Trang Thơ & Truyện: Trần Đ́nh Nguyên Soái               |                 www.ninh-hoa.com

TRẦN Đ̀NH NGUYÊN SOÁI

 

Cựu học sinh
Trường Trung Học Đức Linh,
Ninh Ḥa,
Niên Khóa 1964-1976
 

Trước 1975 sống tại Dục Mỹ

 

 

Hiện đang sinh sống tại
tỉnh Kiên Giang, Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 


DỤC MỸ

XƯA VÀ NAY


Trần Đ́nh
Nguyên SOÁI

H́nh: Sử Xương Hải

 

Khi tôi tạm có trí khôn mẹ tôi đem xuống một chiếc tàu, đi theo đoàn quân lính để di cư vào Nam, chiếc tàu này đổ chúng tôi xuống Phan Rang – một thành phố xa lạ, sư đoàn lính này gồm các quân tạp chủng họ gom ở miền Bắc, đặc biệt một nửa quân lính này là người Nùng của vùng cao nguyên Bắc Việt nên tiếng tăm khá dữ, được chính quyền lúc đó cho tiến dần về Trung Tây Nguyên để ổn định t́nh h́nh lúc bấy giờ và họ đă đi qua từng vùng, như Phan Rang, Tu Bông, Ba Ng̣i, Thanh Minh, Diên Khánh và cuối cùng là trụ quân ở Ninh Ḥa.

 

Mỗi nơi lính ở khoảng hai đến ba tháng lại di chuyển. V́ là dân buôn bán, sống dựa vào lính nên lính đi đến đâu là mẹ tôi dắt tôi theo đến đó, dù hai mẹ con chẳng dính dáng ǵ đến lính.

 

Sống ở Ninh Ḥa được 2 năm, nghe đâu sư đoàn tiếp tục tiến lên vùng cao nguyên, điểm đầu chắc có lẽ là Dục Mỹ, v́ thế hai mẹ con tôi thử bàn nhau lên Dục Mỹ trước xem t́nh h́nh thế nào, và t́m phương hướng làm ăn xem sao.

 

Khi c̣n ở Ninh Ḥa Tôi cứ nghĩ Dục Mỹ chắc cũng vậy thôi, nhưng thật không ngờ, khi lần đầu tiên tôi đặt chân lên Dục Mỹ, nơi đây chỉ là một xóm nhỏ nghèo nàn, lưa thưa vài mái gia đ́nh, và nhất là việc đi lại giữa Dục Mỹ và Ninh Ḥa c̣n khó khăn, phương tiện chủ yếu chỉ là xe ngựa và xe đạp, cầu Dục Mỹ chưa có, chỉ có cầu nhỏ bằng đá, 2 xe không tránh nhau được, mỗi mùa nước lũ về rất nguy hiểm, có khi kẹt xe cả ngày lẫn đêm, phải đợi lũ rút mới qua cầu được, v́ thế trong thời gian ngắn nhất họ thi công cầu Dục Mỹ lớn, cầu do hăng RMK đang thi công, trên đường các xe ủi, các người lính đang thi công dọn dẹp để lấy chỗ cho sư đoàn, được mang danh là sư đoàn Khinh Chiến 15, v́ hiện thời lúc đó toàn cảnh Dục Mỹ là rừng tạp, hoang vu, khi tạm ổn về mặt bằng các trại gia binh do các người lính đang thi công, bất ngờ toàn bộ sư đoàn Khinh Chiến 15 ầm ầm kéo lên Dục Mỹ, các bạn nghĩ xem, một sư đoàn lính kéo theo sau là một sư đoàn vợ và con của lính, đông kinh khủng, những người lính đă làm hết công suất mà vẫn không kịp nhà cho vợ và con của lính ở, nên ngày đầu tiên lên họ phải căng lều để ở tạm, một cuộc cắm trại vĩ đại chưa từng có, kéo dài từ chợ Dục Mỹ lên đến gần trung tâm Lam Sơn, họ được chia thành 4 tốp, thành 4 trại gia binh như sau, trung đoàn súng cối giáp Chùa Mỹ Sơn Tự, kế đến là trung đoàn 43 kéo dài gần đến khu 15, bên kia đường là trung đoàn 44, giáp nhà thương cũ, kế đến là trung đoàn 45, một sư đoàn phải làm đến 4 cái trại gia binh, đội quân ăn theo không biết từ đâu đổ về làm tăng thêm phần náo nhiệt.

 

Mỗi buổi sáng tiếng rao bánh ḿ, xôi, chè, kem,... ôi đủ thứ không thiếu ǵ, tạo cho Dục Mỹ một khung cảnh mới, náo nhiệt, ồn ào. Chợ Dục Mỹ cũng thiết lập các xe ủi đất đang chia hàng lối, đường được chia làm 4 đường tạm gọi tắt là số 1, 2, 3, 4 cho tiện, lúc đầu chỉ có vài hàng quán ḷ ṭ, ban đêm thắp đèn măng xông và chưa có điện.

