H Ọ P  M Ặ T  Đ Ồ N G  H Ư Ơ N G  Và  T H Â N  H Ữ U

PHẠM THANH KHÂM

Ra Mắt Sách "Thuở Phiêu Bồng"

Tại Minneapolis, Minnesota Ngày 25/8/2013

 

S Á C H   T Ặ N G

LƯƠNG MỸ TRANG

    

Hôm nay tôi nhận được thêm một cuốn sách của một bạn văn ở xa – anh Phạm Thanh Khâm - người vẫn thường đóng góp vào ninh-hoa.com những cuộc phiên lưu khám phá kỳ thú của anh một thuở anh đi công tác ở các nước ngoài nước Mỹ.

 

Tôi nhớ có người nói rằng: "The best book, like the best speech, will do it all - make us laugh, think, cry and cheer - preferably in that order".(Madeleine Albright )

 

Những bài viết của tác giả Phạm Thanh Khâm của ninh-hoa .com th́ không làm cho người đọc phải cười, suy nghĩ, khóc và cổ vũ theo thứ tự đó, nhưng đối với tôi, khi tập hợp thành một cuốn sách kể lại khoảng thời gian làm việc như một chuyên viên về Nông Nghiệp của nưóc Mỹ được điều phái đến những nước có nền nông nghiệp thấp như các nước ở Trung Đông, Phi châu, Lào ... th́ những câu chuyện trong sách trở thành một cuốn phim kỳ thú ngộ nghĩnh được tác giả kể lại cho độc giả bằng cái nh́n trầm tĩnh, chững chạc, những mẩu chuyện rất đặc biệt dọc đường gió bụi gom thành Thuở Phiêu Bồng để Kỷ niệm 50 năm ngày cưới của anh chị.

 

 

Với tôi, đó là một cuốn sách mà tôi thích đọc, bởi chính cả cuộc đời ngang dọc của tác giả được đặt trong đó với cả tấm t́nh chân thật dành cho gia đ́nh, cho cuộc đời, cho quê hương ...được viết bằng giọng văn dung dị, đơn giản, gọn ghẽ như tác phong làm việc của tác giả.

 

Tháng này là tháng đặc biệt nhất của năm, có lẽ gọi là tháng của sách, và tháng của bạn văn.

 

Cảm ơn Thuở Phiêu Bồng của anh Phạm Thành Khâm, dưới sự in ấn, chăm sóc và phát hành của ninh-hoa.com và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

4.10.13.

 

 

 

 

 

THEO NHỮNG BƯỚC CHÂN
CỦA NHÀ VĂN PHẠM THANH KHÂM

Lương Mỹ Trang

 

Tôi đọc kư sự và những tâm t́nh của ông Phạm Thanh Khâm như một người cùng du hành với tác giả trên chuyến xe internet, đi qua nhiều vùng đất mới, gặp gỡ nhiều người lạ, nhiều cảnh ngộ bất ngờ, không những làm giàu thêm kiến thức, mà c̣n như một thú giải trí nhẹ nhàng thoát khỏi công việc hàng ngày để đến những nơi xa, bằng đôi hia bảy dặm của tác giả.

 

 Đọc Phạm Thanh Khâm, chúng ta bắt gặp ở đấy một con người đứng đắn ngay thẳng (nghĩa đen lẫn nghĩa bóng v́ ông cao lớn hơn một người Việt Nam trung b́nh), một trí thức lương hảo, một chuyên gia tận tụy với bổn phận và làm việc với tinh thần khoa học.

 

Tại những nơi chốn xa lạ mà ông có dịp đến làm việc, ông chú tâm quan sát và t́m hiểu tận tường nếp sống và tâm tư của dân cư bản xứ, ghi chú từng chi tiết của sự việc xảy ra để đúc kết một cách mạch lạc thành các bài kư sự cống hiến “bạn đọc giải trí cho vui” như theo ông viết.

