Trung học TBT Ninh Ḥa   n và Thơ

ĐẶC SAN MÙA HẠ 1973 - THỀM VĂN
Thầy HT Trần Hà Thanh




Trần Hà Thanh


  Cựu Hiệu trưởng:
Trung học Ninh Ḥa
(Trần B́nh Trọng)
Niên khóa 1971-1975


Hiện cư ngụ tại:
Tiểu bang California,
Mỹ Quốc

 

Truyện/Tùy Bút:
 

  Ư Thức Về Nguồn

 

 

Vườn hoa
Văn Học Nghệ Thuật

 

 

 


 


Ư   T H Ứ C   V Ề   N G U Ồ N
_________________________________

Thầy HT TRẦN HÀ THANH 

     Các quốc gia nếu đă có một quá tŕnh lịch sử lâu dài hàng chục thế-kỷ hẳn phải hănh-diện về nguồn gốc dân tộc của ḿnh. Họ quay về quá-khứ với sự ngưỡng-mộ và quí mến những huyền-thoại những thiên hùng ca của thời lập quốc. Trong chiều hướng này, hằng năm chúng ta hướng về quốc-tổ bằng những lễ-nghi trang trọng để nhắc-nhở sự-nghiệp đầy huyền-bí và hùng tráng của thế-hệ xa xưa trong buổi b́nh-minh của lịch-sử. Do sự tô-điểm v́ niềm kiêu-hănh của dân tộc, quốc-tổ đă được thần-thánh-hóa như Ngọc-Hoàng của Trung-Hoa, Thái-Dương thần-nữ của Nhật-Bản hay Hùng-Vương của Việt-Nam.

 

       Đành rằng các tiên-thoại được kết thành do sự khiếm-khuyết của con người trong khi dùng sự phán-đoán chủ-quan để soi sáng quá khứ, nhưng ở Việt-Nam việc đi ngược thời-gian để vào cổ-sử gặp nhiều khó khăn hơn cả, v́ ảnh-hưởng Hán tộc sâu-đậm sau mười thế-kỷ. Từ đó chúng ta thấy xuất-hiện những giả-thuyết trái ngược về Hùng-Vương. Một giả thuyết cho rằng vua Hùng-Vương, quan Lạc-Hầu, Lạc-tướng, quốc-hiệu Văn-Lang là thể-chế đầu-tiên của Cổ-Việt, thuyết khác lại cho rằng tổ-chức trên là di-sản của những sắc dân khác không liên hệ ǵ đến giống Việt ngày nay, lịch-sử lập quốc của nguời Việt được tŕnh-bày gọn-gàng, sáng-sủa hơn từ thế-kỷ thứ 10 sau Tây-Lịch.

 

       Từ hai nguồn tư-tưởng đối-nghịch và trong phạm-vi của bài này chúng tôi chỉ đưa ra những nhận-xét trong sự suy-tư về nguồn trên hai phương diện: dân tộc tức là sự chuyển-hóa của các sắc-dân thuộc lưu-vực sông Dương-Tử trên bước đường Nam-tiến, phương-diện khác sự sinh-hoạt xă-hội hoàn-cảnh địa-lư qua những tiên-thoại trong lịch-sử Cổ Việt.

 

       Từ đời Thái-Cổ, vào khoảng 130.000 năm trước Tây-Lịch đă có nhiều sắc-dân kế tiếp nhau sống trên lănh-thổ Việt-Nam. Nhưng di-tích do sự khai-quật của khoa khảo-cổ chứng-minh điều đó. Về sau sự chuyển-biến ở Trung-quốc ảnh-hưởng đến sự trưởng-thành và tiến-hóa của các dân-tộc trên đất Cổ-Việt: Hán-tộc đă chinh-phục giống Bách-Việt từ lâu sinh sống trên lưu-vực sông Dương-Tử. Những người Việt không chịu khuất-phục đành bỏ quê-hương đi về Nam và định-cư ở miền Trung-Châu Bắc-Phần đó là nhóm Lạc-Việt.

 

       Lă sĩ Bằng đă có một nhận-định rất chính-xác về Lịch-sử dân-tộc Việt-Nam rằng:

 

       “L.Aurousseau suy-đoán dân-tộc Việt-Nam nguyên xuất-phát từ nhóm Bách-Việt, thuyết ấy rất có giá trị. Gần đây sự nghiêng cứu và phát-hiện về các phương-diện: Khảo-cổ-học, Ngữ-học, Nhân-loại-học, Dân-tộc-học đủ chứng minh cho suy-đoán của Aurousseau…

 

       “Trong nhóm Bách-Việt một ngành thiên di xuống phương Nam, khiến cho các dân-tộc ấy trở nên một dân-tộc có thể bảo-tồn được chủng tộc tính nguyên-thủy, chưa thành di-dân bị Hán-tộc đồng-hóa dung-ḥa, do điều-kiện thuận-lợi của hoàn-cảnh của t́nh-thế địa-lư, cho nên trong khoảng bốn năm từ 221 đến 217 trước Tây-Lịch nó có thể chống-cự với quân nhà Tần. Mà từ khi Hán Vũ đế diệt triều nhà Triệu về sau, Việt-Nam tuy lệ-thuộc vào Trung-Quốc hơn một ngàn năm thấm-nhuần văn-hóa Hán-tộc, nhưng không bị Hán-tộc đồng-hóa và thu-hút, kết cục vào thế kỷ thứ 10 nó thoát-ly Trung-Quốc đứng độc-lập”.

