Thơ & Truyện Trần Công Nhung                  |                 www.ninh-hoa.com


 Trần Công Nhung
 

Quê quán Quảng B́nh.

Cựu Giáo Sư Trung học
Vạn Ninh & Vơ Tánh

Nhiếp Ảnh Gia từ năm 1969.

Giải thưởng nhiếp ảnh
quốc tế & quốc nội

(Vàng, Bạc, Đồng)

 

Tác phẩm đă in:

- Quê Hương Qua Ống Kính
tập 1 (2002) đến tập 11 (2011)

- Mùa Nước Lũ (Truyện) 

- Thăng Trầm (Hồi kư Buồn vui một đời người) 

- Về Nhiếp Ảnh (Mạn đàm, Nhân vật, Phê b́nh)

- Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng.


Tác phẩm sẽ in: 

- QHQOK tập 12 - Sách ảnh Quê Hương – Tản mạn đường xa



Hiện sinh sống tại
Nam Cali, Mỹ Quốc


 

 

 

 

 

 

"CHIẾN TRƯỜNG XƯA"
Trần Công N
hung

  


KỲ 2:
(tiếp theo Kỳ 1)

 

 Ngày mới ra tù, chúng tôi từ A 30 đi bộ theo con đường đất về ngă ba Phú Lâm đón xe, lúc bấy giờ QL1 nhỏ hẹp không lớn như hôm nay. Một người chờ xe bên đường chỉ cho tôi: “Rẽ trái đi thẳng đến ngă tư đèn đỏ quẹo trái nữa là đường lên A30”. Đúng là vật đổi sao dời, đường đi A 30 mà cứ ngỡ QL Bắc Nam. C̣n đâu con đường đất ng̣ng ngoèo xa xưa, con đường mà bao nhiêu người mẹ, người vợ, người con lặn lội 3 tháng một lần đi thăm nuôi tù cải tạo.

 

 “Xe buưt Anh Tuấn” số 7 chạy từ Tuy Ḥa lên Phú Thứ sông Hinh Tân Lập, chạy qua A 30, Sơn Thành. Ngày nay các vùng quê hẻo lánh đều có xe đ̣, dân chúng di chuyển không c̣n khó như trước. Nhưng mỗi khi xuân về Tết đến th́ lại vất vả trăm lần, xe tàu cứ tùy theo thời điểm mà tăng giá, nhiều giá trong một ngày y như giá vàng và đô la lên xuống. Làm ăn xa, ai cũng mong về sum họp với gia đ́nh, giới xe lợi dụng “chém đẹp”, lắm khi coi người như đồ vật. Đă có lần công an phát giác xe khách nhốt người dưới khoang chứa hành lư, điều khó tưởng tượng nổi trong thế giới văn minh.

 

 Đoạn đường hơn 20km lên A 30 nay biến đổi hoàn toàn, hai bên đường ruộng lúa vừa cấy, có nơi chạy tuốt vào núi xanh. Làng mạc nhiều chỗ ngói thay tranh, một hai mái chùa mới, vắng lặng êm đềm, chỉ khi qua nơi chợ họp mới thấy đông người. Những ngôi chợ dọc đường vẫn tên cũ nhưng khang trang hơn: Chợ Phú Thứ, chợ Mỹ Thạnh Đông, có đ́nh chợ hẳn hoi, một cái nh́n lạc quan có thể thấy đời sống đă đi lên. Nhưng, đi lên bằng cách nào, ai lên ai xuống, lại là vấn đề khá phức tạp.

 

 Lúc thấy nhà máy “Công Ty cổ phần mía đường Tuy Ḥa”, tôi biết đă gần đến trại A 30, (theo lời người chỉ đường). Chiếc cầu đúc đang dở dang, một vài công nhân ́ ạch với vôi vữa, tôi dừng lại hỏi thăm, không ngờ đây là cầu Đồng Ḅ. Cầu đúc như cầu trên QL1. Hồi trước bà con đi thăm nuôi vào mùa mưa, xe lam chỉ đưa đến cầu Đồng Ḅ, bà con tự lội śnh lầy để vào trại.

 

 Mấy phút sau, tôi đă đến chỗ rẽ vào A 30, có cầu bắc qua kênh thủy lợi, đường bê tông thẳng tắp. Sát núi trong xa, một dăy nhà ngói lúp thúp xen lẫn rừng dừa. Tôi chạy xe vào đến cổng nhà thăm nuôi vẫn không thấy vọng gác nào. Nơi này hoàn toàn lạ, không c̣n dấu vết ǵ của trại tù năm xưa, mà như xóm làng mới mẻ hôm nay. Cố nhận dạng tôi chỉ thấy mờ mờ: Đây là con đường đất mà các đội đi qua mỗi ngày để đến nơi cày cuốc. Nơi đây không c̣n trồng mía, cây cối xanh như nhà vườn.

