www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Siêu Khoa Học Tôn Giáo - Vũ Trụ Quan

Giáo Sư Trần Cao Tần

 

Lời Giới Thiệu

PHẦN MỘT-PHẦN HAI

Chân Lư -
Vũ Trụ H́nh Thành

PHẦN BA

Vũ Trụ Ta Bà  1 | 2

PHẦN BỐN

Đường Giác Ngộ

 Kỳ 1    2   |   3  

Kỳ  4   |   5 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 


SIÊU KHOA HỌC TÔN GIÁO

Tiểu Thừa Và Trung Thừa Phật Giáo

GS Trần Cao Tần
Tiến Sĩ Toán học

Giáo sư Toán Đại học Loras tại Iowa, Hoa Kỳ
 

    

 

TẬP 2:
PHẦN
NĂM

ĐƯỜNG VÀO PHẬT-TÁNH

TÁNH-KHÔNG VÀ THẬT-TÁNH

 

  

TIÊU-LẠC HÀNH-UẨN.

 

Tưởng-uẩn đă hết, hành-giả tiêu-diệt mộng-tưởng b́nh-thường, thức-ngủ minh-tịnh, cũng như hư không, chẳng c̣n tướng thô-trọng và các bóng trần. Xem đất các sông-núi tỏ rơ, không có dính-mắc, không c̣n trần-tập cũ, chỉ có tinh-chơn. Thấy căn-bản của sanh-diệt. Thấy các loài chúng-sanh cùng một gốc. Đó là cảnh-giới của hành-uẩn. Đó là hành-giả đặng chánh-tri-kiến. Nhờ hành-giả giữ chánh-tâm nên mười loài thiên-ma không t́m được cách phá-phách nữa.

 

1/ Trong chánh-định, cứu-xét cùng-tột căn-bản của sự sanh, hành-giả thấy được tám muôn kiếp luân-hồi của chúng-sanh từ cơi này qua cơi khác, từ kiếp này qua kiếp khác. Nếu khởi tâm suy-lường, so sánh hành-giả sẽ bị lạc vào hai loại tà-thuyết:

       A/ Thuyết cho là không có nguyên-thủy của vũ-trụ, v́ không thể thấy được xa hơn tám muôn kiếp về quá-khứ;

       B/ Thuyết cho là giống nào th́ cứ luôn là giống đó dù có đổi kiếp, như người luôn là người, chim luôn là chim…Do đó không thấy được được nghiệp-thức luân-hồi, loài này có thể đổi kiếp sanh ra thành loài khác do nơi nghiệp-chướng quyết-định.

2/ Trong chánh-định, cứu-xét cùng-tột can-bản của sự sanh, nếu khởi tâm suy-lường, hành-giả bi rơi vào bốn điều lầm-lạc:

       A/ Do tu-tập thấy-biết trong hai vạn kiếp, thấy chúng-sanh luân-hồi tuần-hoàn, nên cho đó là Thường.

       B/ Do tu-tập thếy-biết bốn vạn kiếp, thấy tứ-đại địa, thủy, phong, hỏa c̣n đó, nên cho là Thường.

       C/ Do tu-tập thấy-biết tám vạn kiếp, thấy thức Mạt-Na thứ bảy c̣n đó, nên cho là Thường.

       D/ Do tu-tập thấy tưởng-uẩn không trôi-lăn vận-chuyển, tâm-tưởng sanh-diệt nay đă dứt, nên cho đó là Thường. Bốn cái lầm-chấp về thương-trụ này làm cho hành-giả mất chánh-tri-kiến, lạc vào tà-đạo.

3/ Trong chánh-định, cứu-xét cùng-tột căn-bản của sự sanh, nếu khởi tâm-suy-lường, hành giả bị rơi vào bốn thứ sở-kiến điên-đảo:

       A/ Do quán-tâm diệu-minh, hiểu lầm rằng có một thần-linh sáng-tạo ra chúng-sanh. Chúng-sanh th́ sanh-diệt vô-thường, c̣n thần-linh kia thường-trụ bất-diệt.