 

Sau hơn một năm, Dục Mỹ cũng đă tạm ổn dần dần đi vào nề nếp, mỗi buổi sáng vợ lính kéo nhau đi chợ, con lính kéo nhau đi học, khung cảnh gần như là một thị xă. Buổi trưa kéo nhau ra suối thả ḿnh dưới ḍng nước mát lạnh, vui lắm, nhất là các kỷ niệm về con suối Dục Mỹ kể hoài cũng không hết.

 

Bên Thiên Chúa giáo chọn nơi gần cầu, gần suối và gần chợ xây dựng thành một giáo xứ Dục Mỹ, linh mục đầu tiên của Dục Mỹ là cha Nguyễn Văn Nghi, v́ là dân di cư ở Bắc vào nên con chiên khá đông, ngài làm tạm một nhà thờ bằng lá và một trường học  bằng lá lấy tên là trường tiểu học “Tiến Đức”, cho con em của tất cả mọi thành phần đến học.

 

Bên Phật giáo cũng vậy, họ chọn nơi gần chợ, giữa rừng cao su gom góp lại làm chùa Mỹ Sơn Tự và làm một trường học lấy tên là trường tiểu học “Bồ Đề” để cho con em phật tử học.

 

Chỉ trong khoảng 5 năm từ ngày có bước chân người lính đặt lên đất Dục Mỹ, nơi đây đă thay đổi một cách nhanh chóng, hàng quán đua nhau mở, các quán cà phê nhạc, các dịch vụ giải trí, bến xe lam là phương tiện di chuyển chủ yếu, trong nội ô Dục Mỹ phương tiện duy nhất là xe lôi thùng.

 

Sau 6 năm, sư đoàn Khinh Chiến 15 đổi tên là sư đoàn 23 Bộ binh, và sắp sửa di chuyển lên Ban Mê Thuột, nhường chỗ cho các trung tâm đang được thành lập, trung tâm huấn luyện Lam Sơn, trường Biệt Động Quân, trường Pháo Binh, đây là nơi nuôi, đào tạo các binh sĩ, hạ sĩ quan, và sĩ quan trên toàn quốc, Dục Mỹ chuyển thành yếu khu Dục Mỹ, có lẽ đây là thời gian vàng đánh dấu sự trưởng thành của Dục Mỹ, đă có cấp tướng chỉ huy, có cả cư xá cho cố vấn quân sự Mỹ, về dân sự, Dục Mỹ chỉ là một xă nhỏ, nhưng về quân sự, Dục Mỹ lại là yếu khu, chỉ đứng sau Cam Ranh. V́ thế, năm Mậu Thân, Dục Mỹ tuy là khu quân sự nhưng là nơi an toàn nhất, không có biến cố nào cả. Khi sư đoàn 23 bộ binh di chuyển lên Ban Mê Thuột, chỉ trong ṿng 1 tuần lễ, 4 trại gia binh của sư đoàn 23 bị xóa sổ, để lại Dục Mỹ một khoảng trống xắng kéo dài từ trại gia binh BĐQ lên đến thị trấn Lam Sơn, các quân trường lính tuy nhiều, nhưng họ không đem theo vợ con, họ chỉ đến một thời gian nhất định rồi đi, Dục Mỹ sôi động nhất là các ngày thứ 7 và chủ nhật, 2 ngày này thân nhân của các tân binh trên toàn quốc đến thăm nuôi. Có một nghịch lư là chiến tranh càng lan rộng th́ Dục Mỹ càng đông vui, v́ lệnh tổng động viên trên toàn quốc, nên lính mỗi ngày mỗi đông hơn, các trung tâm nhộn nhịp hơn.

 

Về phía tôn giáo lúc này gọi các linh mục là tuyên úy Công giáo, Phật giáo cũng gọi là tuyên úy Phật giáo, khi cha Nghi đi, đến cha tuyên úy Nguyễn Bá Chính về, ngài đă có công rất nhiều, xây nhà thờ, xây trường học cấp 2, giáo xứ Dục Mỹ đi vào nề nếp khang trang, đến khi cha Chương về, ngài xây cổng giáo xứ Dục Mỹ và làm thêm một số pḥng học, nhất là xây hang đá Lộ Đức khá nổi tiếng.

