www.ninh-hoa.com                                                   Trang Tài Nguyên Ninh Ḥa


 




 

 

 D Â N   Đ I Ệ U  
Lan Đinh

 

         Điệu là danh gọi những người đi t́m trầm trên núi cao. Tôi là phụ nữ nên chỉ biết làm điệu chứ không đi Điệu, nên những ǵ tôi viết là theo lời kể của người em trai, là dân đi Điệu chinh chiến (đi nhiều và đi lâu năm). Bất kể những lời lên án “dân Điệu đă hủy hoại tài nguyên của Đất nước”? Tôi muốn ghi lại những ǵ ḿnh được nghe kể lại để tạ ơn Đấng Tạo Hóa, ghi ơn Mẹ Đất, Mẹ Núi rừng đă nuôi sống đoàn con khốn khổ trong bước ngoăc đen tối của dân tộc. Tôi cũng muốn nói lên lời tri ân đến những người đi Điệu gian khổ quê tôi, đă hy sinh sức lực tuổi trẻ để vực dậy gia đ́nh xứ sở vượt qua cơn đói kém. Và như nén hương để tưởng nhớ những người đă nằm xuống nơi núi rừng không bao giờ trở lại.

 

         Sau năm 1975 có quá nhiều sự thay đổi trong đời sống, đặc biệt là về mưu kế sinh nhai của người dân xứ Dục Mỹ. Trước đó đa số dân Dục Mỹ là quân nhân, họ và gia đ́nh sống nhờ vào đồng lương của lính. Những người khác họ sống nhờ buôn bán. Cứ tính quân số của ba trung tâm huấn luyện LAM SƠN, BIỆT ĐỘNG, PHÁO BINH và sức tiêu thụ của họ hằng năm th́ biết sự phồn thịnh của đời sống dân chúng. Cuộc sống khá ổn định và người ta thường nói là nơi đây rất dễ làm ăn. Nhưng sau năm 1975 mọi sự như sụp đổ theo quân đội. Không ruộng vườn, đất đai toàn là băi tập. Rất nhiều gia đ́nh đă bỏ ra đi t́m về với ḍng họ bà con- nơi những miền làm được lúa gạo, trồng được khoai sắn để tránh đói. C̣n những người ở lại ?

 

         Cuộc sống thực sự khó khăn đói khổ. Mồ hôi sức lực đổ ra để biến những băi tập, những vùng rừng núi thành nương khoai băi sắn nhưng vẫn không đủ sống. Nhưng ông Bà ḿnh vẫn nói “Trời sinh voi th́ Trời sinh cỏ ”. Sau những năm vật lộn với đói kém (1977-1979). Vào năm 1980, Đi Điệu, một cái nghề mới và lạ đă từng nuôi sống bao gia đ́nh nhưng cũng đă lấy đi bao nhiêu mạng sống con người. Dù chiến tranh không c̣n, thanh niên trai tráng không c̣n theo việc binh đao. Nhưng nằm gai nếm mật, vắt sức lực cho núi rừng, như cái nghiệp vẫn đeo đuổi họ. Họ như đoàn quân ra trận chống lại giặc nghèo giặc đói. Giành lại miếng cơm manh áo cho gia đ́nh, mang lại sinh khí cho làng xóm.

 

          Gọi là một cái nghề v́ đối với dân “Điệu ṇi” th́ đây là một nghề cha truyền con nối. Dục Mỹ không có Điệu ṇi, dân Điệu ṇi đến từ Vạn Giả đă dẫn dắt, hướng dẫn người Dục Mỹ vào con đường làm ăn này. V́ sao không gọi là đi t́m trầm mà gọi là Đi Điệu?

 

          Người ta hay nói “ngậm ngăi t́m trầm” nên dân Điệu ṇi họ tin và kiêng cử nhiều thứ lắm. Họ tin của cải trên rừng do BÀ CẬU cai quản, họ đi để xin và để Điệu của cải ấy từ Bà Cậu về nên gọi là đi Điệu. Tôi cũng thắc mắc tại sao không là Ông Cậu mà là Bà Cậu? Và cũng tự giải thích, có lẽ cũng như người ta thường gọi là Mẹ Đất chứ chẳng ai gọi là Cha Đất cả!!! Họ kiêng cử không nói những từ có nghĩa nặng nề xui xẻo và thay thế bằng những từ khác rất là lạ ví dụ:

          Gạo họ gọi là mễ (nếu muốn hỏi đi kiếm đủ gạo hay đủ ăn không họ sẽ hỏi “đi đủ mễ không”.

