www.ninh-hoa.com



 

 

 

 

 

 

 

Kinh Tế Việt Nam Và Thế Giới

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kinh Tế Việt Nam Và Thế Giới

 

 

www.ninh-hoa.com

 

 

 

Main Menu

 
 


SƠ LƯỢC KINH TẾ
HOA KỲ VÀ VIỆT NAM
TRONG 10 NĂM QUA


Nguyễn Văn Thành

 

    

 

Hoa Kỳ là nước có diện tích khoảng trên 9 161 966 km2 (cây số vuông) tức gấp gần 30 lần nước Việt Nam, nhưng không phải là nước rộng nhất thế giới, so với Nga trên 17 triệu km2. Dân số của Hoa Kỳ khoảng chừng 313 triệu người, cũng không phải là nước đông nhất thế giới so với Trung Quốc là 1350 triệu, thế nhưng nền kinh tế của Hoa Kỳ vẫn đứng đầu thế giới liên tiếp trên 70 năm qua.

 

Tính đổ đồng mỗi người dân của Hoa Kỳ kiếm khoảng chừng trên 50000 đô-la Mỹ/năm (15500  tỷ đô-la Mỹ/313 triệu dân tức là Tổng Sản lượng quốc gia chia cho số đầu người).

 

Kinh tế Hoa Kỳ là kinh tế thị trường, có nghĩa rằng các công ty cũng như các nhà tư bản quyết định chính sách kinh doanh, và chính phủ không can thiệp vào. Các nhà kinh tế tại Hoa Kỳ được tự do quyết định sự kinh doanh của ḿnh, và tự do hơn cả các nhà kinh tế Âu Châu và Nhật Bổn trong việc quyết định chính sách thiết lập và phát triển các cơ sở sản xuất, cho ra đời các sản phẩm mới, mướn thêm công nhân hay sa thải công nhân. Các cơ sở công nghệ của Mỹ dùng các kỹ thuật tối tân nhất, đặc biệt là dùng máy tính điện tử để phát triển các công nghệ thuộc ngành y tế, dược, công nghệ thông tin, điện tử, hàng không, không gian, các khí giới quốc pḥng. V́ các công nhân kỹ thuật cao như các kỹ sư hàng đầu, các nhà quản trị xí nghiệp như các CEO th́ lương cực cao so với từng lớp công nhân lao động.

 

Mỹ Quốc thường sản xuất bán ra ngoại quốc các máy vi tính (máy điện toán), các đồ điện tử, viễn thông, các phi cơ thương mại và quân sự, các xe hơi, các dụng cụ y khoa, thuốc men, nông phẩm. Mặc dầu Mỹ Quốc xuất cảng rất đắt tiền như các phi cơ, các máy điện toán, các dụng cụ y khoa, các dụng cụ điện tử, các dụng cụ viễn thông, các máy tính cầm tay, các iphone, ipad, ipod nhưng nhập cảng thường nhiều hơn xuất cảng cho nên cán cân thương mại với quốc tế gần như năm nào cũng thiếu hụt.

Mỹ Quốc nhập cảng nhiều dầu thô, mỗi ngày sản xuất trên 9 triệu 600 ngàn thùng dầu thô nhưng tiêu thụ 19 triệu thùng dầu thô mỗi ngày.

Mỹ Quốc xuất cảng nông phẩm gồm có đậu nành, hoa quả, bắp (ngô) khoảng 9.2%, các đồ kỹ nghệ khoảng 26.8%, phi cơ, xe hơi, transistor, máy điện toán, đồ viễn thông 49%, dụng cụ y khoa, các phần mềm (software), thuốc men và các dụng cụ khác khoảng 15%.

 

Mỹ Quốc xuất cảng nhiều nhất sang Gia Nă Đại 19%, Mễ Tây Cơ 13.3%, Trung Quốc 7%, Nhật Bổn 4.5%.

