Tôm thời... hạ giá

Những năm trước đây các tỉnh ven biển miền Trung đua nhau làm giàu bằng con tôm và một thời con vật này đă giành thế "thượng phong". Người ta vẽ ra vô số các nhân tố điển h́nh hôm trước c̣n nghèo xác xơ, hôm sau đă trở thành đại gia, khiến người dân bán hết ruộng vườn đầu tư vào "canh bạc nuôi tôm". Thế nhưng, làm giàu từ mô h́nh này chỉ tồn tại được một thời gian ngắn rồi... tụt dốc thê thảm. Thậm chí, cho đến gần đây con tôm rơi vào ṿng xoáy lao đao.

Ông Nguyễn Quân - Phó Chủ tịch xă Ninh Lộc đưa ra bản danh sách hơn 2 trang giấy A4 với hơn trăm hộ vay nợ dài lê thê được ông chú thích rơ ràng bằng những dấu đỏ: "đây là gần 20 hộ không c̣n khả năng thanh toán cho ngân hàng". Rồi ông ngao ngán cũng v́ con tôm đă làm nhiều gia đ́nh rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Những món tiền khổng lồ nợ ngân hàng, nợ xă... vẫn chưa trả được. Với 13 xă chạy dọc ven biển của huyện Ninh Hoà th́ tất cả các xă đều có người dân lâm vào cảnh làm ăn thua lỗ nợ ngân hàng. Hàng trăm ha đ́a ven biển đang bỏ hoang. Theo ông Trần Văn Dũng - chuyên viên pḥng thuỷ sản huyện cho biết: 13 xă nuôi tôm th́ 13 xă đang nợ ngân hàng với con số hàng chục tỷ đồng. Trung b́nh mỗi xă có đến 70-80% hộ nuôi lâm vào cảnh làm ăn thua lỗ.

Thời gian trước, nhiều gia đ́nh đă giàu lên nhanh chóng, đi đâu người ta cũng nói đến chuyện nuôi tôm. Đó là chuyện đă qua, c̣n hôm nay người dân lại bàn tán: "Hàng trăm hộ dân ven biển huyện Ninh Hoà nuôi tôm đang phải gánh chịu những khoản nợ "khổng lồ" và đang có nguy cơ phá sản. Hàng trăm nhân khẩu đang đứng trước cảnh "màn trời". Không nuôi th́ không có tiền trả nợ, mà nuôi th́ tiếp tục thua lỗ, nhiều người dân đang phải than trời v́ tôm... nên mất nhà!

Một thời tôm "post"

Khánh Hoà được người nuôi trồng thuỷ sản xem như một cái nôi của phong trào nuôi tôm. Bởi nơi đây là vùng cung ứng tôm giống đầu tiên cho cả nước. Năm 1986, ông Mai Đ́nh Phong - chuyên viên nghiên cứu thuỷ sản Sài G̣n ra Khánh Hoà nghiên cứu nuôi thí điểm tôm giống thành công. Rồi ông chuyển giao công nghệ nuôi cho tỉnh Khánh Hoà. Mô h́nh nuôi tôm giống - tôm post, đă được nhân rộng ra toàn tỉnh. Từ những trang trại đi tiên phong trong nghề đă được "thay da đổi thịt" phong trào nuôi phát triển rộng khắp các vùng ven biển. Các chủ trại tôm giống trong Nam, ngoài Bắc thiếu con giống phải t́m đến "ăn chực nằm chờ" đợi mua.

Ông Nguyễn Công Hùng xă Vĩnh Lương - TP Nha Trang kể, nhiều gia đ́nh trong xă có đất gần biển lập trang trại, nhiều gia đ́nh không có đất phải tận dụng nguồn đất bỏ hoang, nhiều gia đ́nh phá bỏ vườn cây ăn trái lập trại nuôi tôm “post”. Đi dọc ven biển Khánh Hoà, những trang trại nuôi tôm mọc lên như nấm. Trại tôm giống thuộc loại nhỏ nhất vào những năm 95 của thế kỷ trước sau một vụ thu hoạch cũng thu được 30-40 triệu đồng tiền lăi - số tiền mà những người nông dân chỉ thấy trong mơ. Để có thể bước vào thương trường chỉ cần có nguồn vốn từ 80-90 triệu đồng lập trang trại, mua tôm bố mẹ với giá 3-4 triệu đồng/ con. Ngoài ra c̣n phải mua nguồn thức ăn dự trữ. Có thời gian chủ trại địa phương sản xuất "cung không đủ cầu". Bởi thị trường tôm “post” được tiêu thụ rộng khắp trong Nam ngoài Bắc.