       B/ Do quán-sát khắp muời phương quốc-độ, cho rằng các kiếp hư-hoại là vô-thường, c̣n các kiếp bất-hoại là thường.

       C/ Do quán-sát thân-tâm của ḿnh, cho rằng cái tâm là “linh-hồn” thường-c̣n bất-diệt, cái thân th́ hoại-diệt vô-thường.

       D/ Do quán-sát sắc-thọ-tưởng và hành, cho rằng sắc, thọ, tưởng đều dứt nên là vô thường, nhưng hành-uẩn lưu-động là thường. Các sở-kiến điên-đảo này làm cho hành-giả mất chánh-tri kiến, bị lạc vào tà-đạo.

4/ Trong chánh-định, cứu-xét cùng-tột căn-bản của sự sanh, nếu khởi tâm suy-lường, hành-giả bị lạc vào bốn thứ luận hữu-biên.

       A/ Người đó thấy tâm sanh, xét về mặt liên-tục cho là hữu-biên, về mặt gián-đoạn cho là vô-biên.

       B/ Người đó quán được tâm chúng-sanh trong tám vạn kiếp. Trước hơn tám vạn kiếp đó vắng-lặng, không nghe-thấy ǵ nên cho là không biên-giới, c̣n chỗ nghe-thấy trong tám vạn kiếp th́ cho là có biên-giới.

       C/ Người đó xét cái ngă biến-tri, nơi cái ngă của ḿnh mà soi cái ngă của người, cho rằng ngă vừa vô-biên vừa hữu-biên.

       D/ Người đó không dùng sở-kiến, thấy thân và cảnh vừa vô-biên vừa hữu-biên. Nói chung người đó bị rơi vào 4 thứ loạn-tưởng, thấy tâm ḿnh, tâm chúng-sanh, thân và cảnh vừa vô-biên vừa hữu-biên v́ cái thấy-biết phiến-diện về cái gốc của sự luân-hồi. Do đó lạc vào tà-đạo.

5/ Trong chánh-định, cứu-xét cùng-tột căn-bản của sự sanh, nếu khởi tâm suy-lường, hành-giả bị rơi vào bốn thứ điên-đảo hư-luận, rối-loạn, luống-dối.

       A/ Người đó quán gốc biến-hóa, thấy chỗ thay-đổi trôi-lăn, gọi là biến, thấy chỗ không có nối-tiếp gọi là thường-hằng, cái chỗ “thấy” gọi là sanh, cái chỗ “không thấy” gọi là diệt, chỗ liên-tục gọi là tăng, chỗ gián-đoạn gọi là giảm, cái “có chỗ sanh” gọi là “có”, cái “có chỗ diệt” gọi là ‘không’. Khi có ai hỏi pháp th́ nói lộn-xộn những câu vô-nghĩa,

       B/ Người đó quán-tâm, thấy cái “không” của tâm, vốn không thể chứng-đắc, khi có ai hỏi th́ chỉ nói một chữ “không”, không c̣n lời nào khác.

       C/ Người đó quán tâm, nhân có chứng-đắc, khi có ai hỏi chỉ nói một cữ “có”, không có lời nào khác.

       D/ Người đó thấy cả hai chỗ có-không, cảnh đă phân-ly, tâm rối-loạn, có ai hỏi chỉ nói “có tức không”, không tức có”, lộn-xộn vô-cúng.

6/ Trong chánh-định, cứu-xét cùng-tận căn-bản của sự sanh, nếu khởi tâm suy-lường, hành-giả bị lạc vào loạn-thuyết về sư chết, cho rằng sau chết vẫn có tướng, phát tâm điên-đảo, tự giữ thân cũ, nói sắc là ta, hay ta có sắc, theo duyên trước trở lại, hay nói sắc thuộc về ta, hay cái ta tại sắc. Đó là sự loạn-tưởng giữa ngă với sắc-tướng sau khi chết. Trên thế-gian, nhiều tà-thuyết cho rằng kẻ chết vẫn nằm dưới mổ chờ ngày phán-xét sẽ sống lại để được lên thiên-đàng hay xuống địa-ngục. Cũng có tà-thuyêt về quỷ nhậptràng, xác chết sống lại đi hại người.