 

Mỹ Quốc nhập cảng nông phẩm, thủy sản  4.9%, đồ kỹ nghệ 32.9% (trong đó dầu thô 8.2%), các đồ dùng cơ bản 30.4% như máy vi tính (điện toán), đồ viễn thông, xe hơi và phụ tùng xe hơi, các dụng cụ văn pḥng, các máy điện, các dụng cụ tiêu dùng như quần áo, giày dép, xe hơi, các dụng cụ y khoa, và các đồ dùng.

 

Mỹ Quốc nhập cảng nhiều nhất từ Trung Quốc 18.4%, Gia Nă Đại 14.2%, Mễ Tây Cơ 11.7%, Nhật Bổn 5.8% và Đức Quốc 4.4%.

 

Tổng Sản lượng Quốc gia GDP trong 10 năm qua tính theo đô-la Mỹ cho năm 2002 là 10642 tỷ, năm 2003 là 11402 tỷ, năm 2004 là 11853 tỷ, năm 2005 là 12623 tỷ, năm 2006 là 13377 tỷ, năm 2007 là 14028 tỷ, năm 2008 là 14291 tỷ, năm 2009 là 13938 tỷ, năm 2010 là 14526 tỷ, năm 2011 là 15049 tỷ, năm 2012 khoảng chừng 15500 tỷ đô-la Mỹ.

Người ta cũng tiên đoán là Tổng Sản lượng Quốc gia của Mỹ năm 2013 là 16221 tỷ, năm 2014 là 16940 tỷ, năm 2015 là 17783 tỷ, năm 2016 là 18705 tỷ, năm 2017 là 19704 tỷ đô-la Mỹ.

 

Về độ tăng trưởng GDP của Mỹ Quốc năm 2002 tăng 1.8%, năm 2003 là 2.5%, năm 2004 là 3.5%, năm 2005 là 3.1%, năm 2006 là 2.7%, năm 2007 là 1.9%, năm 2008 là -0.3%, năm 2009 là -3.5%, năm 2010 là 3%, năm 2011 là 1.7%, năm 2012 là 2.1% và người ta tiên đoán năm 2013 là 2.4%, năm 2014 là 2.9%, năm 2015 là 3.3%, năm 2016 là 3.5%, năm 2017 là 3.3%. 

http://knoema.com/gdp-by-country?gclid=CLma1Jvvq7ECFWaFQAodHmEAPw

 

GDP at current US$, int.$ and Real GDP growth

 

 

United States

 

GDP, current prices, billion $US

GDP, current PPP dollars, bln.

Real GDP Growth, %

1990

5800.5

5800.5

1.9

1991

5992.1

5992.1

-0.2

1992

6342.3

6342.3

3.4

1993

6667.3

6667.3

2.9

1994

7085.2

7085.2

4.1

1995

7414.6

7414.6

2.5

1996

7838.5

7838.5

3.7

1997

8332.4

8332.4

4.5

1998

8793.5

8793.5

4.4

1999

9353.5

9353.5

4.8

2000

9951.5

9951.5

4.1

2001

10286.2

10286.2

1.1

2002

10642.3

10642.3

1.8

2003

11142.2

11142.2

2.5

2004

11853.3

11853.3

3.5

2005

12623.0

12623.0

3.1

2006

13377.2

13377.2

2.7

2007

14028.7

14028.7

1.9

2008

14291.6

14291.6

-0.3

2009

13938.9

13938.9

-3.5

2010

14526.6

14526.6

3.0

2011

15094.0

15094.0

1.7

2012

15609.7

15609.7

2.1

2013

16221.4

16221.4

2.4

2014

16940.6

16940.6

2.9

2015

17783.6

17783.6

3.3

2016

18705.0

18705.0

3.5

2017

19704.6

19704.6

3.3

Source: World Economic Outlook, April 2012

  