 

 Rẽ xe theo hướng vào trại chừng hơn trăm mét, có vọng gác ngay cổng lớn: “Khu Giáo Dục A1”. Anh công an sắc phục xanh (ngày trước màu vàng) tḥ đầu ra hỏi:

-  Chú cần việc ǵ?

-  Em thưa với ban giám thị, tôi là người cải tạo ở đây mấy chục năm trước nay xin phép được thăm trại.

 

 Anh công an đi vào, hai người tù đang làm ở cổng hỏi nhỏ tôi: - “Chú có thuốc không”, tôi lắc đầu, - “Tù khổ quá chú ơi”. - “Em bị mấy năm?” - “Dạ, 2 năm” - “Thế th́ đă thấm ǵ!”. Tù bây giờ không mặc áo quần trại phát như lúc trước, ai có ǵ mặc nấy, cứ như người dân ngoài vào làm. Một lúc, anh công an trở ra mời tôi vào văn pḥng. Tôi mang máy ảnh trước ngực đi tự nhiên. Một sĩ quan 4 sao (12) tiếp tôi, anh vui vẻ mời tôi ngồi và gọi một chị công an vào lấy b́nh trà. Tôi nói ngay “mục đích yêu cầu” của ḿnh:

 Thưa anh, mấy chục năm trước tôi cải tạo ở đây, nay tôi sống ở nước ngoài, nghe nói trại A 30 bây giờ đẹp lắm, tôi muốn xin phép thăm. Tôi cũng muốn viết một bài về nơi này, đây là điều theo tôi nghĩ, những ai đă từng vào đây cũng đều muốn biết. Nói có sách mách có chứng, bài tôi viết báo bên Mỹ đây.

 

Người công an cầm tờ báo VĐ cười thân thiện:

-  Ngày trước cải tạo, suy nghĩ tốt xấu như thế nào, thôi bỏ qua, bây giờ mời uống nước.

 Tôi nhấp tí nước trà rồi gợi chuyện, tôi nhắc lại công việc của anh em tù ngày xưa, thành phần đi cải tạo, cơ ngơi của trại hồi đó, nào mía, lúa, ngô, khoai, chăn nuôi, nấu đường..., làm gạch...Bất chợt tôi hỏi:

-  Thưa anh bây giờ trại vẫn gồm nhiều thành phần can phạm hay chỉ riêng cho diện nào?

-  Tôi không được phép trả lời, xin mời uống nước.

 Tôi lại đánh trống lảng qua những chuyện ngày xưa, từ khi đi cuốc, đến trực trại, ra chăn nuôi, đi giữ mía..rồi bất chợt quay lại đặt câu hỏi:

-  Trại h́nh sự trên B́nh Sơn nay c̣n không anh?

-  Tôi đă nói, tôi không được phép trả lời bất cứ ǵ. Toàn bộ thuộc bộ công an. Báo công an đến tác nghiệp cũng phải có giấy giới thiệu. Thôi mời uống nước.

 

 Biết không thể làm ǵ hơn, vả lại những điều muốn biết thêm cũng chẳng quan trọng, tôi uống cạn tách trà rồi nói lời cảm ơn ra về. Người sĩ quan công an nhắc lại: “Ra khỏi phạm vi trại, anh muốn ǵ tùy ư, trong trại anh chụp ảnh là có vấn đề với anh em bảo vệ đấy”. Tôi cười: “Anh yên tâm, tôi hiểu”. Sự thực muốn chụp cũng chẳng khó, nhưng h́nh ảnh có khác ǵ vườn cảnh, công viên đâu. Ngày trước c̣n thấy tù từng đội, thấy cảnh lao động khổ sai chứ trại hôm nay vắng hoe, mang vẻ một cơ quan hành chánh, chụp làm ǵ. Chỗ này ngày trước là nhà xay giả của “đội nữ”, kia là nhà nấu đường, bây giờ toàn cây ăn trái...

 

 Tôi muốn chạy lên khu chăn nuôi, thăm lại bến tắm mỗi chiều đánh trần ra bơi lội, trại chăn nuôi với 2 dăy chuồng hồi đó giờ ra sao, những khu ruộng mía tôi canh giữ nhiều tháng trước khi được tha..(13) nay thế nào. Nhưng thôi, không khéo lại “rách việc”, được đến tận nơi thấy được cảnh cũ là quí rồi. Ra cổng, nh́n lại một lần nữa: “Khu Giáo Dục A 1”, tên mới của A 30, có lẽ chữ cải tạo mang nghĩa bất nhẫn nên đổi tên cho có “văn hóa nhân bản”, cho ra vẻ con người hơn chăng!

