Trung Học Vạn Ninh
 

CHỊ HẰNG
Cô Đặng Thị Tuyết N

 

Cô Đặng Thị Tuyết N

cựu Giáo sư:

Trung Thu Sài G̣n

 & Vạn Ninh Khánh Ḥa.

 

 


  

Hiện cư ngụ:
Tiểu bang California,
Hoa Kỳ.

 


 

 

           

 

PHẦN 1:
 

 

Chị Hằng là bạn thân tôi. Chị học cùng với tôi ở Đại học Văn khoa Sài G̣n (1961). Chị lớn hơn tôi năm tuổi. Trước đó chị học ban Toán ở Cao đẳng Sư phạm. Chị bỏ kỳ thi tốt nghiệp v́ lư do sức khỏe. Vài năm sau chị xin dạy giờ ở G̣ Công và tiếp tục học thêm văn chương ở Văn khoa.

 

Chúng tôi có bốn đứa: Loan, Hải, Chân và tôi nghịch như quỷ sứ tuy trông bề ngoài rất hiền lành và trẻ con. Chị coi tụi tôi như em. Chúng tôi t́m người “lư tưởng” cho chị. Chị đẹp và có duyên. Ở con người chị, t́nh, lư hài ḥa. Đó là do thiên tính cũng có và do sự giáo dục cũng có. Chúng tôi phải t́m một người “hùng” xứng đáng với chị. Lựa măi mới được một người học ban Triết lớn hơn chị năm tuổi, độc thân. Chàng là loại người “vào trong nho nhă, ra ngoài hào hoa”. Chúng tôi “ghép” cho chị. Tụi tôi đặt tên chàng là “người Anh Cả” và chị là “ người chị Hai”. Chân lư luận:Hai, Cả đều là Cả, nhưng Cả vẫn hơn Hai.

 

Chị cười nói: “Hơn ở cái già phải không?” Tôi đáp:“Chưa đúng ư Chân. Nếu xét toàn quốc th́ Cả cũng như Hai, nhưng xét chỉ ở miền Bắc th́ Cả vẫn hơn Hai”. Hải tiếp:“Hay Thúc Nha chú thích tên như Chu Hy chú thích Kinh Thi vậy.”

Hết năm Dự Bị th́ Chân đi Úc du học.“Ngũ long bay một, c̣n lại “tứ quư” là chị Hằng, Loan, Hải và tôi.

 

Chị Hằng có tài xuất khẩu thành chương. Một hôm, ở lớp văn chương Việt Hán, trên bàn chỗ chị ngồi có câu đối của một sinh viên nào đó:

 

Đă ghê sách lạ Thầy Nghiêm Toản,

Lại ngán câu văn cụ Thẩm Quỳnh.

 

Chị Hằng chê câu đối chưa có chất thơ, chị viết thêm hai câu tiếp, thế là được một bài thơ trữ t́nh:

 

Đă ghê sách lạ Thầy Nghiêm Toản,

Lại ngán câu văn cụ Thẩm Quỳnh,

Học ban Việt Hán “phát Kinh”

Nhưng em mơ quá nên ḿnh ghi theo.

 

Loan “b́nh”chữ “mơ” chị Hằng dùng tuyệt quá. Đúng là “quốc văn ba lối”. Đẹp như mơ cũng có, mơ ước kẻ có chứng chỉ văn chương Việt Hán cũng có. Hay!

 

Sáng thứ bảy, Loan, Hải, tôi ra chợ Bến Thành ăn bún ốc. Tôi cẩn thận dành một chỗ ở thư viện. Tôi để quyển vở nháp vào chỗ“tịnh thất”của tôi thường ngồi. Đó là một gốc cột. Nơi đây có thể quan sát được tất cả mà ít người thấy ḿnh. Vở nháp viết toàn chữ Hán duy chỉ có chữ T là tiếng Việt chữ đầu của tên tôi. Tên tôi là Thúc Nha. Mẹ tôi kể rằng lúc mẹ tôi giở dạ th́ thầy tôi đang đọc chuyện Đông Chu Liệt Quốc, đoạn Băo Thúc Nha chia phần tiền lời cho Quản Trọng. Thầy tôi nói: “Trai cần tài, gái cần đức. Nếu bà nó sanh trai, tôi đặt tên là Trọng, nếu là gái, tôi đặt tên là Thúc Nha”. Đấy là lai lịch cái tên tôi.