Đi thất bại không kiếm được ǵ: gọi là sót trắng

          Muối: diêm

          Té ngă: nhiễu

          Đau bệnh: xe

          Chết ( tử ): chẩu ( đau bao tử = xe bao chẩu)

          Nấu nướng: hong

          Ăn: sóc

          Đi lạc: lục xín

          Con Cọp: Ông rằn ri hay ông Thủy quân lục chiến

          Con Rắn: Ông râu dài

          Con Gấu: Hiệp sĩ áo đen

          Con Voi: Ông lớn

          Con Heo rừng: Ông nhũi...

 

         Và c̣n nhiều nữa... Khi đi họ kết thành từng nhóm nhỏ gọi là Bầu, mỗi Bầu từ 3 đến 5 người. Họ có Bầu trưởng là người có kinh nghiệm đi núi rừng, đăc biệt là tài sáng rừng tức tài nhớ đường đi lối về không bị lạc. Thường họ hẹn khoảng 7 đến 8 Bầu đóng gần nhau trong một vùng núi, để tối lửa tắt đèn có nhau. V́ kết thành Bầu nên dù tin hay không tin, kiêng cử hay không đều phải nói năng hành xử giống nhau để tránh phật ḷng người khác, cũng như khỏi mang họa vào thân. Lâu ngày thành thói quen, khi ra khỏi rừng rồi hay khi đă về với gia đ́nh họ vẫn quen dùng những danh từ rừng núi nghe rất buồn cười. Chẳng hạn sợ con vấp té họ kêu lên “ coi chừng... nhiễu”, hoặc hỏi: “ con gà... chẩu rồi hả”- nghĩa là chết rồi hả?...

 

          Mỗi chuyến đi thường từ vài ngày đến cả tháng. Đi núi nhà như đi núi Khánh Dương, Buôn mê Thuột khoảng 4 đến 6 ngày, mang theo khoảng 20kg đồ dùng. Đi núi xa như Gialai Kontum, Sông Bé và xa hơn nữa là Lào, Campuchia, mang theo 40 đến 60kg cho 20 ngày đến một tháng. Chuẩn bị cho chuyến đi họ gọi là sắm chuyến, gồm những dụng cụ cần thiết như búa ŕu, dụng cụ soi trầm, chăn mền. Thực phẩm như gạo muối, thức ăn mặn để dành được lâu, đường đậu, dầu lửa, thuốc men...vv. Đi núi nhiều, họ thấy rằng rừng sâu núi thẳm chẳng có ǵ là huyền bí. Họ đi như đi chợ, thậm chí thời gian ở trên núi nhiều hơn ở nhà.

 

          Tính lăng mạn cũng làm vơi bớt đi gian khổ cực nhọc của họ. Đi qua những phong cảnh xinh đẹp, hùng vĩ của núi rừng. Họ cũng chiêm ngưỡng và cảm thấy như một sự ưu đăi mà những người khác không đặt chân đến không có được. Và như thế những địa danh của dân Điệu ra đời. Đỉnh Trí Tôn là tên được đặt cho đỉnh cao nhất của dăy Trường Sơn, Đỉnh Ngàn năm mây bay ( cao mây bao phủ ), Đỉnh Quanh năm mùa Đông ( sương mù giăng phủ quanh năm ), Dốc Ràm ( dốc cao quá mỗi lần leo dốc mang vác nặng người nào cũng càm ràm )...vv. Những cái tên đă nói lên đặc điểm của những nơi này đồng thời cũng nói lên tính lăng mạn hài hước của những con người coi thường gian khổ.

 

          Khi chuyến đi đă sắm xong, tức nhiên là đă rủ đủ Bầu đủ bạn. Họ đón xe hàng hoặc xe bộ đội đến những Tỉnh Thành mà họ đă định trước, thêm vài chuyến xe nữa, họ đến những địa phương nhỏ hơn từ đó họ băng rừng lội suối bắt đầu chuyến đi “ Điệu của Bà Cậu”. Có điều lạ và nghịch lư là tại những địa phương này dù biết họ là dân đi t́m lấy trầm, không ai cấm cản hay bắt bớ. Nhưng khi họ trở ra từ với những ǵ họ kiếm được lại bị du kích, kiểm lâm, bộ đội, công an, đủ thứ rượt bắt tịch thu. Và v́ thế mới có câu “ranh ngôn ám chỉ ” trong dân gian quê ḿnh:

 

Đi rước về rượt ( chỉ dân đi Điệu, khi Đi th́ xe đưa rước, khi Về th́ bị rượt bắt )

Đi rượt về rước ( chỉ dân đi Vượt biên, khi đi th́ bị rượt bắt  Khi về th́ được đón rước )

 

         Kể ra dân gian ḿnh thông minh dí dỏm thật. Ba lô nặng trĩu sẽ vơi dần theo những ngày vượt suối băng rừng. Họ dừng nghỉ qua đêm ở những nơi có nước (bờ suối) đốt lửa dựng trại tạm nấu ăn và ngủ. Nếu không làm trại chỉ t́m cách ngủ đỡ qua đêm gọi là ngủ khỉ, ngày sau sẽ đi tiếp. Khi đến điểm dừng chính, họ chặt cây làm trại, làm sạp để nằm ngủ (sau này để tiện và lợi họ nằm vơng chứ không làm sạp nữa). Sau khi ổn định nơi ở, việc đầu tiên là đi dạo tức là đi kiếm cây Gió. Cây Gió là loại cây có thớ gỗ tương đối mềm, hơi trắng ngà, có hai loại: Gió Bầu và Gió Me. Gió Bầu cho loại trầm tốt hơn có vỏ hơi bạc trắng lốm đốm màu rêu xanh. Gió Me có vỏ khác màu xanh đậm. Lá cây Gió h́nh dáng giống như lá cây măng cầu gai, láng màu xanh đậm. Vỏ cây Gió rất dễ tuốt, băm vào thân sẽ ngửi thấy mùi thơm, chỉ cần cầm mảnh vỏ cây tước ngược th́ vỏ sẽ bị tước lên rất xa về phía ngọn. Dạo t́m gần chỗ đóng trại gọi là dạo loanh quanh, dạo t́m xa gọi là dạo khơi. Khi t́m được cây Gió, bất kể cổ thụ hay cây nhỏ họ đều ḍ t́m dấu của trầm ăn ( trầm h́nh thành) trong lỏi cây. Họ sẽ t́m theo lỗ kiến đục trong thân cây hoặc vạt dần thớ gỗ bên ngoài để t́m dấu của trầm. Loại tốt nhất đen, đặc cứng chất dầu, rất hiếm gọi là Kỳ Nam. Loại trầm Kiến sinh tức tự sinh, tự h́nh thành, không do tác động của các loài kiến đục vào thân cây, gây nên sự tiết dầu hương của cây th́ dày và tốt hơn loại trầm dươc tạo nên do đường kiến đục.

 

         Sau khi hạ đổ cây Gió, theo lỗ kiến đục hay theo dấu trầm ăn. Họ dùng búa, riều cắt xa ra một chút để tránh làm bể ổ trầm. Vạt dần lớp da bên ngoài một cách cẩn thận, họ mang những khúc gỗ Gió có trầm về trại cất dấu và sẽ làm công việc “soi” trầm vào ban đêm. Ban ngày họ tranh thủ làm trên cây Gió mà họ kiếm được coi như là sở hữu của họ. Tối đến họ đốt đèn dầu lửa (tự chế) để soi trầm. Họ như những nhà điêu khắc gỗ, chỉ khác ở chỗ Điêu khắc gia có sẵn h́nh tượng muốn khắc, c̣n dân Điệu th́ không. Tôi đă thấy những thỏi trầm em tôi mang về, gồm nhiều loại, tuy không lớn lắm và không quư hiếm v́ em tôi không được may mắn như một số người khác. Tôi thán phục sự khéo léo, tỉ mỉ của những bàn tay thô cứng chai sần, và cảm kích công sức của họ. Những miếng trầm đủ h́nh dáng, kích cở khác nhau. Góc gách, lồi lơm, có nhánh có hang làm tôi liên tưởng đến những cột thạch nhủ tí hon trong các hang động. Công việc soi trầm đ̣i hỏi nhiều kiên nhẫn, tỉ mỉ, khéo léo, lại thường được làm vào ban đêm và những ngày mưa gió thiếu ánh sáng. Dụng cụ soi (đục, khoét, đẻo, gọt để lấy trầm) gọi là Dũm, có h́nh dáng như những chiếc dao tỉa hoa củ của các bà nội trợ. Những mảnh sắt được nung kỹ uốn cong như móng tay, mài bén gắn chắc vào cán gỗ nhỏ dài hơn gang tay.