 

Thật vậy, với một đầu óc khoa học thực tiễn, tác giả kể chuyện điềm tĩnh và trung thực, cộng thêm một ít bông đùa nhẹ nhàng chừng mực. Người đọc chuyện của ông sẽ không cười ngặt nghẽo nhưng cũng sẽ không buồn nẫu ruột, v́ tác giả không cường điệu mà cũng không bi thảm hóa sự việc. Trong nhiều t́nh huống bối rối, tác giả vẫn tỉnh rụi như không, để rồi t́m cách giải quyết ổn thỏa:

 

Gặp rắc rối chiếu khán

 

... Người phụ trách coi lại cái visa trước khi làm thẻ số 3 lên tàu đi Monrovia, chỉ cho tôi xem chỗ xóa bỏ và sửa lại ngày tháng có giá trị trên cái visa do lănh sự của Ṭa Đại sứ Liberia ở Washington DC cấp. Trên các số có nét mực sửa không có chữ kư tắc hoặc con dấu nhỏ xác nhận có sự sửa sai. Tôi nói không sao, tôi có thể dàn xếp với viên chức kiểm soát di trú ở Monrovia. Người phụ trách nói đề nghị của tôi không ổn. Để chắc ăn tránh rắc rối, người phụ trách gọi thêm đồng nghiệp t́m phương cách. Mấy phút sau người phụ trách thứ hai đến. Ông bạn t́m ngay giải pháp, gọi ngay ṭa Đại sứ Liberia ở Brussels. Viên Tổng Lănh Sự bảo tôi mang cái passport đến ṭa Đại Sứ để điều chỉnh. Chiếc taxi đưa tôi đến gặp viên chức ngoại giao Liberia. Tôi bảo tài xế taxi chờ ngoài cổng để chở tôi trở lại phi trường.

Viên lănh sự ngoại giao này nói chỉ có thể kư tắc hoặc đóng dấu chỗ sửa sai sau khi gọi đồng nghiệp ở Washington DC. Hai ṭa Đại sứcách nhau 7 múi giờ. Người bên kia Đại Tây Dương c̣n ngủ ở nhà. Ông ta nói cách dễ và tiện nhứt là cấp cái visa mới. Trong ṿng 5 phút tôi có cái visa mới. Viên lănh sự cho tôi cái bill ghi 108,90 EURO cho dịch vụ cấp visa. Làm sao có EURO, tôi và viên chức này loay hoay t́m hối xuất đổi đồng đô-la xanh và EURO. Hai chúng tôi tính được ra 135 US$. Tôi trả tiền mặt nhận cái biên lai của ṭaĐại sứ Liberia đề ngày 6 April 2009. Viên chức vui vẻ tiễn chân tôi ra tận cửa t́m tài xế taxi. Trở lại phi trường tôi lại phải vắt gị t́m đến cổng ra lên tàu và không quên lấy cái biên lai đi hai ṿng của anh tài xế taxi tính ra 180đô-la. C̣n cách cửa lên tàu vài chục thước, tôi nghe tên tôi được gọi trên máy phóng đại âm thanh. Tôi xuất hiện đúng lúc hành khách bắt đầu lên tàu. Mấy người phụ trách Brussels Airlines tại cửa lên tàu đều cười thốt lên: you make it! Tôi bắt tay chào từ giă anh bạn lúc sáng gọi điện thọai đến ṭa Đại sứ Liberia đểtôi có chuyến thăm tốc hành phố phường Brussels trong một buổi sáng của tháng tư 2009! Tôi ghé vào tai anh nói nhỏ: Bạn làm tôi tốn hơn 300 đô-la! Anh cười và chúc tôi thượng lộ b́nh an.

(Tưởng lỡ chuyến tàu)

 

Thu xếp công việc để quay về cố hương khóc vĩnh biệt mẹ

Trong thời gian công tác ở A-Phú-Hăn, tôi có một biến cố riêng tư cho tôi về thảm cảnh của đời người là tử biệt. Sự qua đời của thân mẫu của tôi không cho phép tôi dùở bất cứ nơi đâu, khi có thể, không t́m cách trở về khóc vĩnh biệt mẹ. Và tôiđă trở về Ninh-Ḥa vội vă, chỉ đủ một giờ ghé nghĩa trang Ḥn Rọ vào sáng tinh sương của ngày đầu tháng 4, 2005. Hai người tài xế được tôi thuê bao giữa đêm hôm trước tại Phi trường Tân Sơn Nhứt nhắc nhở tôi phải lên xe ngay mỗi khi tôi ghé nhắn vài tin nhà với người bạn cũ Nguyễn Thường ở đường Trần Quí Cáp và lúc ghé cảm ơn Mục Sư Hội Thánh Tin Lành Ninh-Ḥa chủ tŕ lễ an táng thân mẫu tôi ngày trước đó. Hai người tài xế này đă đưa tôi lên máy bay từ giă Sàig̣n xưa cũcủa tôi đúng giờ. Tôi cám ơn ḷng tận tụy của hai anh đă chứng kiến giờ khóc vĩnh biệt mẹ của tôi và chụp cho tôi tấm ảnh dưới đây.