7/ Trong chánh-định, cứu xét cùng-tận căn-bản của sự sanh, nếu khởi tâm suy-lường, hành-giả bị lạc vào loạn-thuyết về sự chết, cho rằng sau chết không có tướng, phát-tâm điên-đảo, sanh ḷng mê-chấp Niết-bàn, cho là nhân-quả đều không, rơi vào danh-từ đoạn-diệt.

8/ Trong chánh-định, cứu xét cùng-tận căn-bản của sự sanh, nếu khởi tâm suy-lường, hành-giả bị lạc vào loạn-thuyết cho rằng chết rồi vẫn không. Thấy có chẳng phải có, thấy không chẳng phải không, có không đều không, hậu-lai mờ-mịt, lạc vào ngoại-đạo.

9/ Trong chánh-định, cứu-xét cùng-tận căn-bản của sự sanh, nếu khởi tâm suy-lường, hành-giả bị lạc vào loạn-thuyết cho rằng chết rồi đoạn-diệt, tâm-luận điên-đảo.

10/ Trong chánh-định, cứu-xét cùng-tận căn-bản của sự sanh, nếu khởi tâm suy-lường, hành-giả bị lạc vào loạn-thuyết cho rằng chết rồi phải “có”, chấp lấy dục-giới làm nhân chuyển sanh-tử thành Niết-bàn, hoặc chấp bốn cơi của tứ-thiền rồi bị lạc măi trong đó.

 

Trên đây là 10 thứ thiền-định loạn-tưởng điên-cuồng do người tu khởi tâm suy-lường nên mất chánh-định, bị lạc vào tà-đạo. Người nào tu theo đúng Chánh-Định khi đă tiêu-lạc hành-uản, sẽ thấy đại-địa núi sông như gương tỏ, tâm trong-sáng, thấu rơ gốc tánh của luân-hồi, vượt khỏi chúng-sanh trược.

 

TIÊU-LẠC THỨC-UẨN.

 

Khi hành-uẩn đă diệt, cảm-ứng nhân-qủả luân-hồi đều hết, hành-giả thấy cảnh-giới Niết-Bàn Hữu-Lậu sáng-tỏ như b́nh-minh, nh́n phương đông đă có tinh-sắc, sáu căn hằng tịnh, hết đeo-đuổi trần-cảnh, trong ngoài lồng-lộng sáng-tỏ, nhập vào cảnh-giới-kh6ng-có-chỗ-nhập, thấu-rơ nguyên-do thọ-mạng của các loài chúng-sanh, thấy chỗ “đồng” của mười phương thế-giới, đó là cảnh-giới của thức-uẩn.

 

1/ Cứu-xét cùng-tột, hành-uẩn tiêu-lạc, thức trở về cội-gốc, đă dứt sanh-diệt. Sự tịch-diệt chưa tṛn, tự-thân khai-mở, sáu căn ly hiệp, hiểu-thấu các loài. Sáng-biết thông đồng, vào cội-gốc h́nh-tướng, nương đó lâp thắng-giải, “chấp nhân sơ-nhân”, hành-giả bị lạc vào pháp tu minh-đế, muội tành Bồ-đề, bỏ mất tri-kiến, xa lánh viên-thông, cách biệt Niệt-bàn, sanh làm chủng-tộc ngoại-đạo.

2/ Cứu xét cùng-tột, hành-uẩn tiêu-lạc, sự tịch-diệt chưa tṛn, như chỗ sở-qui làm thành tự-thể, thấy chúng-sanh và mười phương thế-giới đều ở trong thân ta, một loài lưu-xuất, rồi sanh thắng-giải. Người đó lạc vào vị-trí “chấp năng phi năng”, làm bạn với ma-vương.