 

Có ba cở:

 

Dũm phá lớn nhất dùng để vạt lớp gỗ bên ngoài.

Dũm trung dùng tuốt lại lớp da( lớp gỗ mỏng bám quanh thỏi trầm)

Dũm tỉa nhỏ nhất dùng để luồn lách, vào những ngóc nghách để tỉa sạch những chỗ gỗ trắng, từ đó có h́nh dáng của miếng trầm.

 

         Họ làm rất cẩn thận nhẹ nhàng, một nhánh bị gẫy cũng làm giảm giá của miếng trầm. Làm trầm đă khó, bảo quản, cất dấu, mang về được toàn vẹn c̣n khó hơn. Thường họ phải để dành thức ăn để có đủ ăn trên đường đi ra khỏi núi rừng. Nếu v́ mất quá nhiều ngay hơn dự định ở lại trong núi v́ gặp cây gió tốt, sẽ bị thiếu thức ăn trên đường ra. Họ phải chia sẻ lại một ít trầm kiếm được cho Bầu mới vào, hoặc chỉ cây gió họ làm chưa hết cho Bầu mới hưởng sái để đổi lấy thức ăn cho những ngày rút quân.

 

         T́nh đồng đội và tính nhân đạo là điểm đáng ghi nhận trong dân Điệu. Biết rằng đói khổ đe dọa gia đ́nh, nợ nần chồng chất do những chuyến đi sót trắng (không kiếm được ǵ). Nếu có bạn gặp nạn phải bỏ dở tất cả để cứu đồng đội trước. Đă không ít những cảnh đang đi gặp người của Bầu khác bị lạc ( lục xín) trong rừng, họ phải chia xẻ miếng ăn ít ỏi, vừa làm vừa chăm sóc người bệnh và đưa họ ra ngoài b́nh yên.

 

         Nguy hiểm th́ rất nhiều, tai nạn do cây đổ trúng, do té ngă, do sông suối, do nước lũ, do thú dữ và nhất là do bệnh hoạn. Bệnh đau ruột thừa, tai biến, và sốt cấp tính là đáng sợ nhất v́ thời gian thường không đủ để mang được người bệnh ra ngoài rừng hầu được cứu chữa. Nguy hiểm do con người cũng không ít. Khi gặp phải bọn Fun rô, nếu trong đám Fun rô có người biết nói tiếng Việt th́ c̣n có hy vọng sống sót trở về, v́ cố khai là dân đi kiếm cái ăn. Thường th́ họ được thuyết giảng cho nghe một bài chính trị ( mà chân th́ run đứng không vững). Dân Điệu chỉ thầm mong các ông ơi muốn lấy ǵ th́ lấy, xin đừng lấy mạng thôi. May mắn th́ họ được thả về với mệnh lệnh “đóng đinh từng cái miệng” tức không được kể với ai. Ra về th́ may lắm c̣n vài miếng thức ăn khô để ăn đường c̣n tất cả đều bị lấy hết. Ngoài ra c̣n phải né tránh kiêng sợ Du kích người Dân tộc thiểu số được trang bị súng ống, kiểm lâm, Bộ đội biên pḥng...vv. Nhiều người đă bị bắn chết v́ cố chạy thoát.

 

         Hầu hết Dân Điệu đều mang trong ḿnh một cái “ tủ lạnh xịn” tức là căn bệnh sốt rét kinh niên. Da người nào cũng xanh xao hay trắng mai mái. Môi th́ thâm v́ ảnh hưởng của bệnh. Thật đúng như lời dân ḿnh hay nói “ ăn của rừng rưng rưng nước mắt”.

 

         Ngày nay người đi Điệu không c̣n nhiều nữa, có lẽ do trầm càng ngày càng hiếm, đường đi ngày càng xa, và có lẽ do công ăn việc làm dễ dàng hơn nên họ chọn con đường làm ăn an toàn, ít nguy hiểm hơn. Đối với những người đi Điệu, đây là một quăng đời khó quên, và đối với người dân Dục Mỹ đây là một hoàn cảnh kinh tế, xă hội đáng ghi nhớ trong lịch sử quê nhà.    

 

 

 

Lan Đinh
5/2009

 

 

 

Vườn Hoa Văn Học Nghệ Thuật của Lan Đinh

 

 

 



 

www.ninh-hoa.com