 

 


Phạm Thanh Khâm

 

Khóc vĩnh biệt thân mẫu

Ảnh chụp tại Nghĩa Trang Ḥn Rọ Ninh-Ḥa April, 2005

 

Tôi đă đổi ba chuyến bay từ Saigon-Bangkok-Karachi-Dubai-Kabul.

......... . (Tâm cảm trên lộ tŕnh Ninh Ḥa - Kabul)

 

Theo dơi những chuyện tác giả Phạm Thanh Khâm kể, chúng ta biết thêm được nhiều dữ kiện thông tin mới lạ về những vùng đất xa xôi ít có người Việt nào đặt chân đến.

Thỉnh thoảng tôi bắt gặp vài lư thú bất ngờ, những niềm vui ngộ nghĩnh ... Hăy nghe ông kể chuyện :

 

Cô bé Việt chiên và bán chả gị bên lề đường ở Phi Châu

 

“Ở góc ngă tư đường phố trong thủ phủ Abidjan nước Côte d’Ivoire, bé gái Việt khoảng mười hai mười ba đứng cạnh tủ kiến nhỏ có hai ngăn. Ngăn trên trưng bày các cuốn chả gị Việt Nam, ngăn dưới chứa đựng số cuốn chả chưa chiên và một số giấy gói hàng. Bên cạnh chiếc ḷ dầu lửa bằng đồng (réchaud). Bên trên chiếc ḷ là chảo dầu sôi đang chiên nhiều cuốn chả. Khách đi bộ, đi xe hơi dừng lại mua. Khoảng hơn hai giờ thức ăn bán hết. Người anh lớn lái chiếc xe Peugeot cũ kỹ dừng gần gócđường đưa bé gái cùng chiếc ḷ và tủ kiến nhỏ về nhà. Bé gái Việt là một trong nhiều ngàn người tị nạn dừng chân ở nước Côte d’Ivoire giữa thập niên 1980. Vào thời điểm này, tôi làm việc với Bộ Giáo Dục và Khảo cứu Khoa học nước Côte d’Ivoire cho dự án khảo cứu IDESSA thuộc phần tài trợ của Ngân Hàng Thế Giới. Mỗi lần có dịp đi ngang qua ngă tư, tôi đều dừng lại hỏi thăm bé mua may bán đắt ra sao. Bé vừa gói hàng trao cho khách, thu tiền, nói với khách câu ngắn gọn“Merci”, rồi nh́n qua tôi tươi cười: “Chú thấy không, họ thích nem của người ḿnh lắm. Bữa nào cũng bán hết.” (Tạp ghi viễn xứ)

 

Sư phụ dạy vơ bất đắc dĩ

 

Trong một chuyến đi field trip của tôi ở Cameroun, đám thanh thiếu niên trên con lộ dẫn ra một buôn bản chào tôi với cả quyết tôi là “Chinois”. Dù tôi có nói loanh quanh là dân Việt, dân Thái, dân Phi Luật Tân, dân Mông Cổ chúng đều không chịu nghe. Họ đến gần khẩn khoản yêu cầu chỉ cho một bài quyền cước Kung fu. Tôi bịbắt bí, một mặt không biết Kung fu là ǵ, có thể thối thoát lấy lư do cần đi gấp hẹn dịp khác, nhưng mặt khác thấy gió mát trong lành của ngày sang thu ḷng thấy thanh thản, lại có dịp giải trí cũng vui, tôi gật đầu “D’accord”. Nhờ vốn liếng Thiếu Lâm Tự có được vào năm cuối lúc chuẩn bị thi bằng Tú Tài II do một vơ sưtrẻ dạy tôi tại Ḥa Hưng Sài G̣n năm xưa, tôi bắt đám trẻ sắp hàng một đối diện tôi tập thế chào sư phụ. Kế đến các thế tấn như Kim kê tấn, Đinh tấn, Trung b́nh tấn làm cho đám trẻ đứng xiên qua quẹo lại. Với bàn tay và cánh tay trong thế chống đỡ vụng về, chúng lại hỏi tôi các thế tử chiêu, tuyệt chiêu, tôi nói chúng chưa đủ tŕnh độ để học theo kiểu nhảy lớp, cần phải có thời gian dài. Lớp Kung fu loại “ḿ ăn liền” kết thúc sau hơn nửa giờ. Đám trẻ thán phục sư phụ Kung fu bất đắc dĩ, đồng thanh đưa tay vẫy chào sư phụ đến khi xe của tôi chạy khuất dạng. Tôi được một ngày vui. (Tạp ghi viễn xứ)