Mỹ Quốc buôn bán với ngoại quốc trong 10 năm qua với cán cân thương mại năm 2002 là -417 tỷ,  năm 2003 là  -490 tỷ,  năm 2004 là -605 tỷ, năm 2005 là -708 tỷ, năm 2006 là -753 tỷ, năm 2007 là -696 tỷ, năm 2008 là -698 tỷ, năm 2009 là -379 tỷ, năm 2010 là -494 tỷ, năm 2011 là -559 tỷ, năm 2012 khoảng chừng -600 tỷ. 

http://www.census.gov/foreign-trade/statistics/historical/gands.pdf  

Nói chung kể từ năm 1971 tức khoảng 40 năm th́ năm nào Mỹ Quốc cũng nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu tức là có cán cân mậu dịch âm, nguyên do Mỹ Quốc mua nhiều hơn là bán ra. C̣n nói chung th́ vấn đề nhập cảng dầu thô chiếm khoảng trên một nửa nhập siêu tức trên 300 tỷ đô-la Mỹ.

 

Về Thị trường Chứng khoán của Mỹ Quốc Dow Jones Kỹ nghệ Trung b́nh năm 2002 là 8784, năm 2003 là 10568, năm 2004 là 10558, năm 2005 là 10959, năm 2006 là 12556, ngày 9 tháng 10 năm 2007 là 14164, năm 2008 là 9034, năm 2009 là 10172, năm 2010 là 11871, năm 2011 là 12217, và năm 2012 khoảng DJI=13600.

 

Tóm lại từ ngày 31 tháng 12 năm 2002, Dow Jones Kỹ nghệ Trung b́nh của Mỹ là 8784 cho đến năm 2012 lúc lên bài này khoảng 13600.

 

Thống đốc Quỹ Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ dùng chính sách tăng lưu lượng tiền tệ gọi tên là QE kỳ 1 là QE1 dùng $1500 tỷ đô-la Mỹ, QE2 khoảng $800 tỷ đô-la Mỹ dùng mua công khố phiếu dài hạn 30 năm, 10 năm với lăi suất cao và bán ra công khố phiếu ngắn hạn 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 3 năm, 5 năm lăi suất thấp một mặt để giảm lăi của chính phủ, một mặt để kích thích nền kinh tế phát triển, hôm nay ngày 13 tháng 9 năm 2012 Thống đốc Quỹ Dự trữ Liên bang  Ben  Bernanke c̣n dùng thêm QE3 mỗi tháng $40 tỷ đô-la Mỹ, đặc biệt hậu thuẫn tiền nợ mua trả góp nhà vô thời hạn tới khi kinh tế hồi phục mới thôi, làm cho Thị trường Chứng khoán Hoa Kỳ DJI lên cao khoảng 13593. 

http://en.wikipedia.org/wiki/Quantitative_easing


(The Chairman of the U.S. Federal Reserve announced plans for another aggressive stimulus program on Thursday, saying the central bank will buy $40 billion of mortgage-backed debt per month until the U.S. job market improves substantially.)

 

Dow Jones Industrial Average (^DJI)

-DJI

13,596.93 Up 18.97(0.14%) 4:09PM EDT
 

 

Chi tiết trị số cực đại của Dow Jones IA của Mỹ vào ngày 9 tháng 10 năm 2007.

 

Theo bảng dưới đây :

 

Người ta tiên đoán rằng Dow Jones Kỹ nghệ của Mỹ trong khoảng 10 năm tới tức là năm 2022 sẽ lên khoảng chừng DJI= 20000.

Nạn thất nghiệp hiện nay là 8.1%

Năm 2002 là 6%        Năm 2003 là 5.7% 

Năm 2004 là 5.4%      Năm 2005 là 4.9%  

Năm 2006 là 4.4%      Năm 2007 là 5%

Năm 2008 là 7.3%      Năm 2009 là 9.9%

  Năm 2010 là 9.4%     Năm 2011 là 8.5%
 

http://data.bls.gov/timeseries/LNS14000000
 


 

 

 

Tiện đây ta cũng nghiên cứu sơ lược về

Nền KINH TẾ VIỆT NAM trong 10 NĂM qua.

