trang truyện và Thơ của Trần Hà Thanh              |                 www.ninh-hoa.com

TRẦN HÀ THANH

  Cựu Hiệu trưởng:
Trung học Ninh Ḥa
(Trần B́nh Trọng)
Niên khóa 1971-1975


Hiện cư ngụ tại:
Tiểu bang California,
Mỹ Quốc


 

 

 

 

 


BN MƯƠI NĂM SAU
Trần Hà Thanh
 

 

Bốn mươi năm trước ( 1974 ) khoảng tháng 11 tôi đi dự bữa cơm tối tại nhà một người bạn nhà binh. Tới nơi tôi thấy không khí bữa cơm có vẽ trang trọng khác với thường lệ chúng tôi gặp nhau nơi quán sá hoặc nơi công công. Chủ nhân nêu lư do buổi họp mặt hôm nay, ông nói sau hai mươi năm binh nghiệp, cho tới hôm nay thân thể được như thế nầy ( không mang thương tật ) là điều đáng mừng. Hai mươi năm ( 1954-1974 ) trôi qua với nhiều biến cố lịch sử xẩy đến cho Đất Nước. Từ giữa năm 1953 cuộc chiến từ nam chí bắc đến hồi ác liệt. Chiến trường đang cần trong t́nh h́nh Quân Đội Quốc Gia cần gia tăng quân số. Ông bạn nhà binh như tôi vừa đề cập, học trên tôi hai lớp, ông học đệ nhị ( lớp 11 ) c̣n tôi học lớp đệ tứ ( lớp 9 ), trong lớp đệ tứ B3 của chúng tôi có một anh bạn Nguyễn T… một buổi sáng nào đó anh đứng lên bảng đen nói lời từ giả. Đáng tiếc ở chỗ c̣n không đầy năm tháng nữa th́ tới kỳ thi tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp, sao chia tay sớm thế. Đó cũng do hoàn cảnh cá nhân. Hai mươi năm đối với một đời người là thời gian khá dài nhất là con dân của một Đất Nước có nhiều chuyện buồn hơn vui.

Từ sau buổi hội ngộ gọi là “ sơ kết hai mươi năm đi vào cuộc chiến “, tôi nghe được nhiều tin không tốt lành cho Miền Nam Việt Nam. Nhất là những ngày ở Saigon sau biến cố Phước Long đầu tháng 1-1975, chuyện tái phối trí lực lượng, chuyện di tản chiến thuật, chuyện thuyền nhân Lâm Lư Hùng đóng tàu vượt biển sang Úc Châu… Từ Saigon tôi trở về nhiệm sở trong ḷng buồn rười rượi …Thế nhưng không khí đón xuân nơi sân trường khiến chúng tôi vui lên mà quên đi những phiền muộn về thời cuộc. Sau Tết Nguyên Đán năm đó sinh hoạt trong trường học trở lại b́nh thường. Chúng tôi chuẩn bị ra Đặc San hè 1975 : nhận bài viết, tổng hợp phân loại chuẩn bị ấn loát, ấn định ngày phát hành : ngày phát thưởng cuối năm học 1974-1975.