Lợi nhuận từ tôm giống đưa lại cao, không chỉ người dân địa phương mà ngay cả người dân miền Bắc, miền Trung cũng đổ xô đến học tập kinh nghiệm làm theo. Nhiều hộ đă ở lại Khánh Hoà lập trang trại hành nghề nuôi tôm "post" giống. Không có đất người ta phải thuê mướn đất của dân địa phương, hết đất hoang người ta đă chuyển đổi cơ cấu cây trồng bằng biện pháp cải tạo đất nông nghiệp, chặt vườn cây ăn trái để thành lập trại tôm. Người không có tiền th́ cầm cố sổ đỏ, sổ hồng để thành lập trang trại. Hết đất ở Khánh Hoà người ta c̣n đổ xô vào vùng Cà Ná - Ninh Thuận thuê mướn đất thành lập trang trại kinh doanh tôm "post". Khi tôm sú đang ở mức giá cao, nên con tôm "post" cũng bán được trên dưới 100 đồng/ con. Nhiều chủ trại đă "phất" lên nhanh chóng. Nhiều người chủ trại c̣n nghĩ ra cách "kéo dài thu nhập" bằng những đợt cắt mắt tôm, hối thúc tôm đẻ 4-5 lần. Nhưng theo t́m hiểu của chúng tôi cắt mắt quá 2 lần th́ tôm mẹ chỉ sinh ra những con tôm giống yếu ớt, khi bán cho người dân thả nuôi tôm sẽ chậm lớn và thậÁ¥m chí dẫn đến tôm chết hàng loạt. Mặt khác, con tôm "post" chết hay chậm lớn th́ người nuôi cũng không mặn mà đến nghề nuôi tôm, th́ người sản xuất kinh doanh tôm "post" sẽ bán cho ai. Tuy nhiên, thời đại hoàng kim đă qua đi, khi con tôm rớt giá th́ nơi đi tiên phong trong nghề đang phải hứng chịu cảnh long đong, lận đận.

Nh́n vào căn nhà lớn nhất thôn mà thời con tôm được giá mang lại, ông Nguyễn Công Hùng nói trong ngao ngán, nối tiếc: căn nhà ông xây, con cái dựng vợ gă chồng cũng nhờ con tôm "post", giờ phải đối diện với cảnh làm ăn thất bát gia đ́nh tôi đă đi đến cảnh nợ nần. Cùng cảnh khổ, ông Đặng Văn Thanh kể: cái bận làm ăn thua lỗ ở kỳ cuối năm trước, vợ ông đă can ngăn không cho đầu tư tiếp, nhưng cái máu làm ăn thua lỗ thôi thúc ông đầu tư nhưng... vẫn thua lỗ.

Theo nhiều chủ trang trại, tôm "post" làm ăn thua lỗ đă gần 3 năm trở lại đây. Tôm liên tục rớt giá, có những thời điểm chủ trại chỉ bán được hơn 10 đồng/con. C̣n ông Nguyễn Thanh Vân - Chủ tịch UBND xă Vĩnh Lương cho biết: toàn xă hiện có gần 200 trại tham gia sản xuất kinh doanh tôm post giống, gần một nửa đă ngưng hoạt động, số c̣n lại chiếm 73% làm ăn thua lỗ. Những năm trước đây chủ trại làm ăn hiệu quả là nhờ người dân ĐBSCL, các tỉnh miền Trung mua tôm post giống về thả nuôi. Họ nuôi tôm sú bán với giá từ 130-140 đồng/ kg lại ít bị bệnh, nhanh lớn, XK có giá trị cao. Nhưng vài năm gần đây tôm liên tục rớt giá người dân ĐBSCL cũng chẳng c̣n mặn mà tha thiết với con tôm "post" Khánh Hoà.

Những người nuôi được coi là nổi tiếng trong vùng bởi đặc biệt mát tay như anh Đặng Văn Ngữ giờ cũng chỉ nuôi cầm cự với phân nửa số bể của ḿnh. C̣n vấn đề nữa đó là nghề nuôi tôm post đă phát triển được 20 năm, nhưng đến nay vùng nuôi vẫn chưa được quy hoạch. Người dân Khánh Hoà đang đặt ra những câu hỏi: Bao giờ các ngành chức năng sẽ vào cuộc, biện pháp nào để tháo gỡ cho người dân nuôi tôm, liệu giá tôm có trở lại thời "hoàng kim"?