 

Làm mai ở A Phú Hăn

 

Những lần đột xuất tôi thường gặp nhiều đám đi hỏi vợ.T́m hiểu ra thấy họ khác hơn phong tục Việt nam. Người ḿnh có khi chỉ cần một ông mai hay bà mai làm mai mối trong việc dựng vợ gả chồng, lại c̣n chế diễu vềbốn cái dại, làm mai là một. Ở A-Phú-Hăn, nhà trai nhờ một tiểu đội đàn bà đến nhà gái dạm hỏi. Họ mang quà biếu gồm thức ăn không có đường ngọt. Bà mẹ nhà gái tiếp khách. Nếu nhà gái trả lời chưa dứt khoát, tiểu đội các bà mai tiếp tục làm nhiều chuyến viếng thăm kế tiếp đến khi đạt kết quả Nhận hay Không. Nếu câu trả lời Không với nhiều lư do chẳng hạn con gái tôi c̣n bé. Đám hỏi chấm dứt. Nếu câu trả lời Nhận, quà cáp tiếp tục chuyển đến và thức ăn chứa nhiều đường ngọt. Th́ ra cái hay trong việc làm mai ở xứ này là cái dại, khi cơm không lành canh không ngọt giữa đôi bạn đời, được chia đều ra nhiều người. Và khi càng chia cái dại cho nhiều người, cái dại trào phúng của người ḿnh không t́m thấy trong phong tục tập quán của A-Phú-Hăn!

(Vài Tản Mạn Về A-Phú-Hăn).

 

Tác giả Phạm Thanh Khâm viết cẩn thận, chi tiết, nghiêm chỉnh như nghề nghiệp của ông, nhưng không v́ thế mà khô khan v́ thỉnh thoảng ta bắt gặp những tâm tư của ông trong đó, ông để ư, ông bắt lấy những thứ đi từ quê hương, không sót, không bỏ qua, t́m cho ra nguồn cội từ đâu, như trong Le Lotrau, một vật dụng quen thuộc thân thương của quê nhà:

 

“Le Lotrau” là cái ǵ?

 


 

Đầu năm 1994, tôi được cử làm Trưởng Phái đoàn đến các xứ kể trên để lượng giá việc thực thi dự án này. Trong giờ thuyết tŕnh ngắn ởDakar, Giám đốc dự án nêu các thành quả chính rồi kèm thêm chi tiết nhỏ về chiếc ḷ trấu V́ệt Nam được nông dân tiếp nhận nồng nhiệt. Thuyết tŕnh viên, khi nói về chiếc ḷ trấu, không dùng từ "Le foyer à balles de riz", chỉ xử dụng nguyên chữ Việt đọc theo âm Pháp ngữ "Le Lotrau". Giáo sư Phù Tang, đại diện chính phủ Nhựt trong phái đoàn lượng giá này nghe chữ mới, ghé vào tai tôi hỏi nhỏ: “Le Lotrau không t́m thấy trong quyển tự điển Larousse. Người Sénégalais chế ra tiếng mới nghĩa là ǵ?”

Tôi lật trang tài liệu khuyến nông có in h́nh chiếc ḷ trấu với mọi chi tiết về kích thước (đường kính mặt trên của ḷ 40 cm, cao 30 cm, nặng 2.5 kí lô), lượng trấu đốt (1.2-1.5 kg/giờ), và thời lượng để đun sôi một lít nước trong 7 phút, v.v. Giáo sư bật cười theo cung cách “samurai”, rồi đưa cao cánh tay đề nghị cho đi xem tiệm chế tạo ḷ và gặp vài nông dân.