Song từ sau biến cố Ban mê thuột ( ngày nay gọi là Buôn mê thuột ) 10-3-1975 th́ mong ước có một mùa hè như dự định không thể thực hiện được. Nhất từ sau 17-3-1975 t́nh h́nh biến đổi từng giờ một : trên đưởng cái quan hàng đoàn xe đủ các loại đầy người và vật dụng xuôi nam. Có h́nh ảnh trái ngược : những chuyến xe GMC ngày hai buổi vẫn đều đặn ngược xuôi đưa học sinh đến trường về nhà như không có chuyện xẩy ra chung quanh. Chúng tôi tạm yên tâm hằng học sinh vần được xe GMC đưa đón đến trường, nơi thị trấn th́ có lực lương tổng trừ bị : lữ đoàn dù trấn đóng. Tin di tản từ Miền Trung khiến chúng tôi không khỏi lo âu dù không khí nơi trường học ; thầy vẫn day tṛ vẫn học, điểm danh hằng ngày số vắng không hề gia tăng. Giáo sư trường chúng tôi đa phần ở ngoại tỉnh, họ cũng lo âu song ngoài mặt vẫn b́nh thản. Tôi cũng như họ ngoài th́ b́nh tĩnh mà ruột th́ rối bời. Nếu không có giờ đến lớp dạy học tôi đi lang thang khắp nơi để nghe ngóng t́nh h́nh, có lúc tôi đi ngang cổng trường dừng lại nh́n vào bên trong mà tần ngần không muốn vào nhất là khi nghe tiếng giảng bài rồi lời dặn ḍ của giáo sư cho kỳ thi bán niên lần thứ hai của năm học. Ḷng thấy xao xuyến tự hỏi phải chăng đây là buổi học cuối cùng. Thế rồi chuyện sẽ đến phải đến, một buổi chiều tôi đang giảng bài ở một lớp 10 th́ một giám thị đến gặp tôi nói nhỏ Khánh Dương mất rồi, tôi trả lời cho đánh trống tan trường, rồi tôi ra hiệu cho học sinh rời lớp học. Ra đến ngoài đường tôi thấy từng đoàn xe nối đuôi nhau về hướng nam, ra đến trung tâm thị trấn, thấy lính dù vẫn c̣n trấn đóng, tôi tạm yên tâm, tôi được mấy anh bạn nhà binh dặn ḍ khi nào thấy không c̣n lính dù - họ rút đi - th́ t́m đường di tản. Lúc nầy là cuối tuần lại là lễ phục sinh nên chúng tôi không gặp nhau để tính chuyện trường học với t́nh h́nh. Sáng thứ hai ( ngày này học sinh vẫn c̣n nghỉ ) tôi nghe Lănh Sự Quán Mỹ ở Nha Trang đă di tản, thế là gia đ́nh chúng tôi hoảng hốt chạy vào Cam Ranh. Ở Cam Ranh cũng không yên. Ngày 2-4-1975 chúng tôi lại di tản nữa, đi đến ranh giới Ninh Thuận Cam Ranh th́ cầu sập, người ta phỏng đoán có thể đây là ranh giới giữa Quốc-Cộng trong tương lai ( ? ). Thế là sáng 3-4-1975 chúng tôi lại ra đi trong mưa và giá rét của mùa đông mặc dù lúc đó đă cuối xuân sang hè. Qua khỏi chiếc cầu sập như chúng tôi nói ở trên chúng tôi t́m được chiếc xe La Dalat rồi chạy về hướng Phan Rang, khi xe chạy gần nhà thờ Hộ Diêm, th́nh ĺnh phía trước chúng tôi môt chiếc xe du lịch chạy ngược về phía chúng tôi, cướp trên xe xả sung bắn vào chúng tôi, anh Ṭng –bạn tôi- lanh trí lái vào đường hẽm sau đó chúng tôi trốn sau bức tường. Khi xe cướp xa dần, chúng tôi đến nhà thờ Hộ Diêm, nơi đây tôi gặp rất đông người di tản từ Miền Trung họ cũng bị kẹt nơi đây như chúng tôi, t́nh h́nh ngoài đường vẫn hổn loạn do bọn cướp lợi dụng không có chính quyền đă hoành hành và hôi của. Trong t́nh h́nh như thế chúng tôi lại được tin xe tăng Bắc Việt đă xuất hiện ở Ba Ng̣i – Cam Ranh cách Hộ Diêm khoảng 40km. Trong t́nh h́nh tuyệt vọng nh́n về phía phi trường Tháp Chàm máy bay trực thăng lên xuống, có chiếc trực thăng lượn về phía chúng tôi quan sát và như che chở cho chúng tôi. Mọi người reo lên lính quốc gia trong cảm giác đang được cứu sống. Chiều đến một người di tản hớt hăi đi chiếc xe vespa chạy đến hỏi đây có phải là vùng tư do không ? Rồi anh ấy tự trả lời đúng rồi lính dù đóng ở Ba Tháp ( gần chiếc cầu găy như chúng tôi nói ở trên ). Chiều tối qua đài phát thanh và tin tức địa phương chúng tôi được biết Quân Đoàn 3 đảm nhiệm hai tỉnh B́nh Thuân, Ninh Thuận c̣n lại của Quân Đoàn 2. lại có chiến hạm của lực lượng Hải Quân VNCH ở ngoài khơi nữa. Chúng tôi vui mừng quá không ăn không ngủ được chờ sáng mai t́m phương tiện về Saigon. Hôm sau một có xe cỡ trung từ Phan Thiết ra nhờ đó chúng tôi có phương tiện về nam, xe đến Phan Thiết th́ không tiếp tục đi B́nh Tuy nữa. Tài xế tốt bụng đưa chúng tôi về làng chài Thanh Hải giới thiệu với chúng tôi ông chủ chiếc tàu 6 lốc ( máy ). Ông ta nói tàu đang gom hàng hóa trưa mai mới khởi hành đi Vũng Tàu. Thấy chúng tôi lo lắng chờ đợi, ông chủ tàu giải thích ở đây hiện giờ an toàn, ông chỉ về phía Lầu Ông Hoàng và nói Bộ Chỉ Huy tỉnh B́nh Thuân trú đóng ở đó, ngoài khơi th́ có duyên đoàn canh tuần bờ biển …Chiều xuống cảnh vật yên tỉnh thỉnh thoảng chúng tôi thấy xe nhà binh đi tuần tiểu. Lần đầu tiên chúng tôi thấy lại bóng dáng người lính VNCH kể từ 31-3-1975. H́nh ảnh của họ như những phao cứu sống đối với chúng tôi.