Nợ ngân hàng... quả bom nổ chậm

Ngay cả những người nuôi tôm sú cũng đang... lao đao. Theo lời của một người có trách nhiệm của tỉnh Khánh Hoà, tôi ra huyện Ninh Hoà cũng là nơi người dân đang phải hứng chịu cảnh thua thiệt nặng nhất tỉnh. Những căn cḥi được dựng tạm bợ cũng vắng bóng người, những chiếc máy sục khí ngày nào c̣n hối hả sục khí cho những đ́a tôm, nay nằm chỏng chơ mặc cho nắng gió.

Điểm đầu tiên chúng tôi đến là Ninh Hàâ. Anh Nguyễn Văn Lượng có 3 ha đất nuôi trồng thuỷ sản nói trong ngao ngán: "Có sướng chi mô các chú, dân chúng tôi chết tới cổ rồi, nợ lăi mẹ đang đẻ lăi con. Một thôn mà có đến gần 20 hộ nợ ngân hàng đă đáo kỳ trả, ngân hàng đang phải nhờ toà án can thiệp để người dân trả nợ ngân hàng.

Lần theo con đường lát gạch mà thời "hoàng kim" con tôm để lại, tôi vào thôn Tam Ích, Ninh Lộc nh́n những đứa trẻ đang ở tuổi ăn tuổi chơi cũng phải ra ruộng nhặt nhạnh những cọng rau giúp gia đ́nh. ông Nguyễn Văn Lương chưa hết bàng hoàng kể: Tôi nuôi tôm riết rồi trở thành "thằng" nói láo lúc nào không hay. Tui c̣n mấy thằng bạn hay tin người lắm, hồi giờ để dành chưa mất ḷng tin, nay có lẽ phải "gạt lấy vài thằng" để trả nợ quanh. Nghe họ đ̣i riết nản lắm". Đồ đạc trong nhà có giá trịđều đội nón ra đi, căn nhà cũng phải đưa đi cầm cố ngân hàng. Ông Nguyễn Trung Nguyên, xă Ninh Phú kể trong ấm ức: đầu năm 2003 tôi phải bán bớt ruộng vườn của gia đ́nh, vay mượn bà con được chút ít vốn liếng để tiếp tục nuôi tôm mong sao gỡ gạc chút đỉnh.

Tuy nhiên, mỗi lần thả nuôi, tôm cứ chết hàng loạt. Giờ đây ông lại lo "ngay ngáy" cái khoản nợ khổng lồ trên 200 triệu đồng không biết lấy đâura trả nợ ngân hàng. Rồi ông nghĩ đến căn nhà của ông có bị ngân hàng thu nợ niêm phong. Với những xă nhỏ như Ninh Lộc nhưng cũng nợ đáo hạn ngân hàng lên đến gần chục tỷ đồng. Nhưng càng thả nuôi th́ những đ́a tôm của huyện đều đồng loạt chết. Đặc biệt có những hộ mất 70-80% sản lượng, nhiều hộ đáo hạn trả nợ ngân hàng có nguy cơ, mất nhà v́ tôm. Hàng chục hộ khác cũng sắp đến kỳ trả nợ, nhưng không kiếm đâu ra khoản tiền đóng lăi, nói chi đến chuyện trả gốc ngân hàng. Có những hộ nuôi may mắn, con tôm sống sót đến khi thu hoạch cũng chỉ thu được 30-40% nhưng giá bán chỉ được 65 -70 ngh́n đồng/kg, bán không đủ nguồn vốn đầu tư.

Trao đổi với chúng tôi, ông Lê Công Thành - Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn huyện Ninh Hoà cho biết: Hiện nay người dân đầu tư vào nuôi tôm đang rủi ro cao, nhiều gia đ́nh nợ ngân hàng đă được gia hạn nhiều lần. Nay nhiều hộ không c̣n khả năng thanh toán, ngân hàng phải làm mạnh tay bằng biện pháp niêm phong nhà. Như vậy, hàng trăm nhân khẩu đang rơi vào cảnh màn trời. Hàng chục hộ khác đă rơi vào cảnh hối thúc trả nợ ngân hàng. Bà Nguyễn Thị Liên - chủ một đ́a tôm cho biết: Chúng tôi nào dám chây ĺ với ngân hàng, cũng chỉ v́ con tôm bị bệnh, chết hàng loạt, người dân mất thu lấy đâu ra trả nợ ngân hàng. Nhiều người đă tính đến chuyện chuyển đổi cây trồng, nhưng ông Trưởng pḥng Thuỷ sản huyện cho biết: Chúng tôi không thể chuyển làm lúa v́ đất đă nhiễm mặn rồi. Muốn chuyển từ hệ sinh thái từ mặn sang hệ sinh thái ngọt ít nhất cũng phải mất 3-4 năm để có thời gian thau chua rửa mặn.