Bên sông Senegal phân chia hai xứ Mauritania và Senegal ở vùng trồng lúa có địa danh dài ḍng NDouloumadji-Dembe, chúng tôi đă gặp nhiều nông dân. Họ biểu lộ sự ưa thích các giống lúa du nhập từ Á-châu và rất hài ḷng về sự hữu dụng thiết thực của cái "Le Lotrau". Trên đường về thủ phủ Saint Louis, phái đoàn chúng tôi dừng lại thăm “Boutique du Lotrau” (tiệm chế tạo và bán ḷ trấu). Ḷ được chế tạo bằng thép với giá vốn khoảng 5 đô-la, xử dụng từ 3 năm trở lên. Th́ ra niềm hạnh phúc của các bà nội trợ vùng Sahel cũng có thể t́m thấy từ những vật nhỏ như chiếc ḷ trấu Việt Nam.

(Chiếc ḷ trấu Việt Nam du nhập vào Phi Châu).

 

Restaurant Điện Biên Phủ

 

Từ vùng rừng núi Gueckédou, hoặc cao nguyên Kankan trởvề thủ đô Conakry phải đi qua Kindia, không thể không ghé lại quán ăn có tên rấtđặc thù, Restaurant Điện Biên Phủ do Madame Sow điều hành. Một lần tôi ghé lại, Bà đă thết đăi khách đồng hương dĩa cơm gà Hải nam không thấy trên tờ thực đơn. Có lẽ một phần trong nhiều tuần lễ không có cơm, nhưng cách nấu cuả bà thêm nhiều tỏi, mắm nhiều gừng, kèm miếng cơm cháy nấu với nước gà đă làm tôi nhớ nhiều năm. Năm 1994 tôi có dịp ghé lại quán của bà, đứa con gái với màu da bánh mật tiếp tục bán thức ăn, Bà Sow đă nghỉ hưu, sau 40 năm theo chồng trong đoàn lính lê dương Pháp rời Việt nam 1954. (Thịt chà bong)

 

Thịt chà bong làm chuẩn

 

Tiếp theo các câu chuyện “nát bàn”, tôi khai triển thêm đề tài văn hóa bánh ḿ baguette của anh về món thịt heo chà bong làm món đồ ăn “snack” cần thiết trong mỗi chuyếnđi xa của tôi. Nghe tôi nói món ăn lạ anh ṭ ṃ muốn biết. Tôi lấy một muỗng lớn thịt chà bong thưng từ thịt heo với nước mắm, giả thành sợi rất nhỏ cho kẹp vào bánh ḿ baguette, anh vừa ăn vừa hết lời khen tặng. Với khuynh hướng “nát bàn”anh phát minh một cụm từ mới nói rằng thịt chà bong làm với nước mắm ăn vói bánh ḿ Pháp, ta đă có món ăn “văn hóa” Pháp-Việt (!).

Dù đă có thêm những ví von dí dơm trên, thịt heo chà bong thực sự không thể thiếu trong số hành lư của tôi mang theo cho các chuyếnđi xa về sau. Ngoài cái PC, bao giờ cũng có hai gói thịt chà bông đặt cạnh bao thuốc cấp cứu (thuốc ngừa sốt rét, cầm tiêu chảy, v.v.) trước khi lên đường. Các chuyến đi gần ba mươi năm qua và ngay bốn chuyến đi gần đây đến A-Phú Hăn cũng đă có các gói thịt heo chà bong được tôi mang đến Kabul. Nói theo lối văn hóa của đồng nghiệp cũ René của tôi ngày nào khi đặt ra mỹ từ văn hóa bánh ḿ baguette th́ thịt heo chà bong đă trở thành món ăn “snack” quốc hồn quốc túy của riêng tôi. (Thịt chà bong)

 

Gặp lại bạn cũ nhờ gọi nhầm số

 

Từ ngày cùng rời trường Vơ Tánh, tôi gặp lại Bác sĩ Lê Ánh sau hơn nửa thế kỷ trong bữa tiệc cưới của con gái anh tại một nhà hàng ở Houston. Từ đó chúng tôi thỉnh thoảng gặp nhau ở tiệm phởhay gọi điện thoại thăm hỏi nhau. Một lần nọ bà xă tôi trong lúc gọi điện thoại cho một chị bạn, bấm nhầm số của Bác sĩ Lê Ánh. Nghe giọng đàn ông trả lời điện thọai, bà xă tôi bán tín bán nghi hỏi cho chắc xem ḿnh gọi đúng số muốn gọi. Bà xă tôi mở đầu:

-Xin cho tôi nói chuyện với Lan.