Đến trưa hôm sau chúng tôi rời làng chài Thanh Hải đi Vũng Tàu, tàu chạy dọc theo ven biển, ngoài khơi chúng tôi thấy chiến hạm Hải Quân VNCH lướt sóng. Nắng ấm chan ḥa, trời trong, biển xanh đậm và sóng lặn khác hẵn bốn hôm trước đây, trời mưa rét, mây mù, bầu trời ảm đạm như chào đón xe tăng Bắc Việt. Cảnh trời đất sầu thảm như thế tại Saigon cũng chào đón xe tăng Bắc Việt một tháng sau. Chiều xuống rồi đêm đến, biển màu đen như mực, bầu trời cũng màu đen tương tư, ánh sao đêm như ánh đèn le lói mờ dần về phía sau. Trên tàu không khí tĩnh mịch, ngoài i tiếng động cơ nổ, chúng tôi thiếp đi lúc nào không biết. Bổng có tiếng than thở vọng ra từ bóng tối gần chỗ chúng tôi, có lẽ ông ấy say sóng không ngủ được, ông ta than thở nay mất tỉnh nầy mai mất tỉnh khác không biết tương lai và số phận rồi ra sao đây. Qua chuyện tṛ tôi biết ông ấy người gốc bắc di cư 1954. Từ 10-3-1975 đến nay ông di tản nhiều nơi Đa lat, Nha trang, Ninh Thuận, giờ đây chạy đến Vũng Tàu. Nghỉ tương lai của Miền Nam Việt Nam chúng tôi vô cùng lo sợ. Trên đường di tản, qua radio tôi được nghe Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford cho lệnh di tản cô nhi Việt từ Saigon đi Mỹ. Chiến dịch di tản nầy được goi là Babylift. Rồi đây số phận người di tản có thể như số phận đàn sâu dài từ trên núi kéo nhau xuống biển rồi vùi vào biển cả. Vào mùa hè 1974 tại tỉnh Ninh Thuận có một đàn sâu từ phía núi xuống đồng băng băng qua quốc lộ 1 rồi t́m đường xuống biển.

