www.ninh-hoa.com



 

 

 

Siêu Khoa Học Tôn Giáo - Vũ Trụ Quan

Giáo Sư Trần Cao Tần

 

Lời Giới Thiệu

PHẦN MỘT-PHẦN HAI

Chân Lư -
Vũ Trụ H́nh Thành

PHẦN BA

Vũ Trụ Ta Bà  1 | 2

PHẦN BỐN

Đường Giác Ngộ

  Kỳ 1    2   |   3

Kỳ  4   |   5 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 


SIÊU KHOA HỌC TÔN GIÁO

Tiểu Thừa Và Trung Thừa Phật Giáo

GS Trần Cao Tần
Tiến Sĩ Toán học

Giáo sư Toán Đại học Loras tại Iowa, Hoa Kỳ
 

    

 

TẬP 2:
PHẦN BỐN

ĐƯỜNG GIÁC NGỘ

SIÊU KHOA HỌC TÔN GIÁO

 

 

Từ 2600 năm trước, Phật đă cảnh-giác loài người về thời-kỳ Mạt-Pháp. Để cứu-vớt chúng-sanh ra khỏi các đường tà, Phật đă đề ra BÁT-CHÁNH-ĐẠO chỉ cho loài người theo đúng Chánh-Đạo trong bất cứ thời-kỳ nào và xă-hội nào. Đó là CHÁNH-KIẾN, CHÁNH-TƯ-DUY, CHÁNH-NGỮ, CHÁNH NGHIỆP, CHÁNH-MẠNG, CHÁNH-TINH-TẤN, CHÁNH-NIỆM, CHÁNH-ĐỊNH.

Xin lược nơi đây những tánh-chất Đạo-Đức của Bát-Chánh-Đạo theo bộ PHẬT-HỌC PHỔ-THÔNG do Thầy Thích Thiện-Hoa giảng-dạy tại Saigon vào những năm 1970.

 

CHÁNH-KIẾN

Chánh-tri-kiến là thấy-nghe-hay-biểt một cách ngay thẳng, công-minh, đúng với sự thật khách quan. Người có chánh-kiến thấy như thế nào th́ nhận đúng như thế ấy, không lấy trắng làm đen, xấu làm tốt, dở làm hay, hay trái lại. Sự nhận-xét của người ấy không bị tập-quán, thành-kiến, dục-vọng ngăn-che hay làm sai-lạc. Người có chánh-kiến biết phân-biệt cái nào giả, cái nào thật. Khi đă biết cảnh giả th́ mắt không chăm, tâm không chú. C̣n khi rơ biết cảnh-vật thật, lời-lẽ chân, th́ chuyên-tâm vào sự lư chân-thật làm cho đèn huệ sáng ngời, tiền-trần không phương che-ám được.

 

CHÁNH-TƯ-DUY

Tư-duy là suy-nghĩ, nghiệm-xét; nó thuộc về ư-thức. Chánh-tư-duy là suy-nghĩ, nghiệm-xét chânchính, tư-tưởng đúng với lẽ phải.

Người tu theo pháp chánh-tư-duy, thường xét-nghĩ đạo-lư cao siêu, suy-t́m thể-tánh nhiệm-mầu, biết xét những hành-vi lỗi-lầm, những ư-nghĩ xấu-xa để sám-hối, biết suy-nghĩ về Giới, Định, Hụê để tu giải-thoát, biết suy-xét vô-minh là nguyên-nhân đau-khổ, là nguồn-gốc của tội-ác, và t́m phương-pháp đúng-đắn để tu-hành hầu giải-thoát cho ḿnh và cho người.

 

CHÁNH-NGỮ

Chánh-ngữ là lời nói chân-thật, công-b́nh, ngay-thẳng, và hợp lư.

Người tu theo pháp chánh-ngữ không bao giờ nói sai sự thật, không thiên-vị, không xuyên-tạc, nghe một đường nói một ngả. Người theo chánh-ngữ rất thận-trọng lời nói; trước khi muốn nói ǵ phải suynghĩ coi có lợi-ích và chân-thật không. Những lời nói đúng lư, hợp lẽ có lợi-ích cho toàn-thể chúng-sanh là chánh-ngữ nên nghe theo và tập nói cho đúng như thế.

 

CHÁNH-NGHIỆP

Chánh-nghiệp là hành-động, việc làm chân-chánh, đúng với lẽ phải, phù-hợp với chân-lư, có lợiích cho khắp chúng-sanh.