-Lan nào? Tôi là Ông Tư Ḥn Khói.

Biết ḿnh gọi lầm số, bà xă tôi vội vàng “sorry”! Sau đó bà xă hỏi tôi có nhớ ai là Ông Tư ở Ḥn Khói. Tôi nói tôi chỉ nhớ Lê Ánh ở Ḥn Khói. Đến lượt tôi phải t́m cho ra lẽ. Gọi ngay đúng số của Anh Lê Ánh và tôi mở đầu:

-Chào Ông Tư Ḥn Khói.

Anh bật cười:

-Chính ta.

 

Hai chúng tôi có những tràng cười vui vẻ. Anh kểnhững ngày hàn vi mài đũng quần ở nhà trường, đời bác sĩ trong quân đội từ miền cao nguyên đến ngày đi Mỹ. Tôi đă toáng nghĩ có lẽ anh đă ghi lại ở đâu đó vềcuộc đời của một bác sĩ thời loạn ly. Nay tôi sắp có dịp đọc được những hành tŕnh của anh đi qua. Anh nói thêm là anh biết làm ruộng muối, ruộng lúa. Tôi nói ruộng lúa là nghề của tôi. Hăy để cho chuyên gia làm việc. Anh cười. Đó làđức tính ít nói của anh.

(Chuyện đường xa).

 

Hiếm khi chúng ta thấy tác giả Phạm Thanh Khâm dùng những câu đối thoại trong các bài viết. Nhưng bài Óc Dê Kho Tộ lại là một trường hợp đặc biệt. Càng đặc biệt hơn nữa là có cả sự xuất hiện của “ba nàng trắng xinh như mộng” (mô tả của tác giả) người Mỹ. Những câu đối đáp cụt ngủn phản ảnh rất đúng lối nói chuyện giữa những người không nói cùng một ngôn ngữ. Trong t́nh huống đó, người nói chỉ cốt nói càng ngắn gọn dễ hiểu càng tốt:

 

Giáo sư Dirk Stryker nhận lănh nghiên cứu dự án “Phân Tích và Đề Nghị Tariff và Tô Xuất Thuế Thương Mại Trên Nông Lâm Súc Sản Nước Nigeria” do Ngân Hàng Thế Gíới Tài Trợ. Giáo sư điện thoại mời người Việt tham dự:

-Khâm, Chuẩn bị đi Nigeria OK.

-Chừng nào, Dirk?

-Tuần tới. Qua đó chúng ta bàn chương tŕnh kỹ hơn. Có ba nữ đoàn viên cùng đến. Họ đều là học tṛ cũ của ta.

…….

Sau khi thăm nhà máy đường và đồn điền mía ra, xe Debby t́m đuổi theo xe của tôi. Xuống xe, tôi hỏi:

-Sao đi đường này?

-Làm ơn cho đổi tài xế.

-Nghĩa là thế nào?

- Sắp đứng tim.

Debby tiếp:

- Xe lái chạy bạt mạng. Xe cảnh sát Hoa Kỳ cũng không đuổi kịp. Nhắc nhở nhiều lần chậm bớt. Không có kết quả. Khiếp quá!

 

Sự chung thủy

 

Đọc Phạm Thanh Khâm, chúng ta c̣n bắt gặp ở ông một tấm ḷng thủy chung của người chồng.

 

Theo ông cho biết, những người đi công tác xa nhà dài hạn như ông phải đối đầu với bốn trở ngại lớn là sự nghiện rượu, ḷng không chung thuỷ, bịnh tật và rủi ro tai nạn. Chỉ có bệnh tật và tai nạn rủi ro, dù đă đề pḥng tối đa, đôi khi vẫn xảy ra với ông ngoài ư muốn và ngoài tầm kiểm soát của ḿnh.

Về uống rượu, ông chỉ uống với tính cách xă giao trong các buổi tiếp tân lễ lạc chứ không bị lệ thuộc vào rượu.

Về t́nh ái, ông không phải là người lăng nhăng lăng mạn nên dù bẫy t́nh có giăng, ông cũng không mắc phải. Ông luôn giữ mối liên hệ với người khác trong giới hạn t́nh bạn bè chừng mực chứ không đi xa hơn.