 

(Lă Sĩ Bằng trong………………… trong “Đông Nam Á Nghiên-cứu chuyên san” tập3)

 

       Như vậy nhóm Lạc-Việt là tổ-tiên trực-tiếp của Dân-tộc Việt, trên đà chuyển-di về Nam giống Lạc-Việt hỗn-hợp với thổ-dân để lập thành bộ lạc hay quốc-gia nhỏ, họ rất tôn-trọng tập-tục của bản xứ nên không gặp sự đề-kháng như trường-hợp hai bà Trưng chống Tô-Định sau này.

 

       Rồi nhà Tần thống-nhất các tiểu quốc nhà Chu ở phía Bắc tiêu-diệt các nước Việt ở phương Nam thôn-tính nước Ba-Thục lập thành quận huyện, đất Giao-chỉ lại một lần nữa đón tiếp đoàn di dân mới không chịu chính-sách bạo-ngược của nhà Tần: Đó là An-Dương-Vương Thục-Phán. Thục-Phán xây thành trôn ốc Cổ-Loa chế-tạo binh-khí liên-kết với các bộ lạc Việt-tộc quyết-liệt chống với nhà Tần. Sự đề-Kháng bền-bĩ của người Việt “thà vào rừng rậm ở với cầm-thú chứ không chịu làm nô-lệ cho quan Tần”, khiến quân Tần suốt ba năm quân lính không rời áo giáp để rồi đại bại đến nỗi Tần Thủy Hoàng cho đày các tội-nhân xuống cư-trú để bổ-túc quân-lính.

 

       Nếu tỏ ra quyết-liệt với Hán-tộc, An-Dương-Vương sẵn sàng nhân-nhượng với Triệu-Đà qua cuộc hôn-nhân Mỵ-Châu Trọng-Thủy, kế đến Triệu-Đà thay thế nhà Thục và được kể như một triều-đại trong Việt-Sử.

 

       Do văn-minh Hán-tộc đồng-hóa, nỗi buồn tủi của những người vong quốc thấy được qua thi-ca Trung-quốc; sự thổn-thức và uất-hận trong Ly-Tao, Sở-Tử. C̣n những đám lưu-dân khác tuy t́m được đất lành ở phương Nam nhưng tâm-hồn luôn luôn hướng về nước cũ. Ngô-Sĩ-Liên trong Đại-Việt Sử-Kư Toàn-Thư đă cho Lănh-thổ nước Cổ-Việt hay nước Xích-Quí phía bắc giáp Hồ Động-Đ́nh (Hồ Nam) phía nam giáp nước Hồ-Tôn (Chiêm-Thành) phía tây giáp Ba-Thục (Tứ-Xuyên) phía đông giáp bể Nam-Hải. Đó là không phải một lạm nhân mà do sự hoài cảm cái quá-khứ vàng son thưở trước trên bờ Dương-Tử.

 

       Tuy ḷng nghĩ nhiều đến cố quận nhưng lớp người trước sau trên đất Giao-Chỉ gắn bó nhiều với quê hương thứ hai qua những sinh-hoạt xă-hội, những cố-gắng chinh-phục thiên-nhiên, những thiên t́nh ca mà chúng ta có thể hiểu được ít nhiều nhờ những tiên-thoại.

 

       Việc năm mươi người con theo bà Âu-Cơ lên miền núi lập-nghiệp cho chúng ta thấy chế -độ mẫu-hệ c̣n thịnh-hành, cũng từ đó khuynh-hướng thích sinh-sống ở đồng-bằng của dân tộc có liên-hệ đến đàn con của Lạc-Long-Quân.

 

       Chuyện Sơn-Tinh Thủy-Tinh cho chúng ta h́nh-ảnh châu thổ sông Hồng đang thời-kỳ được phù-sa tô-bồi, nước biển thường dâng lên tàn-phá những cánh đồng dưới chân Tản-Viên, nỗi sống cơ-cực của dân nghèo v́ những thiên-tai hằng năm, cũng có thể do cuộc tranh hùng trên đất Giao-Chỉ giữa dân bản-xứ miền núi (Indonésien – Mường) với dân miền biển.

 

       Chuyện bánh chưng cho chúng ta rơ quan-niệm của người Cổ-Việt về sự toàn hảo của trời đất, sự gắn bó của nông-nghiệp trong cuộc sống: Hùng điền hoặc ruộng lạc.

 

       Chuyện Trầu Cau tỏ rơ sự vuông tṛn giữa t́nh huynh-đệ, phu-thê c̣n cho thấy tập-tục nhuộm răng ăn trầu đă có trong xă-hội thời đó.

 

       Nếu chuyện Chử Đồng Tử - Tiên Dung cho thấy t́nh yêu vượt bức tường giai-cấp để thắng trọn vẹn, th́ t́nh-yêu trở thành hận-t́nh v́ thực-tế phũ –phàng trong chuyện Trương-Chi, Mỵ-Nương.

 

       Như vậy trên giải đất Giao-chỉ ngày trước giống Lạc-Việt không chịu khuất-phục trước văn-minh Hán-tộc đă đi dân đến, rồi sinh-hoạt sống-động, uyển-chuyển trong vấn đề chinh-phục, ḥa đồng và ḥa-hợp với các sắc dân bản xứ, tạo nên một quốc gia riêng biệt đủ sức chống trả sự đè nặng và đe-dọa của phương Bắc cũng như đủ khả-năng mở rộng lănh-thổ về Nam.

 

 

 

HẾT

 

 

 

 

 

G S.  T R Ầ N  H À  T H A N H

 

 

 

T h ề m  V ă n

Trở về Trang Đặc San Mùa HẠ 1973

 

 

 

  

 

Trung học TBT Ninh Ḥa  

Trang Nhà - www.ninh-hoa.com