạn khiến giáo dục Việt Nam lâm vào khủng hoảng :

Đại học và Cao Đẳng ế khách. Theo thống kê mới nhất th́ toàn Châu Á có 300 trường đại học danh tiếng th́ Viet Nam không có trường nào cả.

Số lượng học sinh trung học giảm do không gánh nổi học phí.

Cho nên giớ chức có trách nhiệm nên công khai việc sử dụng học phí : chẳng hạn lương giáo viên hoàn toàn do học phí trả …Nếu đúng như thế th́ có trái với chủ trương : có nhiều loai trường trung hoc. Song song với loại trường trung học công lập có trung học dân lập, trung học tư thục …

 

Thật t́nh khuyến khích học sinh giỏi nhưng nghèo, chẳng hạn học sinh giỏi đậu vào trường chuyên không chịu nỗi những lệ phí tù mù không tên hoặc “tự phát “ cao ngất trời, biết thế thà học trường tư ( trường tư không dám bắt buộc học sinh đóng những lệ phí như thế ). Điều nầy khiến học sinh giỏi nhưng nghèo phải phân vân : bỏ th́ tiếc mà theo th́ đuối ( do chi phí không tên cao ngất trời)

Xét lại tư duy “ mua chữ phải trả tiền “ ( ư nói học phí ) cụ thể xem hầu bao của cha mẹ học sinh là “ nồi cơm Thạch Sanh “ ( nồi cơm tuy nhỏ và nhiều đủ sức nuôi hàng vạn quân đang chiến đấu ) (11)

 

Học cũng như ăn để sống, ăn có dinh dưỡng “ ăn vóc, học hay “ ( vóc là vóc dáng ). Lối học nhồi nhét như hiện nay không khác ǵ bữa ăn nhiều cao lương mỹ vị dần dà trẻ em sẽ siêu dinh dưỡng. ( mập ph́ )

 

Mới đây nhiều nhà hoạch định chính sách công nhận rằng Việt Nam sẽ là trung tâm silicon của Đông Nam Á ( ASEAN ) v́ Việt Nam có tiềm năng và tài năng phát triển công nghệ cao. Điều này sẽ thành sự thật khi những nhà hoạt đông chính sách có tầm nh́n xa thấy rộng về Thế kỷ 21 : Đất Nước thịnh vương giàu mạnh nhờ “Trí “ chứ không nhất thiết là “ Miệng Muốn Ăn “( Tài nguyên thiên nhiên dồi dào, đia chính trị …)

 

Giới chức có trách nhiệm nên lợi dụng cơ hội mà hành động để thực hiện Tinh Thần Phan Châu Trinh. /.

 

 THANHTRAN

 

 Chú thích :

 

    (1)   Nam kỳ lục tỉnh ( sáu tỉnh ) : Bien Ḥa, Gia Định, Định Tường, Vỉnh Long, An giang, Hà Tiên.

    (2)    Vua Bảo Đại sinh 1913, trị v́ 1925-1945, thoái vị tháng 8-1945, trở lai cầm quyền với danh xưng Quốc Trưởng 1949-1954.

    (3)    Ông Nguyễn Tất Thành làm đơn xin học Trường Bảo Hộ.

    (4)     Ông Adolf Hitler ( 1890-1945 ) có khiếu hội họa ( trang trí ) xin thi vào Cao Đẳng Mỹ Thuật. Song v́ không có tú tài 2 và Trường không cho treo băng một thời gian. Quá thời gian ấn định mà không có văn bằng tú tài 2 đương nhiên phải thôi học.

    (5)     Kỷ sư cầu cống.

   (6)     Ra tù, ông Phan Chu Trinh không c̣n được dạy Hán Văn nữa ; con là Phan Châu Dật không c̣n tiếp tục hưởng học bổng, do đó hai cha con sống vất vả trong mưu sinh nghề chụp ảnh. Ông Phan Châu Dật bệnh trầm trọng phải về Việt Nam và mất ở Huế.

    (7)    Cũng v́ bệnh Phan Chu Trinh xin về Việt Nam lúc đầu Pháp không cho về sau mới chấp thuận.

    (8)     Nhóm lấy tên chung là Nguyễn Ái Quốc, về sau mỗi người một nơi, một ḿnh Nguyễn Tất Thành đi sang Tour nên Nguyễn Tất Thành trở thành Nguyễn Ái Quốc từ đó.

    (9)       Lúc đầu Pháp không cho về sau th́ đồng ư.

   (10)    Đại Học công lập : Saigon, Huế Nha Trang Cần Thơ Đà nẳng ( Hoạt động đầu năm 1975 ) Đai Học Tư thục : Đà Lạt, Vạn Hanh, Minh Đức, Tây Ninh, Ḥa Hảo ( An Giang )

    (11)   Khi Quốc Hội thảo luận việc xây dựng đường cao tốc, th́ một số đại biểu quốc hội ngại nếu phải vay th́ dân gánh thêm nợ. Ông Chủ Tich Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng trả lời : cứ vay dân ta giỏi trả nợ.

 

 

 

 

 Tháng 04 năm 2017

TRẦN HÀ THANH

 

 

 

 

 

 

 

 

trang truyện và Thơ của Trần Hà Thanh             |                 www.ninh-hoa.com