 

Số là bút máy của tôi hư. Tôi viết tên tôi khi sửa bút. Sau khi viết xong chữ T th́ bút lại hư. Chữ T trước c̣n đậm nét, sau cứ nhạt dần. Sửa riết bút thành hỏng luôn. Hôm đó chị Hằng đến thư viện và đă xem vở nháp của tôi v́ b́a vở nháp tôi đề tên bằng chữ Hán. Trước khi đi Công gô (G̣ công), chị Hằng để lại bài thơ sau đây trong vở nháp của tôi.

 

Bài thơ tra hỏi:

 

Sáng nay đọc hồn em qua vở nháp,

Gặp tên T “qua” nghi lắm em ơi!

“Qua” van em, xin em có đôi lời.

Chàng T ấy là ai? Em tưởng nhớ?

 

Sau khi đọc bài thơ của chị, tôi bèn trả lời ở dưới.

 

Bài thơ trả lời:

 

Nói làm chi? Xin người đừng nhắc nhở,

Chỉ gợi sầu, thêm khổ cho tôi

Chữ T kia, màu mực viết phai rồi.

Ḷng khép lại, đă quên người “bạn” cũ!

 

Loan xé tờ nháp đưa cho Hải rồi chuyền nhau đọc. Cuối cùng không hiểu sao nháp lại lọt vào tay Tuấn, người rất mê Loan. Tuấn giữ lấy để làm kỷ niệm. Có lần Tuấn hỏi tôi: “Ai làm bài “Trả lời” đấy chị Nha?”. “Loan đấy, nhỏ đó lăng mạn và kín đáo lắm.” Tôi đáp. Từ hôm ấy, vẻ mặt “Triết nhân” của Tuấn đăm chiêu hơn.

 

Sau khi tốt nghiệp Đại học, chúng tôi lập gia đ́nh và toàn là cô giáo. “Tam đa” Loan, Hải và tôi đă không mát tay. Một người hùng ở phương trời lạ đă “nẫng” chị Hằng của “người Anh Cả” trước khi “Anh Cả” thành tài. Đó là một

ông Chánh Án của ṭa án quân sự. Tôi đùa chị Hằng:“trông anh “có mặt sắt” đen x́ không chị?”. Loan trả lời thay chị:“Không, trái lại, Anh Thận rất bạch diện thư sinh”.

 

Chị Hằng chọc lại tụi tôi:“Anh Cả của các em thế nào?” Tôi bịa:“Nghe tin chị sắp lên xe hoa, Anh Cả nhờ em hát tặng chị một câu hát”và tôi cất tiếng liền:

“Em lên xe hoa rồi, nh́n theo em có một người”. Tôi “láy” ở tiếng “rồi” nghe rất điệu nghệ. Chị Hằng nói:“Ta cảm động thật, không phải cảm động về người nhờ hát mà cảm động v́ người diễn tả chân t́nh”.

 

Chúng tôi chia tay nhau sau lần gặp gỡ đó.

 

Nam 1975, chúng tôi ở Sài G̣n tất cả. Chồng chị Hằng, chồng Loan đi “học tập”, chồng Hải c̣n du học ở tiểu bang Pensylvania (Hoa Kỳ), nhà tôi được tiếp tục dạy học ở Sài G̣n.