3/ Cứu xét cùng-tột, hành-uẩn tiêu-lạc, sự tịch-diệt chưa tṛn, như chỗ sở-qui có chỗ nương về, tự nghi thân-tâm, do đó lưu-xuất hư-không, lại nhận nơi sở-sanh tuyên-lưu làm thân chơn-thường, không có sanh-diệt trong chỗ sanh-diệt, lầm cho là thường-trụ, nên muội lư bất-sanh, cũng lầm lư sanh-diệt, an-trụ trầm-mê sanh thắng-giải. Người đó lạc vào vị-trí “chấp thường không thường”, bỏ mất tri-kiến, không biết Bồ-Đề, xa-lánh tánh viên-thông, cách biệt Niết-Bàn, sanh làm chủng tôc toàn điên-đảo.

4/ Cứu-xét cùng-tột, hành-uẩn tiêu-lạc, sự tịch-diệt chưa tṛn, người đó có thể rơi vào loạn-thuyết cho rằng thảo-mộc hữu-t́nh như người, người chết thành thảo-mộc, muời phương đồng một tánh biết, rồi sanh thắng-giải. Người đó “chấp biết không biết”, bỏ mất tri-kiến, mất tánh Bồ-đề, lạc vào tà-đạo, sanh vào chủng-tộc biết-điên-đảo.

5/ Cứu-xét cùng-tột, hành-uẩn tiêu-lạc, sự tịch-diệt chưa tṛn, sáu căn viên-dung tùy-thuận biến hóa đầy-đủ, cầu lửa quang-minh, muốn nước thanh-tịnh, gió ái phổ-biến, sáu trần thành-tựu, lại chấp lầm sáu trần thường-trụ, nên bị lạc vào “chấp sanh không sanh”, như những kẻ thờ-phụng lửa và nước để cầu thoát sanh-tử, bỏ tâm theo vật, lập vọng cầu nhân, nương vọng gởi quả, xa-lánh viên-thông, cách thành Niết-bàn, sanh làm chủng-tộc điên-đảo.

6/ Cứu-xét cùng-tột, hành-uẩn tiêu-lạc, sự tịch-diệt chưa tṛn, như chỗ viên-minh trong hư-không, phi diệt quần-hóa, quy-y nơi chỗ vĩnh-diệt, rồi sanh thắng-giải. Người đó lạc vào “chấp quy không quy”, lạc trong cơi trời vô-tưởng, bỏ mất tri-kiến, mất tánh Bồ-đề, sanh làm chủng-tộc đoạn-diệt.

7/ Cứu-xét cùng-tột, hành-uẩn tiêu-lạc, sự tịch-diệt chưa tṛn, như nơi viên-thuờng, cố-chấp thân thường-trụ, vĩnh-viễn không mất, sanh thắng-giải, người đó lạc vào vị-trí “chấp tham không tham”, cầu căn-mạng sống lâu, bỏ mất tri-kiến, lạc tánh Bồ-đề, xa-lánh viên-thông, cách biệt Niết-bàn, sanh làm chủng-tồc toàn-vọng.

8/ Cứu-xét cùng-tột, hành-uẩn tiêu-lạc, sự tịch-diệt chưa tṛn, quán-sát căn-mạng với trần-cảnh dung-thông lẫn nhau, sợ phải tiêu-hết, cố-gắng làm cho căn-cảnh bền-chắc, nơi vị-trí đó, ngồi đài Liên-hoa, biến-hóa nhiều bảo-vật, buông-lung tâm, sanh thắng-giải. Người đó lạc vào “chấp chơn không chơn”, bỏ mất tri-kiến, mất tánh Bồ-Đề, nghĩ-xét tà-vạy, lấp trần-cảnh hưng-thạnh, xa-lánh viên-thông, cách biệt Niết-Bàn, sanh làm chủng-tộc thiên-ma.