 

Việt Nam có diện tích khoảng 331 210 km2 , dân số cho đến tháng 7 năm 2012 khoảng 91 519 289 người. Dân số Việt Nam tăng 1.054% /năm, như vậy dân Việt Nam sẽ tới khoảng 100 triệu vào năm 2018.

 

Trước năm 1986, kinh tế Việt Nam rất là yếu kém gần như không có ǵ để xuất cảng và cũng không có tiền để nhập cảng.

 

Năm 1984 GDP của Việt Nam là 48 tỷ 177 triệu đô-la Mỹ

 

Năm 1985 GDP của Việt Nam xuống c̣n 14 tỷ 999 triệu đô-la Mỹ tức giảm khoảng 68%.

 

Năm 1986 với việc đổi mới kinh tế của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đi theo Kinh tế Thị trường Định hướng Xă hội Chủ nghĩa, bỏ các nông trường tập thể và cho phép lập các công tư nên GDP lên 33 tỷ 879 triệu đô-la Mỹ năm 1986.

 

Cho nên từ một nước thiếu gạo trầm trọng v́ chế độ nông trường tập thể, nay canh tác tự do thành nước xuất cảng gạo đứng hàng thứ 2 trên thế giới, năm 2011 đă xuất cảng trên 7.2 triệu tấn gạo. Chính phủ cho phép các tư nhân cũng như các công ty ngoại quốc vào kinh doanh, tuy nhiên kinh tế chủ đạo vẫn thuộc nhà nước Việt Nam được gọi là các doanh nghiệp quốc doanh. Và nền kinh tế này chiếm 40% Tổng Sản lượng Quốc gia. Để chiêu dụ các công ty ngoại quốc và các nhà kinh doanh trong nước, chính phủ Việt Nam tuyên bố tự do kinh tế và hội nhập quốc tế.

 

Kể từ đó Việt Nam càng ngày càng phát triển về kinh tế.

 

Sau khi Việt Nam đă có bang giao với Mỹ Quốc, và Việt Nam đă gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) vào năm 2007 th́ nền kinh tế của Việt Nam càng ngày càng phát triển.

 

Như thế Việt Nam đă được vào WTO trước nước Nga măi tới năm 2012 mới được nhập WTO.

http://www.rt.com/news/prime-time/wto-russia-membership-dvorkovich-193/

 

Việt Nam thường xuất cảng quần áo, giày dép, thủy sản, dầu thô, than, đồ điện tử, đồ gỗ, gạo, máy móc. Việt Nam bán sang Hoa Kỳ xuất cảng được 18%, Trung Quốc 11%, Nhật Bổn 11%, Đức Quốc 3.7%. Việt Nam nhập cảng máy móc, sản phẩm, dầu hỏa, sản phẩm thép, vải vóc và da để làm quần áo, giày dép và nhập cảng đồ điện tử, máy tính (máy điện toán) đồ Plastic, dụng cụ y khoa, dược phẩm, xe hơi, xe 2 bánh…

 

Việt Nam nhập cảng nhiều nhất từ Trung Quốc 22%, Đại Hàn 13%, Nhật Bổn 10%, Đài Loan 8.6%, Thái Lan 6.4%, Tân Gia Ba 6.4%; tức là nhập cảng hầu hết từ Á Châu.

 

Nói chung GDP của Việt Nam tính theo đô-la Mỹ th́ năm 2002 là 35.07 tỷ Mỹ Kim, năm 2003 là 39.563 tỷ, năm 2004 là 45.452 tỷ, năm 2005 là 52.931 tỷ, năm 2006 là 60.933 tỷ, năm 2007 là 71.112 tỷ, năm 2008 là 90.302 tỷ, năm 2009 là 93.169 tỷ, năm 2010 là 103.5746 tỷ, năm 2011 là 123.6 tỷ, và năm 2012 khoảng 140 tỷ đô-la Mỹ.