Đang buồn rầu như thế th́ anh Ṭng reo lên Đèn Hải Đăng Vũng Tầu kia ḱa, đến Vũng Tầu rồi. Thành phố Vũng Tàu về đêm trong giâc ngủ b́nh yên. Chúng tôi thở phào nhẹ nhỏm đă đến Miền Tư Do.

Sáng hôm đó chúng tôi đi ngay lên Saigon. Một ngày sau đó t́nh cờ đi ngang Ṭa Đại Sứ Mỹ, tôi thấy người ta chen chúc trước cổng nộp giấy tờ : những người làm sở Mỹ đang làm thủ tục di tản. Ngày 9 và 10 -4-1975, Quân và xe tăng Bắc Việt bị thiệt hại nặng ở Long Khánh, đường Long An-Saigon được khai thông. Từ 10-3 -1975 đến lúc đó - 9, 10-4-1975 – mới có trận đánh ra hồn như thế và Quân đội Bắc Việt ( công trường 5, công trường 7, công trường 9 ) đă tổn thất nặng nề. Người ta so sánh và ước mong ước : Trận Valmy 20-9-1792 l Pháp đă chận đứng Liên quân Anh Phổ. Chiến thắng nầy đă cứu cách mạng Pháp 1789 ; th́ lực lượng quân đội Bắc Việt bị đẩy ra khỏi Long Khánh cũng tương tự như thê. ( hy vọng như thế để rồi thất vọng ê chề )

Song từ 16-4-1975 trở đi t́nh h́nh trở nên đen tối cho VNCH : lại nay mất tỉnh nầy mai mất tỉnh khác, Ninh Thuận, B́nh Thuận, Long Khánh mất mà người ta đùa cợt ra nước mắt : di tản chiến thuật, tái phối trí lực lượng …Đến ngày 21-4-1975 chính thể VNCH dần đi vào cáo chung. Bản nhạc I dream The White Snow báo hiệu người Mỹ di tản hay lịch sử gọi là cuộc tháo chạy. Tối 27-4-1975, sau khi Quốc Hội Lưởng Viện biểu quyết trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh, ông Trần Văn Lắm –Chủ Tịch Thương Viện VNCH tuyên bố : Thế là chúng tôi thua, có điều an ủi là chúng tôi thua người Việt Nam.

Chiều 28-4-1975 trước lễ bàn giao giữa Tổng Thống Trần Văn Hương và Tướng Dương Văn Minh, một xướng ngôn đă tả bầu trời Saigon hôm đó : bên ngoài trời lác đác mưa bầu trời u ám chuyển qua tối đen như báo hiệu tương lai của VNCH. Sau lễ bàn giao th́ phi trường Tân Sơn Nhất bi pháo kích. Thế là Saigon đi vào cơn hấp hối.

Sáng ngày 29-4-1975 trở đi hàng trăm ngàn người đổ xô ra đường chạy đến bến cảng, sân bay, những điểm hẹn đă qui ước trước, trên không máy bay trực thăng bay lượng đi lại giữa phía biển và sân thượng Ṭa Đai-Sử Mỹ như thoi đưa, cứ thế cho đến 9 giờ sáng ( giờ Saigon ) ngày 30-4-1975.