9/ Cứu-xét cùng-tột, hành-uẩn tiêu-lạc, sự tịch-diệt chưa tṛn, nơi căn-mạng sáng-tỏ, phân-biệt trong ngoài khéo vụng, chọn định chơn ngụy, nhân-quả đền-trả chỉ cần cảm-ứng, bỏ đạo thanh-tịnh, thành chỗ thấy khổ, đoạn-trừ tập-nghiệp, hành-đạo tại chỗ, không cầu tịch-diệt, sanh thắng-giài. Người đó lạc vào định-tánh Thanh-văn, sanh tăng-thượng-mạn, bỏ mất tri-kiến, lạc tánh Bồ-Đề, toàn-tâm tinh-chuyên cảm- ứng, xa-lánh viên-thông, cách biệt Niết-Bàn, sanh làm chủng-tộc ràng buộc chấp-không.

10/ Cứu-xét cùng-tột, hành-uẩn tiêu-lạc, sự tịch-diệt chưa tṛn, như chỗ viên-dung thanh-tịnh biết tỏ, phát-minh nghiên-cứu thâm-diệu, tập cảnh Niết-Bàn nhưng không cần tới, sanh thắng-giải. Người đó lạc vào định-tánh Bích-Chi, bỏ mất tri-kiến, mất tánh Bồ-Đề, thành-quả lồng-lộng sáng-tỏ nhưng xa-lánh tánh viên-thông, cách-biệt Niết-Bàn, sanh làm chủng-tộc có tánh-giác tṛn-sáng, nhưng không biến-hóa.

Mười thứ thiền-định như vậy giữa đường thành điên, mê-hoặc bên trong, chưa đủ mà cho là đủ.

Chúng-sanh mê-muội không biết, gặp cảnh hiện-tiền, mỗi thứ cố-chấp, tŕu-mến, trước lập tâm mê, sau tự thôi-dứt, tự cho rốt-ráo, nương chốn an-ổn, nói đă thành Vô-thượng, đó là đại vọng-ngữ, tà-ma ngoại-đạo, cảm lấy tử-nghiệp, rồi lạc vào địa-ngục vô-gián, dù ở địa-vị Thanh-Văn, Duyên-Giác cũng không tăng-tiến.

Như thức-uẩn hết rồi, sáu căn diệu-dụng, đóng mở thành-tựu, thấy nghe thay nhau, hằng dùng chánh-tịnh. Mười phương thế-giới và thân-căn đều như ngọc lưu-ly, trong ngoài sáng-tỏ. Hành-giả dùng sáu căn tự bên trong vào địa-vị Bồ-Tát, đắc Kim-Cang can-huệ. Đó là tu pháp thiền-định chánh-giác, dùng tánh tṛn-sáng biết tỏ, phân-tách vi-tế. Khi cảnh ma hiện ra, hành-giả phải hiểu tường-tận, tẩy-sạch ḷng nhơ-uế, không ưa tà-kiến, nên tà-uẩn tiêu-diệt, thiên-ma tan mất, quỷ thần trốn-tránh, ly-mỵ vọng-lượng không thể hiện ra. Hành-giả thẳng tới Đại-Địa Bồ-Tát, tâm không mê-muội, nhập vào Phật-Tánh.

Sự tiêu-lạc ngũ-uẩn có thể tu-tập từng bước theo pháp Tiệm-thứ như trên, hoặc tu-tập đồng thời cả năm uẩn theo pháp Đốn-ngộ sẽ được tŕnh-bày trong Phần Sáu của Tập Ba.

Pháp-môn Tiệm-tu thứ hai là 44 Bồ-Tát Hạnh của Trung-thừa Phật-Giáo. 

 

BỐN MƯƠI BỐN BỒ-TÁT HẠNH

 

Bốn mươi bốn Bồ-tát Hạnh gồm có: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hồi-Hướng, Thập Hạnh, và Tứ Gia-Hạnh.

Ở đây, xin chỉ tŕnh-bày Lư-giải của Bồ-Tát Hạnh theo Kinh Lăng-Nghiêm. Phần thực-hành quá cao-siêu, hành-giả nào phát-tâm tu-tập, hăy t́m Minh-Sư khả-kính và nguyện-cầu Phật-Pháp-Tăng gia-hộ cho.