Để lư giải cho sự thất bại, ông Trưởng pḥng Thuỷ sảnhuyện cho rằng: Nguyên nhân làm cho dịch bệnh tôm tràn lan trên địa bàn tỉnh là do thời tiết nắng nóng kéo dài, nguồn nước cung cấp cho các đ́a tôm c̣n đi chung, khi một hộ bị dịch nguy cơ lây nhiễm ra cả vùng là rất lớn. Cộng thêm độ mặn trong đ́a khi nắng nóng kéo dài làm cho con tôm không thể phát triển được. Hơn nữa độ mặn tăng cao nhiều loại dịch bệnh bắt đầu bùng phát. Ngoài ra, theo chúng tôi vấn đề chất lượng tôm giống trước khi thả nuôi chưa được quan tâm đúng mức. Để tăng lăi suất, người nuôi tôm “post” đă cắt mắt tôm mẹ kích thích tôm để dẫn đến tôm yếu cũng là nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh.

Nuôi trồng thuỷ sản cũng là thế mạnh của tỉnh Khánh Hoà. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa được đầu tư thoả đáng cho các kênh dẫn nước, xả nước. Vấn đề khác đó là thức ăn cho tôm quá cao, chi phí cho một vụ đầu tư lớn, giá thành của tôm thấp dẫn đến người dân nuôi tôm thua lỗ triền miên. Hàng ngàn hộ dân ven biển Khánh Hoà đang mong mỏi ngân hàng khoanh nợ và các ngành chức năng t́m hướng chuyển đổi cách làm ăn, t́m cách trả nợ ngân hàng.

Nguyễn Xuân

 

Người phụ nữ 60 năm lưu lạc xứ người

Suốt 60 năm lưu lạc ở Lào và Pháp, mọi liên lạc bị cắt đứt, đến năm 2004, bà lăo gần 80 tuổi mới đặt chân về đến Việt Nam gặp lại người thân, gia đ́nh trong nước mắt buồn vui lẫn lộn.

Đó là câu chuyện về cuộc đời cụ bà Phạm Thị Lê, quê ở thị trấn Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà.

Tuổi thơ và những cuộc phiêu lưu

Gia đ́nh đông anh em, tuổi thơ cơ cực và những trận đ̣n roi của người mẹ khó tính nên một buổi chiều, cô bé Lê bỏ nhà đi lang thang. Chẳng biết đi đâu nên Lê nhảy đại lên chiếc xe ḅ cọc cạch đi vào Nha Trang cách xa nhà 30 cây số.

Người đánh xe ḅ thấy thương cô bé nên chia cho phần cơm vắt ít ỏi với ít muối ớt và đó là khẩu phần giúp cô sống cả tuần lễ đầu tiên xa nhà. Lang thang ở sân ga Nha Trang, chiếc áo duy nhất trên người rách te tua, thấy cô bé tội nghiệp nên một phụ nữ tốt bụng nhận đem về nhà nuôi.

Lần đầu tiên Lê được mặc chiếc áo mới cắt lại từ chiếc áo đầm của bà chủ nhà, được cho ăn bữa cơm trắng, cô bật khóc v́ hối hận, v́ nhớ cha mẹ và các em nhưng không dám thổ lộ thân phận của ḿnh.

Nhưng người tốt vẫn không thể cưu mang nên Lê được gởi đến giúp việc nhà cho một người khác. Số phận lại đẩy đưa, Lê không thể nhớ v́ sao ḿnh phải ra tận Phan Thiết làm "culi" khuân vác gạch đá lên núi cho Nhật làm đồn bót.

Những ngày lao động cực khổ, đói lạnh, cô thấm thía nỗi nhớ nhà, nhớ cha mẹ, anh em nhưng không biết ḿnh đang ở đâu nên không thể liên lạc về nhà.

Khi người Pháp thay thế người Nhật, cô cũng như những người làm thuê cho Nhật hoảng sợ v́ những lời đồn đại nên chạy vào rừng trốn. Bị người Pháp bắt giam 6 tháng, rồi được một người lính Pháp bảo lănh và cưới làm vợ.