 

Đọc: “Cô gái người Pháp cao 1.8m này thích dùng tiếng mẹ đẻ của ḿnh để nói chuyện với tôi và anh Quân. Ingrid xem tôi như một senior trong ngành chuyên môn nên vừa trang trọng vừa thân t́nh. Một số người hùng thường muốn t́m dịp đến chuyện tṛ với Ingrid. Đôi lúc t́m dịp chụp ảnh chung. Những lần ở thế chẳng đặng đừng phải chụp ảnh chung, nếu tôi có mặt, Ingrid đều yêu cầu tôi phải đứng kế cận vừa nói nhỏ vào tai tôi là không muốn các người hùng biến ảnh trở thành câu chuyện mistress story hay được dùng trong những chuyện về womanizing story. Ngày từ giă Monrovia, Ingrid và tôi cùng lên chung chuyến tàu từ Monrovia đến Brussels. Giờ chuyển tàu của tôi sau 2 giờ chuyến chuyển tàu đưa Ingrid từ Brussels về thăm cha mẹ ở biên giới Pháp và Thụy sĩ. Tôi tiển chân Ingrid đến pḥng đợi chờ máy bay cất cánh. Phút giă từ đượm t́nh quyến luyến.” (PTK - Thuở phiêu bồng)

 

Trong bài Lá thư t́nh mùa hè, Phạm Thanh Khâm kể về bức thư t́nh của một kiều nữ viết cho ông như sau:

 

“Thư được viết trên giấy của tập vở học tṛ. Người viết giới thiệu tên, nói nhà ở vùng ngoại ô, đă thấy tôi lái xe đi ngang mỗi ngày. Kiều nữ mô tả tôi trông giống một người da trắng hao hao với tài tử Charles Bronson, nên đem ḷng yêu mến, muốn hẹn gặp tôi trong công viên trên đồi “Palais de Congrès” (công tŕnh xây cất của Trung Quốc), sau khi đọc thư ngỏ này. Xem kỹ lại bên trong phong b́, có thêm ảnh của kiều nữ gửi kèm thư viết. Đọc xong, tôi xếp lại phong thư mang cất vào cặp xách tay, chỉ mỉm cười về chuyện ong và bướm. Tôi tự lư giải có lẽ kiều nữ không biết người đàn ông Á Châu sắp vào tuổi ngũ tuần vẫn c̣n cường tráng như người Phi châu ở tuổi gần vào tứ tuần. Cũng có lẽ kiều nữ thấy tôi c̣n độc thân làm việc đi về một ḿnh trong thời gian đầu. Và cũng có lẽ kiều nữ có cho quà cáp ǵ với người gát ban ngày nên biết công việc của tôi đang làm rồi sắp xếp ra sao để có thơ đặt tại cửa. Theo cách lư giải này đă đưa tôi đến quyết định xem như không có ǵ xảy ra kể cả không theo đề nghị gặp kiều nữ nữa. ”

 

“Bốn ngày sau, một bó hoa và một phong thư viết dài hơn được đặt tại cửa như lần trước. Chưa đọc thư, tôi đoán thế nào kiều nữ cũng bắt đầu hỏi câu sao tôi không đến đồi “Palais de Congrès”. Đúng như dự đoán, kiều nữ viết là đă đợi tôi hai buổi chiều, rồi kiều nữ kết luận đă hiểu tôi không muốn lạc lối thiên thai của “ l’amour sans frontière”. Kiều nữ viết hết một trang nói về t́nh yêu không biên giới để ở cuối trang viết câu rất t́nh “Je t’aime très fort”. Đến đây tôi thực sự có chút rung cảm trong ḷng khi đọc lá thư t́nh thứ hai. Ḷng rung cảm này không giống câu nói gần như máy móc ở Hoa kỳ thường nghe một trong hai người nói “I love you”, ngựi kia nói lại “I love you too”. Ḷng rung cảm của tôi khơi động từ lời viết bằng Pháp ngữ của kiều nữ, đượm màu đam mê của tuổi trẻ, của lời văn lăng mạn mà ngôn ngữ Pháp có tiếng là ngôn ngữ trữ t́nh. Lời thơ của kiều nữ rất lưu loát cho một đối tượng mà kiều nữ hâm mộ phần ngoại h́nh, không biết nguồn gốc thực sự của đối tượng vừa tuổi tác vừa chủng tộc vừa t́nh trạng gia đ́nh riêng của đối tượng. Dù sao tôi vẫn muốn lưu giữ lá thư t́nh này ít nhất trên phương diện nghệ thuật cùng sự tôn trọn quyền diễn đạt t́nh cảm đối với người khác, tuy thực ḷng tôi không có một ư tưởng phiêu lưu vào con đường t́nh ái.”