Căn-bản đầu-tiên là phải ngăn-trừ Sát, Đạo, Dâm, Vọng. Giữ chặt-chẽ thân-tâm-ư xa-ĺa bốn cái nhiễm đó. Thân đùng động-phạm vào dâm. Tâm không khởi sát, đạo. Ư không theo các vọng. Hằng giữ các giới-cấm. Khi giới-cấm đă thành-tựu, th́ dù ở thế-gian nhưng không bao-giờ phạm, th́ không có ǵ hệ-lụy.

Tất-nhiên không có nợ túc-trái chi phải đền trả.

Người tu pháp Tam-ma-địa ấy, với cái thân do cha-mẹ sanh ra, tự-nhiên cũng thấy thế-giới mười phương, thấy Phật, nghe pháp. Tự ḿnh gần-gũi, vâng Thánh-Chỉ, đặng đại thần-thông, đi khắp mười phương quốc-độ, đắc túc-mạng thông, biết quá-khứ vị-lai.

Những người giữ giới-cấm thanh-tịnh như vậy, th́ trong tâm không tham, không dâm. Đối với sáu trần ở ngoài, không lưu-dật quá đổi, tự xét lại nơi nguyên-chơn. Như thế là trần ngoài chẳng duyên, căn trong không chỗ đối, sẽ tự-nhiên ngược ḍng dục-nhiễm, thành một thể tinh-minh, tác-dụng của sáu căn cũng không thể hiện-hành được nữa. Người đó, t́nh-thương ư-muốn đă khô-kiệt, trong căn ngoài cảnh không phối-hợp nhau, tàn-chất tuy c̣n nhưng chẳng nối sanh nữa, giữ tâm được rỗng-không sáng-suốt, thuần-thi trí-huệ, huệ-tánh viên-minh, tỏ rạng mười phương thế-giới, thành-tựu được can-huệ gọi là Can-Huệ-Địa. V́ tập-khí ái-dục mới khô-ráo, chưa được cùng nước pháp-lưu của Như-Lai tương-tiếp.

 

THẬP-TÍN

 

1/ Người tu-hành đă được tâm can-huệ, dùng tâm ấy tập-trung vào ḍng pháp-lưu, khiến cho tâm được mở-mang viên-dung thắng-diệu. Khi ấy ḷng tin thường-trụ, các vọng-tưởng dứt sạch, chỉ một trung đạo viên-thông thuần-nhát chân-thật, gọi là Tín-Tâm-Trụ.

2/ Chân-tín đă sáng-tỏ rồi, cả 18 giới căn-trần-thức không thể ngăn-ngại. Hành-giả nhớ lại được tất cả sự xả-thân, thọ-thân trong vô-số kiếp, nên gọi là Niệm-Tâm-Trụ.

3/ Tâm thắng-diệu viên-dung đă thuần-nhất chân-thật, th́ chân-tinh phát-sanh, nghĩ nhớ không quên sót, th́ vô-thủy tập-khí phải tiêu, thông vào một thể tinh-minh, nhờ đó tinh-tấn đến địa-vị chân-tịnh, nên gọi là Tinh-Tấn-Tâm.

4/ Tâm-tinh hiện-tiền, trí-huệ thuần-thục, nên gọi là Huệ-Tâm-Trụ.

5/ Ǵn-giữ trí-sáng, vắng-lặng trong-sạch, tâm-thể tịch-diệu, thường không xúc-động, thành-tựu đại-định, nên gọi là Định-Tâm-Trụ.

6/ Định-quang phát-sáng, tánh-sáng thâm-nhập, tăng-tiến không thối, nên gọi là Bất-Thối-Tâm.

7/ Tâm tăng-tiến an-nhiên, cầm-giữ chẳng mất, giao-tiếp với khí-phần, nên gọi là Hộ-Pháp-Tâm.

8/ Bảo-tŕ sự minh-giác, dùng diệu-lực xoay lại hào-quang của Phật, an-trụ nơi tâm Phật, phản chiếu diệu-cảnh trùng-trùng, nên gọi là Hồi-Hướng-Tâm.