Người chồng mới cưới vắn số để lại cho cô gái chưa đầy 20 tuổi cùng đứa con trai đỏ hỏn. Lê theo chân người quen ra Hà Nội kiếm sống và được một người đàn ông Pháp khác cưu mang cưới làm vợ…

Thời cuộc đổi thay, người chồng Pháp khuyên Lê cùng ông trở về Pháp sinh sống nhưng cô nhất định không đi v́ "Tôi c̣n quê hương, tổ tiên, cha mẹ ở Việt Nam".

 “Chiến tranh” đă xảy ra giữa hai vợ chồng trong việc giành nhau nuôi con nhưng v́ đứa bé mang ḍng máu Pháp nên luật pháp đă phân xử cho người cha có quyền đem con về nước.

Giao con cho chồng mang về Pháp, Lê buộc chồng viết cam kết: "Không được gởi con vào Cô nhi viện, lo cho con ăn học thành tài". Cô lại tiếp tục cuộc mưu sinh đầy gian khổ cho đến một ngày Lê theo chân những người làm thuê như ḿnh trôi dạt đến Lào mà cứ tưởng đó là vùng đất mới ở quê hương ḿnh.

Đó là năm 1955, Lê tiếp tục mưu sinh bằng nghề buốn bán trái cây và vẫn không ngừng liên lạc t́m con và t́m người thân ở Việt Nam. Không có tin tức, những người biết cũng không dám nói, ngày buôn bán mệt mỏi, đêm về Lê thắp nhang cầu nguyện cho điều tốt lành là  t́m được những người thân yêu.

32 hai năm trôi qua trên đất nước Triệu voi, những lời cầu nguyện linh ứng, bà Lê đă t́m được đứa con trai đang sinh sống ở Pháp và năm 1988, bà đến Pháp đoàn tụ với con trai đă xa cách quá nửa đời người.

60 năm sống ở nước ngoài vẫn mang quốc tịch Việt Nam

Tôi ngạc nhiên hỏi v́ sao? Bà lăo cười hiền hậu giải thích: “Điều tôi sợ nhất là mất gốc. Ḿnh là người Việt Nam, quê hương tổ tiên ḿnh ở Việt Nam, nếu nhập quốc tịch nước ngoài ḿnh thành người của họ rồi. Không được! Làm ǵ cũng phải giữ cái gốc Việt Nam của ḿnh chớ. Con trai cứ bắt mẹ nhập quốc tịch Pháp nhưng tôi cương quyết từ chối, có lẽ con tôi không hiểu được điều đó”.

Và bà từ chối mọi cơ hội, kể cả quyền lợi để trở thành công dân nước ngoài - điều mà bao nhiêu người khác mong muốn để giữ bằng được “cái gốc” của ḿnh.

Nhiều người cho bà "gàn, dở hơi" c̣n bà cứ khăng khăng lập trường của ḿnh. Bà kể: "Có lần gặp một phụ nữ Việt Nam, tôi mừng quá hỏi han đủ điều, nhắc đủ thứ về quê hương ḿnh, về những món ăn Việt Nam nhưng cô ta lắc đầu nói với tôi: “Bà nhắc làm ǵ những chuyện cũ rích?"

Tôi thất vọng quá và từ đó không muốn gặp lại người phụ nữ kia dù cô ta là người Việt Nam ở gần nhà tôi nhất".

Bà Lê kể tại đảo Tahiti chỉ có khoảng 100 người Việt Nam nhưng người Việt Nam ở gần nhất cũng cách nhau 30 km nên mỗi lần gặp được người Việt c̣n quư hơn t́m thấy vàng.

Loay hoay một ḿnh, để khỏi quên tiếng Việt, bà gởi người quen ở tận Paris mua băng đĩa cải lương, sách tiếng Việt viết về sử Việt Nam để đọc.

Nghe, hát theo rồi thuộc, giờ đây, vốn liếng quư nhất của những năm sống ở nước ngoài của bà cụ là thuộc làu 120 tuồng tích cải lương Việt Nam. Có những tuồng tích lần nào nghe bà cũng khóc v́ sao thấy giống cuộc đời lưu lạc, nghèo khó của ḿnh quá.

Về già, được con phụng dưỡng, không c̣n những ngày tháng cơ cực, mưu toan kiếm sống nhưng bà bảo: "Tôi vẫn nghèo, nghèo xơ xác trong tâm hồn v́ nỗi ḷng không thể chia xẻ với ai. V́ nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương cào xé trong ḷng…".