 

Sau đến đời cha Nguyễn Văn Lạc, Tôi lúc này vẫn c̣n hoạt động cùng các cha, vẫn giúp lễ, giúp các cha trong hoạt động tôn giáo. Tuổi trẻ là sự phá phách nghịch ngợm, đùa giỡn, chúng Tôi gọi cha bằng một cái tên khác, Bùi Như Lạc (nói theo nghĩa đen của người Bắc nghĩa là “ngon bùi như đậu phộng – lạc”), không hiểu ai đă đem câu chuyện này nói với cha. Ngày hôm sau, chúng tôi toàn bộ ban giúp lễ được mời gặp cha, và cha “thưởng” cho mỗi đứa 5 roi. Tôi tức lắm và từ đó tôi bỏ cha đi ra ngoài, đi bụi đời luôn. Ở Dục Mỹ, mỗi lần đến lễ Noel, các quân trường tổ chức rất hoành tráng, lễ đêm thường tổ chức ở ngoài trời, lễ Misa hát là lễ rất khó chỉ có những người quen đă tập nhiều năm mới giúp được, v́ thế cha cho người đi gọi tôi về để tổ chức lễ và giúp lễ đêm Noel, Tôi dứt khoát trả lời là không về và không giúp lễ.

 

Cha kiếm lần 2 và nói “nếu mày không về giúp lễ sẽ biết tay tao”, và cuối cùng dù cha có nói thế nào Tôi cũng không về, thế là cha cho quân cảnh đi t́m bắt tôi cùng 4 thằng bạn nhốt ở đồn quan cảnh 2 đêm 1 ngày. Thật sự tôi không hiểu sao cha lại làm vậy? chỉ v́ một chữ kư, một lời nói của cha đă xô tôi vào vực thẳm, một tí nữa là tôi đă đánh mất tuổi trẻ của ḿnh chỉ v́ 2 đêm và 1 ngày của sự trừng phạt vô lư từ cha Lạc, và kể từ đó tôi trở thành con chiên lạc loài, không bao giờ tôi bước chân vào nhà thờ Dục Mỹ hay bất kể một nhà thờ nào khác. Về sau khi về Ninh Ḥa, Tôi nghe được tin cha Lạc đă về coi nhà thờ ngang trường học Đức Linh, nhưng tôi vẫn không vào để chào cha, để giăi bày nỗi bực tức, cứ thế thời gian nhấn ch́m tất cả những sự kiên trên vào dĩ văng và tôi không bao giờ gặp lại được cha Lạc.

 

Hôm nay, khi cầm cuốn đặc san số 4 đọc được những ḍng tâm sự của bạn bè và tôi biết tin cha Nguyễn Văn Lạc đă từ trần khi đang c̣n cải tạo, chưa được trả về đời thường, tự dưng một nỗi buồn sâu thẳm nó len lén đi vào cơi ḷng Tôi. Bây giờ ngồi nghĩ lại, 2 cha con cũng đă có những ngày tháng vui vẻ, thế rồi 2 cha con lại xa nhau chỉ v́ những tự ái vớ vẩn để bây giờ hụt hẫng, khi ngồi đọc cuốn đặc san số 4, Tôi lại bồi hồi nhớ về Dục Mỹ, giáo xứ Dục Mỹ đă cho tôi biết bao nhiêu là kỷ niệm, từ khi giáo xứ c̣n hoang sơ cho đến bây giờ nó vẫn c̣n măi là những kỷ niệm không thể phai mờ trong trí nhớ.

 

Chắc phải về Dục Mỹ, đến bên mộ của cha để xin lỗi, tạ lỗi, đời tôi đă được các linh mục giúp đỡ rất nhiều, kể cả sau năm 1975. Đến hôm nay, Tôi đă từng giữ những chức vụ từ nhỏ nhất đến cao nhất trong tôn giáo, nhưng với linh mục tôi c̣n thiếu sót và c̣n bí ẩn nào đó giữa tôi và Dục Mỹ chưa giải tỏa xong. Bí mật.

 

Dục Mỹ hiện tại hôm nay cũng như những ngày đầu tôi đặt chân đến, nó không c̣n nghèo nàn, thiếu thốn, nhưng cuộc sống của cư dân ở đây c̣n vô vàn khó khăn sau năm 1975, v́ là vùng đất sỏi đá, không chuyên canh loại cây nào cả, không ổn định về công việc, nhưng Dục Mỹ của tôi vẫn c̣n rất nhiều ẩn số của kỷ niệm để nhớ, để hoài niệm, xin hướng về Dục Mỹ một niềm tin đi lên và vững bền.

 

 

 

 

Trần Đ́nh Nguyên Soái

Kỷ niệm 

30/04/1975 – 30/04/2013

Sau 38 năm xa Dục Mỹ.

 

 

 

 

 

Trang Thơ & Truyện: Trần Đ́nh Nguyên Soái                  |                 www.ninh-hoa.com