 

 Từ đường cái nh́n vào, khu trại thấp thoáng mái đỏ ch́m trong âm u huyền bí, chung quanh rừng núi mù mù, đầy vẻ rừng thiêng nước độc, một thế giới riêng biệt, người xa lạ không hiểu ǵ, người ở gần lại càng không muốn biết. Vậy mà trong thế sống chết, trước đây đă có người bỏ trốn vào rừng xanh, chấp nhận chết với hùm beo, chướng khí...

 

 Con kênh thủy lợi dẫn nước về đồng lúa huyện Ḥa Phong, con đường nhựa phẳng phiu, cánh đồng một màu xanh ngắt...tất cả cho tôi cảm giác thanh b́nh an lạc, tuy nhiên vào sâu trong thôn xóm, hay nơi lao động th́ không thiếu ǵ h́nh ảnh nói lên cuộc sống bấp bênh nhọc nhằn. Lượt về c̣n th́ giờ tôi ghé thăm chùa Pháp Hoa ngay địa đầu trị trấn Vạn Ninh, ngôi chùa khá lớn và nhất là vị tăng trụ tŕ lại nổi tiếng về khoa chiết tự. Rất tiếc, vị sư đi vắng, bù lại tôi có dịp thưởng lăm những cây cổ thụ trong chùa và pho tượng Niết Bàn thật đặc sắc.

 

 Khi nghe tôi kể chuyện trở lại “Chiến trường xưa”, có người thắc mắc: “Đă thoát khỏi hang cọp, giờ lại ṃ tới thăm, ông không sợ à”. Tôi có niềm tin mănh liệt vào quê hương xứ sở, dù thế nào, nếu có dịp th́ cố t́m cách thăm, khó mấy cũng không nản...Và có lẽ do ḿnh không hẳn gần cũng chẳng phải xa nên mạnh dạn hơn chăng. Nói thế nhưng cũng không phải cứ có tấm ḷng là lúc nào cũng được. Tôi thích bài “Nụ cười sơn cước” của nhạc sĩ Tô Hải từ tấm bé, tôi biết ông ở khu chung cư Miếu Nổi, muốn chụp ông một tấm chân dung, nhưng bạn bè chung quanh ai cũng tránh né nên ḿnh cũng phải dè dặt. Thật phi lư!

 

HẾT

 

(a) Con đường xưa em đi” trang 105 QHQOK tập 9

(1). Năm 78-79 trại A 30 có anh Tỳ đội văn nghệ trong một phút cao hứng phóng ra hai câu: “Tội ǵ không biết tội ǵ, Sáng sáng lănh củ khoai ḿ về kho”. Cái miệng là khổ cái thân, anh bị đưa ra đội đi cày!

(2). Ḥn Lao trang 137 QHQOK tập 5

(3). Chợ ma bán chiếu trang 153 QHQOK tập 9

(4). Lối vào thành phố, và thị trấn, ngày nay đường mở rộng, trang trí cây cảnh đẹp mắt công phu. Ưu điểm đặc biệt này có lẽ chỉ VN, chứng tỏ người Việt có nét văn hóa riêng. Tuy nhiên ở mặt khác th́ nhếch nhác tồi tệ không thể hiểu (vệ sinh đường phố, loa công cộng, vệ sinh thực phẩm, đạo đức tuổi trẻ...).

(5) và (9) Trang 124 truyện dài Mùa Nước Lũ in 2004.

(6). Bát Tràng QHQOK tập 1.

(7). Chuyện Liêu Trai trang 176 QHQOK tập 4.

(8). Phụ bản màu trong QHQOK tập 8

(9). Nhạc bản “Lục quân VN”.

(10). Sau 75, Phú Yên + Khánh Ḥa = Phú Khánh, người KH như nằm dưới sự “cai trị” của Phú Yên. Được mấy năm lại tách ra, Vũng Rô trở thành mối tranh chấp, có lúc hai phe đă nổ súng vào nhau. Ngày tách tỉnh, Nha Trang chiếu phim “Thoát ṿng nô lệ”, không hiểu vô t́nh hay hữu ư.

(11). Chùa Bà Đanh trang 90 QHQOK tập 10.

(12). Quân hàm các binh chủng của bộ đội CS không như các nước tư bản nên cũng khó biết. Người ngoại quốc sẽ ngạc nhiên khi thấy mấy chú CA tuổi mới 20 mà cầu vai toàn sao! Nhưng mấy ông gác cửa khách sạn th́ cấp bập Trung sĩ ( 3 chữ V) hoặc Đại úy (2 gạch)..vv

(13). “Đổi đời” trong Thăng Trầm in năm 2004

 

 

 

 

TRẦN CÔNG NHUNG

2/2010

 

 

 

 

Thơ & Truyện Trần Công Nhung                |                 www.ninh-hoa.com