 

Độ tăng trưởng GDP của Việt Nam như sau:

Năm 2002 7.91%                                 Năm 2003 12.72%

Năm 2004 14.89%                               Năm 2005 16.45%

Năm 2006 15.12%                               Năm 2007 16.71%

Năm 2008 26.99%                               Năm 2009 3.17 %

Năm 2010 11.17%                               Năm 2011 5.9%

Năm 2012 khoảng 6%

http://www.rt.com/news/prime-time/wto-russia-membership-dvorkovich-193/ 
 

Year

Gross domestic product, current prices

Percent Change

 

 

 

1980

27.847

 

1981

13.875

-50.17 %

1982

18.405

32.65 %

1983

27.726

50.64 %

1984

48.177

73.76 %

1985

14.999

-68.87 %

1986

33.873

125.84 %

1987

42.045

24.13 %

1988

23.234

-44.74 %

1989

6.293

-72.91 %

1990

6.472

2.84 %

1991

7.642

18.08 %

1992

9.867

29.12 %

1993

13.181

33.59 %

1994

16.279

23.50 %

1995

20.798

27.76 %

1996

24.692

18.72 %

1997

26.892

8.91 %

1998

27.234

1.27 %

1999

28.702

5.39 %

2000

31.176

8.62 %

2001

32.524

4.32 %

2002

35.097

7.91 %

2003

39.563

12.72 %

2004

45.452

14.89 %

2005

52.931

16.45 %

2006

60.933

15.12 %

2007

71.112

16.71 %

2008

90.302

26.99 %

2009

93.169

3.17 %

2010

103.574

11.17 %


Nói chung Tổng Sản lượng Quốc gia của Việt Nam càng ngày càng gia tăng nhưng v́ nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu cho nên trong 10 năm qua, năm nào Việt Nam cũng chịu nhập siêu tức là nhập nhiều hơn xuất khẩu.

 

Nhập siêu nhiều nhất khoảng 18 tỷ đô-la Mỹ vào năm 2008, năm 2011 nhập siêu 4.74 tỷ và đang trên đà đi xuống, hy vọng sẽ cân bằng cán cân thương ngoại với nước ngoài vào năm 2012 hoặc năm 2013.

http://www.tradingeconomics.com/vietnam/balance-of-trade
 

 
 

Về Thị trường Chứng khoán của Việt Nam bắt đầu mở ra năm 2000 đến nay là 12 năm.

 

Đỉnh VN-Index là 1050 vào tháng 10 năm 2007, hiện nay là 398.

 

Theo Thống kê của VN-Index th́ năm 2007 là 1050 (đỉnh vào tháng 10 năm 2007), năm 2008 khoảng 516, năm 2009 khoảng 300, năm 2010 là 539, năm 2011 là 476, năm 2012 khoảng VN-INDEX= 395. 

http://www.bloomberg.com/quote/VNINDEX:IND/chart 

 

Vietnam Ho Chi Minh Stock Index / VN-Index


 

Xem như vậy th́ Thị trường Chứng khoán của Việt Nam càng ngày càng suy giảm. Phần lớn các công ty ngoại quốc như Intel làm chip tại Việt Nam bán sang Mỹ và các nước khác th́ lời. Các hăng xe hơi như Honda, Hyundai, sản xuất xe 4 bánh và 2 bánh tại Việt Nam th́ lời. Nói chung các công ty ngoại quốc hoặc hợp tác với Việt Nam th́ lời c̣n Công ty quốc doanh bị lỗ nặng. Các Công ty quốc doanh lỗ nặng v́ người quản lư không đủ khả năng, cấp chỉ huy không có kinh nghiệm được chỉ định vào các chức vụ quan trọng, hoặc con cháu của các đảng viên cao cấp rồi kinh doanh một cách bừa băi tỉ dụ như công ty đóng tàu VINASHIP mua tàu cũ của ngoại quốc về tân trang, sơn phết lại, sửa sang nhưng không ai mua và làm cho các công ty phải chịu lỗ làm thâm thụt ngân sách quốc gia.