 

“Tuần lễ sau, bà xă và hai con gái đến Cameroon thăm tôi. Tôi kể hết chuyện vừa mới xảy ra. Có lẽ người gát ban ngày thông báo với kiều nữ, thêm sự theo dơi của kiều nữ nên đă biết đoàn thê tử của tôi đang đoàn tụ với tôi tại Yaoundé. Từ đó tôi không c̣n nhận bất cứ thư t́nh nào của kiều nữ nữa.” (PTK - Lá thư t́nh mùa hè)

 

Xa gia đ́nh nhiều năm tháng dài trong cảnh sống cô độc, người đàn ông b́nh thường nào không khỏi cảm thấy lẻ loi. Nếu không tự chủ và yếu ḷng, họ dễ t́m thú tiêu sầu ở các chốn ăn chơi, lao ḿnh vào những cuộc phiêu lưu ái t́nh dẫn đến hậu quả tai hại. Với địa vị cao trọng, giao tiếp lịch lăm và dáng người đầy nam tính như tài tử điện ảnh Charles Bronson, anh Phạm Thanh Khâm của xứ Ninh Ḥa, mặc dù là một đối tượng thu hút cảm t́nh của phái nữ, nhưng ông đă tỏ ra là một con người mẫu mực không để bị cám dỗ như một số bạn đồng nghiệp phải đổ vỡ hôn nhân.

 

 Ảnh vợ chồng Phạm Thanh Khâm & Phù Linh Trân

 

Trong các kư sự, tuy tác giả cũng có phạm một số lỗi văn phạm nho nhỏ, một vài từ ngữ dùng hơi tối nghĩa, một số từ ngữ mới sau này đă làm câu văn nặng nề, trúc trắc như đột xuất, sự cố, in ấn, hộ chiếu, trấn lột, động viên v.v.. Nhưng chất liệu trong các bài viết của Phạm Thanh Khâm khá lạ lẫm, lôi cuốn, phong phú khiến người đọc ngạc nhiên, lư thú.

 

Đă có mấy ai khác trong số người Việt chúng ta có cơ hội như tác giả Phạm Thanh Khâm sống và làm việc ở những đất nước nghèo đói ở Phi châu, A Phú Hăn để viết kể lại sự việc từng trải nhiều tính chất phiêu lưu ly kỳ hấp dẫn. Chẳng hạn như khi nghe ông kể chuyện t́m thấy mít rồi trồng mít trên xứ người, chuyện “ bé cái lầm”, chuyện ḷ lửa Trung Đông nóng ... người đọc cảm thấy thích thú c̣n hơn tác giả nữa...

 

Tôi đi theo những bước chân của ông Phạm Thanh Khâm trên đường thiên lư, cẩn trọng nh́n những h́nh ảnh đời thường nơi xứ người qua con mắt của ông, đột nhiên thấy đời đẹp hơn, người đẹp hơn, không phải v́ cảnh lạ đời xa, không phải v́ t́nh người lương hảo, ngộ nghĩnh từ những cảnh ngộ bất ngờ, mà chính v́ tâm tư c̣n vướng víu, c̣n tơ ḷng, c̣n ngó ư với quê nhà, với người thân của ông, v́ cái dung dị của từng miếng mít chín, của cuốn chả gị, cây sả con con, của t́nh người trong khói ḷ trấu, êm êm , nhè nhẹ mà cay mắt xốn ḷng …

Cảm ơn ông Phạm Thanh Khâm đă đưa chúng ta cùng du hành với ông, trên tấm thảm Internet.

 

 Kính chúc ông dồi dào sức khoẻ, và chờ đón những dấu chân mới trên đường thiên lư của ông, để thấy lại xúc cảm của chính ḿnh, trong từng hạt bụi vương gót chân ai.

 

 

 

 

 

 

 

Lương Mỹ Trang

8.2013

 

 

 

 

Sinh Hoạt Đồng Hương - Ra Mắt Sách

 

 www.ninh-hoa.com