Cũng sáng 30-4-1975 có hai h́nh ảnh trái ngược : Tướng Dương Văn Minh th́ chuẩn bị đọc lời đầu hàng ; Bộ Tổng Tham mưu không c̣n ai chịu trách nhiệm, thế mà trên cầu Saigon cuộc chiến vẫn tiếp tục ; Binh sĩ Dù, Biệt Động Quân vừa chận xe tăng vừa chiến đấu vừa tải thương đồng đội và thường dân chạy loạn, một xe tăng Bắc Việt bị cháy, quân Bắc Việt không tràn qua cầu được. Cuộc chiến vẫn tiếp diễn cho đến khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

Sự can trường của các chiến binh trên cầu Saigon năm xưa có thể so sánh sự can trường của nghĩa sĩ Cần Giuộc gần một thế kỷ trước ( cuối thế kỷ 19 ). Cũng xin so sánh với hai trận đánh khác. Đó là trận đánh ở Cai Hạ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên giữa Lưu Bang và Hạng Vơ. Quân Hạng Vơ thua và bị bao vây ở Cai Hạ. Ba ngàn đệ tử của Hạng Vơ bỏ trốn. Hạng Vơ tự vẫn Đó là trận chiến cuối cùng của cuộc chiến. Trận thứ hai vào đầu thế kỷ 18 ở Châu Âu giữa liên quân Anh-Phổ và Hoàng Đế Napoleon I nước Pháp. Chiến trân xẩy ra ở Waterloo. Quân Pháp thua trận và bi thiệt hại nặng, tàn quân chỉ c̣n 100 ngư lâm quân. Một trăm lính ngư lâm bám quanh Hoàng Đế, quyết chiến bảo vệ Hoàng Đế đến người cuối cùng. Liên quân Anh-Phổ khâm phục ḷng trung thành và can đam nên không truy bức nữa. Ba trận chiến có một điểm chung : trân chiến cuối cùng của cuộc chiến. Chủ tướng th́ tự vẫn, chủ tướng th́ bi lưu đầy. Thường th́ quân thua th́ tướng mới chạy hoặc bi bắt, c̣n sáng 30-4-1975, toàn bộ tướng lănh bỏ chạy mà quân vẫn chiến đấu can trường để bảo vệ từng tấc đất bên nầy cầu Saigon

Bốn mươi năm sau, nh́n về cuộc chiến bốn mươi năm trước, có người th́ vui ( bên chiến thắng ), có kẻi th́ buồn ( bên chiến bại ), song có một điều nên suy nghĩ về chiến tranh : Tránh Chiến Tranh là điều Đáng Tự Hào, chứ chiến tranh - bất kẻ kẻ thắng hay thua – th́ chẳng có ǵ tự hào. ( Nguyễn Văn Tuấn – Tai sao khó có thể tự hào là Người Việt Nam ). Đó là nguyên lư chung về chiến tranh Cuộc chiến Viêt Nam đưa đến hai h́nh ảnh trái ngược. Bên chiến thăng được ca tụng Đất Nước được thống nhất có ḥa b́nh trường cửu ( 40 năm rồi ), nhưng ngủ quên quá lâu trên “Ṿng Hoa Chiến Thắng “ nên về mặt văn hóa, giáo dục th́ có chuyện đáng buồn : Một Viện Sĩ Viên Hàn Lâm đă định nghĩa Văn Hiến Thăng Long : “ văn hiến là văn học để hiến dâng cho đảng “ (!)( diễn đàn Talawas ) (*). Suy nghĩ về chuyện nầy th́ thật là đáng thương và đáng tiếc cho văn học Miền Nam Việt Nam ; c̣n bên chiến bại th́ sao, có một cựu sĩ quan quân đội VNCH vừa xong trung học đă xếp bút nhiên theo việc đao cung, rồi tù tội, rồi lưu vong, nơi quê hương thứ hai ông theo hoc Đai Học, khoảng thời gian theo học ông ấy bị trở ngại về Môn Sử. Ông và Giáo Sư người Mỹ suy nghĩ trái ngược nhau về cuộc chiến Việt Nam 1961-1975. Ông Giáo Sư chịu ảnh hưởng của phong trào phản chiến xuất phát tù các đại học danh tiếng nên sinh viên gốc Việt này thường bị điểm F về bộ môn Sử, sinh viên gốc cựu sĩ quan vẫn kiên nhẫn thuyết phục người nghe cái nh́n khác về cuộc chiến mà anh sinh viên là người trong cuộc. Cuối cùng người sinh viên gốc sĩ quan VNCH đă thành công. Cuối cùng th́ sự hiểu biết sai lầm về sự chiến đấu của quân nhân Mỹ và đồng minh VNCH đă được giải tỏa và tan biến theo thời gian.