9/ Hào-quang vi-mật hồi-chiếu, được tâm-thể thường-tịch bất-động, an-trụ vô-vi, không sót mất, nên gọi là Giới-Tâm-Trụ.

10/ Trụ-giới tự-tại, dạo khắp mười phương, được như-nguyện, nên gọi là Nguyện-Tâm-Trụ.

 

THẬP TRỤ

 

1/ Dùng phương-tiện chân-thật phát-sanh mười thứ tín-tâm, tâm tinh-thuần phát-huy diệu-dụng, thành-tựu nhất-tâm, nên gọi la Phát-Tâm-Trụ.

2/ Tự-tâm phát-sáng, như ngọc lưu-ly trong-sạch hiện rơ vàng ṛng, nươn theo diệu-tâm luyện thành tâm-địa, nên gọi là Tŕ-Địa-Trụ.

3/ Tâm và địa hiệp nhau, liễu-ngộ rơ-ràng, dạo khắp mười phương, không chi trỏ-ngại, nen gọi là Tu-Hành-Trụ.

4/ Hạnh đồng với Phật, thọ được khí-phần của Phật, nhập vào ḍng Như-Lai, nên gọi là Sanh-Quy-Trụ.

5/ Đă vào ḍng Như-Lai, như thai đă thành, h́nh-tướng không thiếu, có đủ phương-tiện như Phật, nên gọi là Phương-Tiện-Cụ-Túc-Trụ.

6/ Dung-mạo đà giống như Phật, th́ tâm-tướng cũng đồng, nên gội là Chánh-Tâm-Trụ.

7/ Thân-tâm hiệp thành thân Phật, ngáy cáng tăng-trưởng, nên gọi là Bất-Thối-Trụ.

8/ Đầy-đủ được mười loại thân linh-tướng (Phật thân, Pháp thân, Báu thân, Hoá thân, Nguyện thân, Trí thân, Bồ-đề thân, Trang-nghiêm thân, Oai-thế thân, Ư-sanh thân), nên gọi là Đồng-Chơn-Trụ.

9/ Mười thân đă đầy-đủ, làm thân Phật-tử, nên gọi là Pháp-Vương-Tử-Trụ.

10/ Đến lúc thành nhân, như Thái-tử được Đại-vương phân-uỷ cho việc trị nước, quán-đảnh công việc, nên gọi là Quán-Đảnh-Trụ.

 

THẬP HẠNH

 

1/ Sau khi thành Phật-Tử rồi, đầy-đủ diệu-đức của Như-Lai, tùy-thuận độ khắp mười phương chúng-sanh, nên gọi là Hoan-Hỉ-Hạnh

2/ Làm lợi-ích cho tất-cả chúng-sanh, nên gọi là Nhiêu-Ích-Hạnh

3/ Tự-giác, giác tha, đắc vô-vi, nhẫn-nhục, nên gọi là Vô-Sân-Hận-Hạnh.

4/ Hiện ra các loại chúng-sanh, đến cùng-tận đời vị-lai, vượt cả thời-gian và không-gian, nên gọi là Vô-Tận-Hạnh.

5/ Hiệp-đồng tất-cả pháp-môn, không một sai-lầm, nên gọi là Ly-Si-Loạn-Hạnh.

6/ Trong một pháp đồng, hiện ra các pháp khác, một tướng là các tướng, các tướng là một tướng, viên-dung vô-ngại, nên gọi là Thiện-Hiện-Hạnh.

7/ Mười phương thế-giới hiện trong một vi-trần, một vi-trần gồm cả mười phương thế-giới, hiện vi-trần hiện thế-giới, dung-thông lẫn nhau không lưu-ngại, nên gọi là Vô-Trước-Hạnh.

8/ Các thứ biến-hiện đó thuộc về trí-huệ rốt-ráo đă đến bờ kia, nên gọi là Tôn-Trọng-Hạnh.

9/ Nhờ viên-dung mà thành được phép-tắc của chư Phật nên gọi là Thiện-Pháp-Hạnh.

