Trung Học Vạn Ninh
 

ÂN TRẢ NGHĨA ĐỀN
Cô Đặng Thị Tuyết N

 

Cô Đặng Thị Tuyết N

cựu Giáo sư:

Trung Thu Sài G̣n

 & Vạn Ninh Khánh Ḥa.

 

 


  

Hiện cư ngụ:
Tiểu bang California,
Hoa Kỳ.

 


 

(Viết theo lời kể của một sĩ quan trường Vơ Bị

đi tù cải tạo 10 năm)

 

Sống quá nửa đời người, tôi vẫn luôn luôn tâm niệm câu nói của cổ nhân: “Có đức mặc sức mà ăn”. Nhờ ơn trời Phật, tôi lại được sống ở miền Nam nước Việt không phải chịu sức nén của chủ nghĩa vô thần.

 

Đời tôi, gia ơn cũng nhiều, chịu ơn cũng lắm. Từ những năm 60, quê hương Việt Nam ta, biết bao thanh niên ở cả hai miền phải chịu cảnh huynh đệ tương tàn. Thời gian đó, tôi là một sĩ quan mới ra trường. Rồi một cuộc giao tranh dữ dội, “bên thắng cuộc” (mượn từ của nhà báo Huy Đức) có một ông bị thương nặng, tôi băng bó, cứu ông. Làm như vậy v́ lúc ấy tôi chợt nhớ câu: “nếu phải chiến đấu con hăy chiến đấu với lương tâm con ” trong cuốn “Tâm hồn cao thượng” –Hà mai Anh dịch). Truyện này tôi cũng quên theo thời gian.

 

Cảnh “nồi da xáo thịt” cứ tiếp diễn như lời ca của nhạc sĩ Trịnh công Sơn: hai mươi năm nội chiến từng ngày !

 

Đến 1975 cuộc chiến ác liệt hơn,chúng tôi được lệnh của thượng cấp:- không được rời nhiệm sở. Chúng tôi chấp hành nghiêm chỉnh cho đến khi nh́n ra th́ ô hô thượng cấp cùa tôi đă “xa chạy cao bay” ! để lại tôi “được đi học tập cải tạo”. Tôi đi học, chưa vợ, chưa con, không tiền, không bạc, không thuốc, không men, không mền, áo lạnh. Học tập có 30 ngày mà!- Thông báo của bên thắng cuộc.

Tôi học tập mọi nơi suốt từ Nam ra Bắc. Qúy vị nào làm lịch giỏi xin tính lại thời gian dùm tôi, đi có 30 ngày mà tôi được ở nhiều nơi đến thế! Khi ra Bắc, chúng tôi bị những người vùng đó ném đá, chưởi bới bọn “ngụy” (ám chỉ tụi tôi !) Đau đớn thân xác, tủi nhục tinh thần, nhưng ư chí của một sĩ quan trường Vơ Bị đă chặn đứng ḍng lệ sắp tuôn trào nơi mắt tôi. Tôi không hiểu bọn  “Mao nhều” (mượn từ của ông Trần Đĩnh, tác giả Đèn Cù) đă giáo dục dân gian thế nào mà khiến họ căm thù chúng tôi đến thế !

 

Tôi chới với giữa ḍng đời như con thuyền bềnh bồng trên sóng nước; mẹ già tôi, anh chị em tôi tứ tán biết tôi ở đâu mà t́m.

Bỗng, một hôm tôi được một giỏ quà. Anh quản giáo gọi tôi ra nhận. Tên người nhận đúng là tôi. Người đưa quà là một cô gái mà tôi không hề quen biết. Thấy cô tôi thích cô liền, cô khá đẹp, dịu dàng, giọng nói miền Bắc, có “ton” cao hơn các “cô em Bắc kỳ nho nhỏ” mà tôi đă gặp trong Nam. Cô cho tôi biết có một người họ hàng nhà tôi nhờ cô đưa quà giùm.

 

Gia đ́nh tôi ở Bắc di cư vô Nam năm 1954 (cả nhà cứ đùa nhau là B.54). Tôi vô Nam lúc c̣n rất nhỏ, thành ra cũng chẳng biết ǵ về họ hàng ngoài Bắc cả.

 

Sau 5 năm cải tạo, ở Bắc đồng bào ngoài đó đă hiểu, họ cũng thương hại tụi tù chúng tôi, đem khoai sắn cho. Họ để các thứ trong bụi kín đáo, dặn tụi tôi chờ không có ai th́ ra lấy. Họ không dám đưa thẳng sợ cai tù biết th́ họ cũng bị đi tù cải tạo. Có người nói nhỏ với tôi rằng: “Chúng tôi chờ các anh ra Bắc với tư thế khác mà các anh lại ra đây trong hoàn cảnh này. Chán chết - ở đây đi tù tốt hơn đi cải tạo; tù c̣n có ngày về, chứ cải tạo ít có ngày ra.