 

Tại Việt Nam nhiều người cậy quyền cậy thế kinh doanh độc quyền hoặc gian lận phất lên giàu có, c̣n các người lương thiện th́ càng ngày càng đói kém, vật giá càng ngày càng gia tăng khi chính phủ tăng lương 10-20% cho công nhân, viên chức th́ thị trường bên ngoài đồ tiêu dùng đă tăng 25-30%.

 

V́ vậy tại Việt Nam người giàu có càng ngày càng giàu thêm, c̣n nhân dân lao động càng ngày càng đói khổ v́ lương tăng không theo kịp vật giá.

 

Muốn cải tổ kinh tế th́ chính phủ phải đóng cửa các công ty quốc doanh nào bị lỗ nặng nề hoặc do điều hành yếu kém, thiếu chuyên môn, hoặc do tham nhũng, và cho các công ty quốc doanh và tư doanh có quyền lợi ngang nhau không phân biệt đối xử quốc doanh và tư doanh. Công ty nào phục vụ việc phát triển có lợi tức th́ sẽ sống c̣n, c̣n công ty nào kém hiệu quả th́ phải đóng cửa tiệm th́ nền kinh tế của Việt Nam về tương lai chắc chắn sẽ khá hơn.

 

C̣n nếu chỉ phục vụ v́ tư lợi th́ dân càng ngày càng đói khổ.

 

Ấy là chưa kể khi ngoại quốc đưa việc làm tới Việt Nam th́ Việt Nam không có đủ kỹ sư và công nhân cung cấp cho nhà máy. Thí dụ như Intel đầu tư 1 tỷ đô-la Mỹ sản xuất các Chip ở Việt Nam cần khoảng 1200 kỹ sư mà Việt Nam không có đủ 100 kỹ sư đủ tiêu chuẩn v́ lư do cách học ở Việt Nam xa vời với thực tế. Các sinh viên tốt nghiệp các Đại học Bách Khoa giỏi khoa học cơ bản thí dụ giỏi về cách lấy tích phân, giải phương tŕnh vi phân, giải tích học nhưng không biết xử dụng các công cụ thiết kế thí dụ MATHLAB, Hspice, PSPICE, MathCad, Signal Integrity, ASIC Design, Verilog, FPGA các Tool Synopsys, Cadence, Mentor Graphics là các công cụ dùng vào việc Design, thử nghiệm, sản xuất các Chip, hàng triệu transistor. Việc Intel cần th́ Việt Nam không có kỹ sư hiểu về các vấn đề đó nên phải tạm dùng kỹ sư nước ngoài.

 

http://www.freshpcfix.com/regcure.php?t=Free%20Mathcad%20Download

http://www.amazon.com/s/?ie=UTF8&keywords=matlab+simulink&tag=mh0b-20&index=stripbooks&hvad

http://pspice.en.softonic.com/

http://www.synopsys.com/Tools/Verification/AMSVerification/CircuitSimulation/
HSPICE/Pages/default.aspx

http://www.mentor.com/products/pcb-system-design/circuit-simulation/

http://www.mentor.com/products/pcb-system-design/layout-routing/

http://www.mentor.com/products/pcb-system-design/products/

http://www.cadence.com/solutions/pages/default.aspx


Nói chung trong 10 năm qua, Tổng Sản lượng Quốc gia của Việt Nam GDP đă gia tăng khoảng 400% (140 tỷ đô-la Mỹ/ 35 tỷ đô-la Mỹ).

 

Muốn phát triển nền kinh tế th́ phải đào tạo đầy đủ chuyên viên và có đường lối kinh tế thực sự phục vụ cho đại đa số nhân dân lao động chứ không phục vụ một ít kẻ cậy quyền cậy thế v́ làm như vậy sẽ tạo giai cấp tư bản càng ngày càng giàu có và giai cấp công nhân lao động càng ngày càng nghèo khó.