10/ Nhất-thiết đều chân-tịnh vô-lậu, thuần-chơn vô-vi, nên gọi là Chân-Thật-Hạnh.

 

THẬP HỒI-HƯỚNG

 

1/ Người tu ấy đầy-đủ thần-thông, đă thành Phật-sự, trong-sạch tinh-chơn, lúc độ chúng-sanh không thấy tướng người độ hay kẻ được độ, hồi-tâm vô-vi, thẳng đường đến Niết-Bàn, nên gọi là Cứu-Hộ Nhất-Thỉết Chúng-Sanh, Ly Chúng-Sanh Tướng Hồi-Hướng.

2/ Hoại-diệt các tướng nên hoại-diệt, xa-ĺa các tướng nên xa-ĺa, gọi là Bất-Hoại Hồi-Hướng.

3/ Tánh-giác trong-sạch đồng với cái giác của Phật, nên gọi là Đẳng Nhất-Thiết Phật Hồi-Hướng.

4/ Bổn-giác tinh-chơn phát ra diệu-dụng, tâm-địa đồng như Phật-địa, nên gọi là Chí Nhất-Thiết Xứ Hồi-Hướng.

5/ Thế-giới và Như-Lai tương-nhập lẫn nhau, không ngăn-ngại, nên gọi là Vô-Tận Công-Đức-Tạng Hội-Hướng.

6/ Tâm-địa đă đồng với Phật-địa, nơi địa phát-sanh nhân chân-tịnh, nhờ đó phát-huy đạo Niết-Bàn, nên gọi là Tùy-Thuận B́nh-Đẳng Thiện-Căn Hồi-Hướng.

7/ Chân-căn b́nh-đẳng đă thành, th́ chúng-sanh là bổn-tánh của ta. Tánh thành-tựu viên-măn nhưng không mất chúng-sanh, nên gọi là Tùy-Thuận Đẳng-Quán Nhất-Thiết Chúng-Sanh Hồi-Hướng.

8/ Tâm tức là tất-cả pháp, nhưng ly tất-cả tướng, tức với ly đều không dính-mắc, nên gọi là Chân-Như-Tướng Hồi-Hướng.

9/ Đă đắc chân-như, mười phương không ngăn-ngại, nên gọi là Vô-Phược Giải-Thoát Hồi-Hướng.

10/ Tánh-đức đă viên-thành, pháp-giới không c̣n hạn-lượng, nên gọi là Pháp-Giới Vô-Lượng Hồi-Hướng.

 

TỨ GIA-HẠNH

 

Người tu đó thành-tựu 40 tâm, rồi tiếp theo sẽ thành-tựu 4 Gia-Hạnh diệu-viên.

1/ Lấy giác-quả của Phật làm tâm-giác của ḿnh, nhưng chưa hiểu rơ, như cây dùi vào lửa nhưng chưa bốc cháy, nên gọi là Noăn-Địa.

2/ Nơi tâm của ḿnh, hiện giáo-lư Phật-pháp, như nương vào mà chẳng phải nương vào, giống người trên núi cao nhập vào hư-không nhưng chân c̣n ngăn-ngại, nên gọi là Đảnh-Địa.

3/ Tâm đă đồng với Phật, chứng được trung-đạo thiện-xảo, nhẫn-nhục độ sanh, không oán không dứt, nên gọi là Nhẫn-Địa.

4/ Các niệm về số-lượng không c̣n, sự mê và giác trung-đạo cũng không, nên gọi là Thế Đệ-Nhất Địa.

Hành-giả thiền-định viên-măn 44 hạnh Bồ-Tát trên là đă đầy-đủ công-đức Nhập vào Phật-Tánh.

Phần Sáu trong Tập Ba sẽ viết về các pháp tu của Đại-Thừa Phật-Giáo từ khi Nhập Phật-Tánh từng-phần đến khi thành Phật.

 

 

 

    Đón đọc kỳ tới      

      

 

 

 

 

GS Trần Cao Tần
Tiến Sĩ Toán học

Pháp-danh: Chánh-Đạt

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com