 

Nhớ lại những ngày được thăm nuôi, sau khi nhận lănh đồ ăn, lúc đi lao động trong rừng, tôi cứ cười một ḿnh. Rồi, tâm hồn tôi, một tâm hồn lăng mạn cứ phiêu phiêu trong cảnh giới thần tiên. Tôi tưởng tượng cô gái thăm nuôi tôi là một tiên nữ giáng thế cho quà cánh bướm trần gian là tôi, một bại tướng không chùn chân, c̣n chân c̣n bay nhảy. Sau 10 năm cải tạo, tôi được thả.

 

Cô gái thăm nuôi tên Mai đón tôi và nói bố mẹ cô mời tôi ăn bữa cơm trước khi đưa tôi đến nhà họ hàng tôi ở Bắc. Tôi được cả nhà tiếp đón ân cần. Thấy ông thân sinh ra cô, tôi nói: “Con trông bác quen quen, h́nh như con đă gặp bác ở đâu th́ phải”. Ông cười : “Cố nhớ đi, c̣n tôi, tôi nhớ gặp cậu ở đâu, nhớ cả tên tuổi cậu nữa”. Thấy ông nói vậy, tôi, có tật giật ḿnh, nghĩ thầm:

“Không biết ông già này có biết ḿnh là thứ dữ không”.

Ăn cơm xong, ông pha một ấm trà Thái nguyên, rót cho tôi một chén rồi nói:

“Cậu đă nhớ ra tôi chưa”. Tôi lúng túng:”Quả thật con không nhớ, cải tạo lâu quá, trí con cùn đi rồi“.Ông cười khà khà và tiếp: “cải tạo tư tưởng mà”. Đời lính cậu có cứu ai không? Tôi nghĩ thầm: cứu đồng đội cũng có, cứu đồng bào cũng có, cứu kẻ thù cũng có, cơng bạn bị thương, bế em bé lạc mẹ chạy bom, băng bó cho Việt cộng bị bắn què. Tôi đă làm tất cả v́ ḷng nhân đạo luôn luôn có mặt trong trái tim tôi. Ông già tiếp: “Có lần cứu một người, cậu đă nói: băng vết thương cho ông ta, tiếp máu ngay chứ không ông ấy chết mất .Ông ấy là tôi đây. Sau mấy năm ngồi tù, tôi được thả dưới diện trao trả tủ binh. Tôi về Bắc, được thăng chức và quản lư trại cải tạo có cậu ở trong đó. Nhớ ơn xưa tôi sai con gái tôi đi thăm nuôi cậu”. Và tôi “bên thua cuộc” (mượn từ của nhà báo Huy Đức) đă  hiểu tất cả sự thật.

 

Bác Tư, thân sinh Mai mời tôi ở chơi một tuần rồi liên lạc t́m gia đ́nh trong Nam.

 

Tôi rất yêu cô Mai. Các cụ ta thường nói: vợ chồng lấy nhau v́ duyên nợ. Tôi hội đủ cả hai điều này. Gặp Mai do duyên, Yêu Mai v́ nợ, Mai đă nuôi tôi nên tôi mới sống sót trở về “Bên thua cuộc”.

Nghĩ vậy, tôi đánh bạo nói thẳng với bác Tư trai muốn cưới Mai. Bác nh́n Tôi cười rồi nói: “Chắc chắn cậu chưa có vợ chứ?”. Tôi đáp ngay: “Dạ, chắc chắn, con chưa có vợ”.

 

Sau khi tôi t́m được gia đ́nh, mẹ tôi ra Bắc cưới vợ cho tôi. Và Mai theo tôi vô Nam.

Khi có chương tŕnh H.O, tôi ra Bắc nói với hai bác Tư tức ông bà nhạc tôi là: tôi và Mai sẽ đi Mỹ, Cụ ông nói: “Chồng đâu vợ đấy”. Cụ bà th́ hát ca dao:

Thuyền bầu bẻ lái về đông,

Con đi theo chồng để mẹ cho ai

Mẹ già đă có con trai

Con là phận gái dám sai chữ tong.

 

Thế là vợ chồng con cái tôi đều được sang Mỹ. Bốn đứa con tôi nay đă thành danh. Chúng tôi sống hạnh phúc bên nhau.

 

Khi rảnh rỗi, tôi đọc Tam quốc chí, ngâm thơ Thúy Kiều. Tôi tâm đắc nhất hai câu: 

Thiện căn ở tại ḷng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

 

 

 

HẾT

 

 

 

 

ĐẶNG THỊ TUYẾT NHƯ

11/27/2014

Thanksgiving

 

 

 

 



 

  

 

Trở Về TH Vạn Ninh Trở Về Trang Nhà - www.ninh-hoa.com