 

Muốn cho xă hội ổn định th́ nền kinh tế ở trong nước phải có khuynh hướng phục vụ nhân dân lao động chứ không có khuynh hướng phục vụ thiểu số tư bản cậy quyền, cậy thế v́ nếu sự giàu nghèo gia tăng ắt sẽ gây ra bất ổn về chính trị.

 

Chính phủ Việt Nam mới đây trong chiến dịch bài trừ tham nhũng gây tổn hại cho ngân sách quốc gia đă bắt giữ Nguyễn Đức Kiên v́ kinh doanh trái phép, Lư Xuân Hải tổng giám đốc Ngân Hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ACB v́ có liên hệ tới ông Kiên.

 

Cơ quan điều tra cho biết ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt về hành vi kinh doanh trái phép theo điều 159 Bộ luật h́nh sự. Liên quan đến ông Kiên, cơ quan điều tra c̣n yêu  cầu làm việc với ông Lư Xuân Hải (tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu - ACB) để làm rơ mối quan hệ cá nhân giữa ông Hải và ông Kiên.

 

Điều tra 3 công ty của bầu Kiên

 

(Ngày 20-8, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đă khởi tố vụ án h́nh sự về hành vi “kinh doanh trái phép” xảy ra tại Công ty cổ phần đầu tư thương mại B&B, Công ty cổ phần đầu tư ACB Hà Nội và Công ty TNHH đầu tư tài chính Á Châu Hà Nội. Cả ba công ty này đều do ông Nguyễn Đức Kiên lập ra và giữ chức vụ chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT). Các quyết định khởi tố và lệnh tạm giam ông Kiên đều được Viện KSND tối cao phê chuẩn.)

 

Ngoài ra chính phủ c̣n ra lệnh bắt Dương Chí Dũng, chủ tịch công ty vận chuyển hàng hải về tội tham nhũng làm hại hàng tỷ đô-la cho ngân sách công ty nhà nước. 

 

 

Để SO SÁNH VIỆT NAM với ĐẠI HÀN

 

 

Trước năm 1975 dân Việt Nam ở Miền Nam có khoảng 22 triệu dân, Đại Hàn khoảng 23 triệu dân, kinh tế của 2 nước cũng tương đương.

 

Nay dân Việt Nam khoảng chừng 91 519 289  ( tháng 7 năm 2012)

Dân Đại Hàn khoảng chừng 48 680 500 người ( tháng 7 năm 2012)

 

Diện tích Việt Nam cả đất và vùng biển là 331 210 km2.

Diện tích Đại Hàn là 99 720 km2

 

Tổng Sản lượng quốc nội GDP của Việt Nam là 124 tỷ đô-la Mỹ và của Đại Hàn là 1116 tỷ đô-la Mỹ vào năm 2011 tức là GDP của Đại Hàn hơn Việt Nam khoảng 9 lần, theo đầu người mỗi năm dân Đại Hàn thu nhập khoảng 22920 đô-la Mỹ một năm, c̣n Việt Nam thu nhập mỗi người khoảng 1360 đô-la Mỹ một năm, nói một cách khác đi th́ dân Đại Hàn thu nhập hơn dân Việt Nam 22920/1360 = 16.85 lần gần bằng 17 lần.

 

ĐẠI HÀN  hơn VIỆT NAM v́:

 

Tự do kinh tế, giáo dục thích hợp với môi trường phát triển kinh tế.

 

Không có tham ô, lăng phí, cậy quyền và luôn đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi cá nhân đảng phái.

 

Tổng thống Đại Hàn theo hiến pháp chỉ làm một nhiệm kỳ mà thôi.

 

Trong khi Việt Nam chỉ xuất khẩu hàng hóa nặng nề và rẻ như gạo, thủy sản, quần áo, giày dép, th́ Đại Hàn xuất cảng hàng hóa đắt tiền như xe hơi Hyundai, Kia, HDTV 3D của SAMSUNG, tablet, galaxy, iPhone v.v..