Có lúc nhớ quá, bà âm thầm khóc, lén con đốt nhang cầu nguyện. Càng lớn tuổi, tuổi thơ càng trở về trong tiềm thức, cứ thức dậy, thôi thúc bà phải t́m bằng được cội nguồn, nơi ḿnh đă sinh ra và lớn lên.

60 năm - ngày đoàn tụ

Không một giấy tờ tùy thân nên tin tức về gia đ́nh chỉ c̣n trong kư ức, những lúc rảnh rỗi, bà cụ Lê lại lấy giấy bút ra vẽ lại sơ đồ t́m đến nhà ḿnh, ghi lại tên tuổi cha, mẹ, các anh chị em và nuôi hy vọng một ngày nào đó sẽ liên lạc được với gia đ́nh.

Những dịp hiếm hoi gặp được người Việt Nam, bà lại đem chuyện gia đ́nh ḿnh ra kể với hy vọng sẽ có người biết được tin tức. Một lần t́nh cờ, bà gặp được một cô gái quê ở Nha Trang và đưa sơ đồ cùng lời chỉ dẫn tận tường để khi cô về Việt Nam hỏi thăm tin tức gia đ́nh.

Cho đến một ngày, bà cụ Lê nhận được điện thoại từ Mỹ bằng tiếng Việt. Bà bảo: “Lúc đó tim tôi như ngừng đập v́ hồi hộp v́ không tin. Đó là đứa em trai tôi, hai chị em khóc trên điện thoại từ 4 giờ sáng đến 7 giờ. Tôi biết là ḿnh đang sống lại lần thứ hai". Ngay lập tức, bà thu xếp hành lư và trở về Việt Nam vào năm 2004 sau hơn 60 năm xa cách.

Hai tháng sống với gia đ́nh tại Ninh Ḥa, Khánh Ḥa, bà Lê bảo: "Lúc mới gặp nhau, chị em cứ ôm nhau mà khóc, bao nhiêu nỗi chất chứa 60 năm nay được nói thay bằng nước mắt. Ngày đoàn tụ mà nước mắt nhiều hơn tiếng cười. Sức khỏe của tôi như hồi phục, tôi được gặp lại bà con, ḍng họ, anh em, được nói tiếng Việt, ăn món Việt thỏa thích…”.

Tháng 11.2005, bà Lê từ giă quăng đời 60 năm lưu lạc để hồi hương về quê cha đất tổ.

Thương bà cụ già một ḿnh vượt đại dương về quê hương nên chị Maria, một người bạn láng giềng t́nh nguyện đưa bà đi. Ba tuần ở Việt Nam, Maria bảo: "Bên Tahiti bà cụ cụ sống rất sung sướng nhưng cứ nằng nặc đ̣i về. Đến bây giờ tôi mới hiểu tại sao bao nhiêu năm trời mà bà cụ vẫn cứ đau đáu đ̣i về Việt Nam. T́nh cảm của người Việt Nam thật mănh liệt, tôi đă có thêm một bài học từ người Việt Nam, đó là sức mạnh của cội nguồn".

Ba tuần ở Việt Nam, Maria được bà cụ Lê dạy cho làm bánh, giảng giải về phong tục tập quán. Chị bảo: "Tôi thích nhất là nem, mắm nêm và thích nhất là chiếc áo dài và chiếc vơng". V́ sao? Maria giải thích: "Chiếc áo dài lần đầu được mặc tôi cảm thấy ḿnh mền mại và trẻ ra như những cô gái Việt. Lần đầu được nghe bà cụ ru cháu ngủ trên chiếc vơng cùng những câu hát ru rất lạ nhưng nghe rất ấp áp, t́nh cảm nên tôi sẽ mua một chiếc mang về Pháp cùng bộ áo dài đế nói cho những người ở nước chúng tôi biết về Việt Nam. Lần sau chắc chắn tôi sẽ trở lại và sẽ ra Hà Nội …"…

Ở tuổi 80, bà cụ Lê rạng rỡ bảo với tôi: "Tôi sẽ ngao du khắp đất nước Việt Nam để nói với mọi người rằng: không nơi đâu hạnh phúc bằng sống trên quê hương ḿnh".

Theo báo Người Viễn Xứ

 

Khuê Việt Trường

www.ninh-hoa.com

 

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

 

 

 

 

 

sưu Tập:

Dương Tấn Long
Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa
Hải Lộc
Hà Thị Thu Thủy



 

www.ninh-hoa.com