 

Sau một thời gian xa vắng, nay chúng tôi lại hội ngộ ở lớp “Bồi dưỡng Văn Sử” của giáo viên cấp III Trung học. Chúng tôi phải đứng trên quan điểm duy vật khi phân tích sự kiện lịch sử và tác phẩm văn chương. Chị Hằng không dạy Văn nữa mà chuyển sang dạy Sử. Chị không muốn nói một vấn đề hai lần trái ngược nhau.

 

Hôm khai mạc lớp học, Ông Xương giáo viên NTMK (Nguyễn Thị Minh Khai) Nữ Gia Long Saig̣n cũ, đại diện ban Văn. Chị Hường, giáo viên LQĐ (Lê Quư Đôn) Chasseloup Laubat Saigon cũ…, đại diện ban Sử đọc cảm tưởng.

 

Lúc bế mạc buổi lễ, có tiếng x́ xào nơi ban Văn. Số là, trong bài của ông Xương có câu “nhờ ơn tái tạo của Đảng”. Ngay lúc ông vừa dứt tiếng “Đảng”, tôi đă nghe rơ tiếng “x́” khu ban Văn ngồi. Chị Hằng đưa mắt nh́n tôi, tôi cúi xuống, nghĩ thầm chắc thế nào cũng có thơ khen tặng ông Xương là tài…văn hay chữ tốt của người đại diện. Quả đúng vậy, hôm sau, Hải, ban Văn có câu đối rằng:

 

Ơn tái tạo ra Xương chưa có thịt!

 

Ông Xương rất gầy. Có lần ông than cùng chị Hằng: “Hồi này ăn uống thiếu thốn quá, răng tôi hư tiệt!”, nay lại nghe ông đọc cảm tưởng “kỳ quá”, chị Hằng bèn đối lại ban Văn rằng:

 

        Công đổi đời, răng rụng chỉ c̣n môi!

 

Thầy Trí, người hay b́nh văn nói: “Thằng ra câu đối thật hay, dùng chữ của Xương để “chơi” Xương, thằng đối câu đối thâm nho thiệt, cũng dùng tâm sự của Xương để “chơi” Xương. Xương chỉ c̣n môi để nhóp nhép, thều thào ra chữ “ơn tái tạo”. Mọi người cười ngất. Tôi cảnh giác thầy Trí rằng: “Ông Trí ơi, ông nhớ Kim Thánh Thán chết v́ tội ǵ rồi chứ?”.

 

Thời tiết Sài G̣n đă chuyển sang đông, mưa nhiều hơn tháng trước. Ông Trí tâm sự với tụi tôi rằng: Con em tôi hôm nay nó đi Vũng Tàu. Nó mang theo mật ong và bánh ḿ. Chồng nó cũng đi đường dây đó tới Hồng Kông rồi. Số tôi năm nay đi tốt, sang năm tôi bốn mươi tuổi, năm tam hạp không tốt cho đàn ông, nhưng tiếc quá không c̣n đủ chỗ cho tôi. Trời lại gió nhiều. Tôi lo quá. Thấy chị Hằng cười, tôi nói: “Chị Hằng cười là có thơ đề rằng rồi đấy.”

 

Đúng thế, giờ giải lao chị đọc khẽ cho tôi nghe:

 

Trời mưa, gió lớn làm ǵ?

Năm ḿnh băm chín, em đi lấy chồng.

Chồng em măi tận biển đông,

Hồi môn em có mật ong, bánh ḿ.

Em vui: em đă vu quy,

C̣n ta: chết lặng bên ly rượu buồn.

Ước ǵ ta có cánh buồm,

Vợ, con, ta cũng ra nguồn tiễn em!

 

Thơ của chị Hằng thật dí dơm. Ai biết “nỗi ḷng ông Trí” th́ cười; ai không biết th́ khóc thương cho một mối t́nh dang dở.

 

 

 

Xem PHẦN 2

 

  

 

 

 

ĐẶNG THỊ TUYẾT NHƯ

12/2012

 

 

 

 



 

  

 

Trở Về TH Vạn Ninh Trở Về Trang Nhà - www.ninh-hoa.com