 

Công nghệ đóng tàu thủy của Đại Hàn (South Korea) đứng đầu thế giới, thứ nh́ là Trung Quốc, thứ ba là Nhật Bổn, thứ tư là Phi Luật Tân..

 

 Rank

Country

Combined GT

 %

 

1

South Korea South Korea

137,596,000

37.45%

 

2

China  China

123,961,000

33.7%

 

3

JapanJapan

63,641,000

17.3%

 

4

Philippines  Philippines

423,000

1.6%

 


Dưới đây là h́nh một tàu thủy Đại Hàn
 

 

Sau đây là giản đồ GDP của Việt Nam và Đại Hàn từ năm 1985 đến nay để tiện việc so sánh. 

http://www.tradingeconomics.com/vietnam/gdp

Vietnam GDP

The Gross Domestic Product (GDP) in Vietnam was worth 124 billion US dollars in 2011, according to a report published by the World Bank. The GDP value of Vietnam is roughly equivalent to 0.17 percent of the world economy. Historically, from 1985 until 2010, Vietnam GDP averaged 36.6 billion USD reaching an all time high of 103.6 billion USD in December of 2010 and a record low of 6.3 billion USD in December of 1989. The gross domestic product (GDP) measures of national income and output for a given country's economy. The gross domestic product (GDP) is equal to the total expenditures for all final goods and services produced within the country in a stipulated period of time. This page includes a chart with historical data for Vietnam GDP.


GDP


The gross domestic product (GDP) or gross domestic income (GDI) is one of the measures of national income and output for a given country's economy. GDP can be defined in three ways, all of which are conceptually identical. First, it is equal to the total expenditures for all final goods and services produced within the country in a stipulated period of time (usually a 365-day year). Second, it is equal to the sum of the value added at every stage of production (the intermediate stages) by all the industries within a country, plus taxes less subsidies on products, in the period. Third, it is equal to the sum of the income generated by production in the country in the period—that is, compensation of employees, taxes on production and
 


http://www.tradingeconomics.com/south-korea/gdp

 

South Korea GDP

The Gross Domestic Product (GDP) in South Korea was worth 1014.48 billion US dollars in 2010, according to a report published by the World Bank. The GDP value of South Korea is roughly equivalent to 1.64 percent of the world economy. Historically, from 1960 until 2010, South Korea GDP averaged 277.2400 billion USD reaching an all time high of 1049.2400 billion USD in December of 2007 and a record low of 2.3600 billion USD in December of 1961. The gross domestic product (GDP) measures of national income and output for a given country's economy. The gross domestic product (GDP) is equal to the total expenditures for all final goods and services produced within the country in a stipulated period of time. This page includes a chart with historical data for South Korea GDP.


GDP

The gross domestic product (GDP) or gross domestic income (GDI) is one of the measures of national income and output for a given country's economy. GDP can be defined in three ways, all of which are conceptually identical. First, it is equal to the total expenditures for all final goods and services produced within the country in a stipulated period of time (usually a 365-day year). Second, it is equal to the sum of the value added at every stage of production (the intermediate stages) by all the industries within a country, plus taxes less subsidies on products, in the period. Third, it is equal to the sum of the income generated by production in the country in the period—that is, compensation of employees, taxes on production and imports less subsidies, and gross operating surplus (or profits).
 

          

 

 

 NGUYỄN VĂN THÀNH
   
9/2012

(Bài đă được đăng trong ĐẶC SAN số 4 phát hành tháng 10.2012

Nhân dịp Kỷ niệm 10 Năm Thành lập www.ninh-hoa.com )  

 

 

THAM KHẢO:

- Chi tiết các Tài liệu Tham khảo trong các Websites đều nằm trong bài. 

  

 

 

 

www.ninh-hoa.com