Sự việc nầy năm 1964 nhà văn Morris L. West đă viết trong tác phẩm The Ambassador ( Ông Đại Sứ ) : Đại Tướng Tolliver là người Mỹ duy nhất ở đây có được một mớ chỉ thị lương thiện. Ông được lệnh chiến đấu trong một cuộc chiến không thể thắng được nhưng chẳng có ai trông đợi ông thắng trân cả. Với ông và với Ngũ Giác Đài, chỉ là một trận tŕ hoăn chiến …………. . và trách nhiêm tối hậu không phải đổ lên đầu ông mà là Bộ Tổng Tư Lệnh QĐ VNCH ( trang 105 ).

Ông Đại Tướng Tolliver c̣n than thở tốn kém nhiều tiền bạc và sẽ c̣n tốn kém nữa nhưng người Mỹ vẫn giữ vai tṛ cố vấn.

Rồi khi đưa đến nửa triệu quân vào từ 1965 để rồi 10 năm sau tháo chạy. Thế rồi biết bao cựu chiến binh một thời mặc cảm “ Hội Chứng Việt Nam “ đă khóc ṛng trước bức tường đá đen. Họ Khóc như thế nầy : Binh pháp không dạy chúng tôi làm chính trị tại chiến trường.

Dù sao th́ Cố Tổng Thống Ronald Reagan đă nói : “ Rút kinh nghiệm cuộc chiến Việt Nam là từ nay Hoa kỳ không bao giờ đưa quân ra nước ngoài mà không có ư định chiến thắng ở đó “

Từ nhận định đó mấy chục năm sau mới có những ḍng chữ nơi Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ.

 DUTY HONOR SACRIFICE

It ‘ s sometimes said that Heros are hard to find, People who understand the meaning of duty, honor and country need to look no further than those who fight for freedom and democracy

( Dịch Trách nhiệm Danh dự Hy sinh

Người ta thường nói khó mà t́m ra các vị anh hùng. Nhưng bạn hiểu được ư nghĩa của trách nhiệm, danh dự, tổ quốc th́ không t́m đâu xa hơn những người đă và đang chiến đấu cho tư do và dân chủ )

Nghĩ về những người lính chiến bốn mươi năm trước đây, tôi xin tỏ ḷng ngưỡng mộ và tri ân :

-Suốt 50 ngày cuối cùng của VNCH, thấy h́nh bóng họ, chúng tôi thấy ḿnh được cứu sống. Họ những người cùng trang lứa chúng tôi, hoặc lớn hơn hoặc tré hơn sớm khoác áo chinh y vào miền gió cát. Họ đă cho chúng tôi cuộc sống thanh b́nh nơi thị trấn nhỏ mà hiền ḥa Ninh Ḥa nơi Miền Cát trắng, biển xanh. Có họ hằng ngày mới có những chuyến xe GMC đưa đón đến trường. Từ đó chúng tôi đă sống dưới ngôi trường nhiều kỷ niệm trong không khí thanh b́nh trong cơn binh lửa thời đó. Nhờ đó những kỷ niệm như sốn g lại mỗi lần hội ngộ đối với chúng tôi mỗi độ xuân về. Đối với chúng tôi khi quỹ thời gian không c̣n nhiều, th́ đó là điều hạnh phúc nhất.

 

Ngày 31-12-2014

 THANH TRAN

(*) Giáo Su Nguyễn Huệ Chi ứa nước mắt Khi đề cập chuyện nầy.

 

 

 

 

 

 

trang truyện và Thơ của Trần Hà Thanh             |                 www.ninh-hoa.com