Người theo đúng chánh-nghiệp, luôn-luôn thận-trọng, giữ-ǵn mọi hành-động của ḿnh, để khỏi làm tổn-hại đến quyền-lợi, nghề-nghiệp, địa-vị, danh-giá, hạnh-phúc, tánh-mạng của người khác. Hơn nữa, người theo đúng chánh-nghiệp bao-giờ cũng tôn-trọng lương-tâm nghề-nghiệp của ḿnh, luôn-luôn hành động có lợi cho mọi người, mọi vật; và nếu cần có thể hy-sinh quyền-lợi hay tánh-mạng của ḿnh để giải thoát nỗi đau-khổ cho người khác. Theo đúng chánh-nghiệp cũng là dùng trí-huệ quán-tưởng những pháp chân-chánh, hoặc ngồi thiền, niệm Phật, hoặc tŕ-tụng kinh-hành, để giữ-ǵn thân, khẩu, ư ba nghiệp thanh-tịnh.

 

CHÁNH-MẠNG

Chánh-mạng là sanh-sống một cách chân-chánh bằng nghề-nghiệp lương-thiện, trong-sạch của ḿnh. Chánh-mạng là sống một cuộc đời ngay-thật, không gian-tham, không làm giàu trên mồ-hôi nước mắt của người khác, không làm cho người và vật phải đau-khổ v́ nghề-nghiệp của ḿnh. Chánh-mạng là sống một cuộc đời ư-nghĩa lợi ḿnh, lợi người, xứng với bát cơm ḿnh ăn, manh áo ḿnh mặc.

Người theo chánh-mạng sống đúng chánh-pháp, không mê-tín dị-đoan, lấy tịnh-giới làm thể, lấy trí-huệ làm mạng, an-vui với chánh-pháp.

 

CHÁNH-TINH-TẤN

Chánh-tinh-tấn là chuyên-cần, siêng-năng làm việc chánh-nghĩa, lợi-lạc cho ḿnh cũng như cho người và vật.

Người theo đúng chánh-tinh-tấn bao giờ cũng hăng-hái sửa ḿnh, cương-quyết bài-trừ những điều ác, quyết-tâm phát-triển những hạnh lành, dũng-mănh tiến lên trên dường đi đến giải-thoát cho đến khi nào đạt được kết-quả cao-quí, cùng-tột ấy mới thôi.

Chánh-tinh-tấn là tạo nghiệp vô-lậu xuất-thế-gian, lấy chánh-trí làm mănh-lực, lấy Niết-Bàn làm chỗ quy-hướng, một ḷng chẳng trễ, quyết gắng công-phu, định thành đạo-quả, để trước tự-độ, sau hoá-độ chúng-sanh.

 

CHÁNH-NIỆM

Chánh-niệm là tưởng-nhớ đến những điều hay lẽ phải, những điều lợi-lạc cho ḿnh và cho người, những đạo-lư chân-chánh cao-siêu.

Chánh-niệm có 2 phần:

1/ Chánh-ức-niệm là nghĩ nhớ các lỗi-lầm để thành-tâm sám-hối, nghĩ nhớ đến ơn cha mẹ, ơn Tổ- quốc, ơn Phật, ơn Pháp, ơn Tăng để lo báo-đền

2/ Chánh-quán-niệm là niệm Từ-Bi để thương-xót cứu-độ chúng-sanh, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng để khai-mở trí-huệ hiểu được thật-nghĩa và ngộ-nhập được Phật-tánh Bảy pháp-môn trên có tánh-cách phổ-quát áp-dụng cho mọi người cũng như tất-cả chúng-sanh nào muốn học-tập con đường siêu-việt, và chuẩn-bị để tiến lên pháp môn cao nhất là Chánh-Định.

 

CHÁNH-ĐỊNH

Pháp-môn Chánh-Định là pháp-môn Giải-Thoát khỏi ṿng luân-hồi sanh-tử, chỉ những bậc có căn-cơ rất cao mới vào được.

Những ai tu được Chánh-Định sẽ đắc quả A-La-Hán hay Duyên-Giác hay Bồ- Tát tùy theo công-đức tu-hành của nhiều kiếp trước. 

Những ai giữ được Ngũ-Giới, không sát-sanh, không tà-dâm, không trộm-cắp, không nói dối, không say rượu hay ghiền thuốc là đă bắt đầu thực-hành Bảy Chánh Đạo.

Ai làm được Thập-Thiện, không sát-sanh, không tà-dâm, không trộm-cắp, không vọng-ngữ, không ỷ-ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không tham, không sân, không si, là đă tiến một bước cao trên Bảy Chánh Đạo nhưng chưa đến pháp Chánh-Định cao nhất.

Khi một người định-tâm hay định-ư theo Ngũ-Giới hay Thập-Thiện, đó chỉ là Thiện-định, chưa phải là Chánh-định.

 

Trong Phần Ba, đă thấy hai con đường Sa-Đọa và Siêu-Việt. Theo đúng Bát-Chánh-Đạo là bước trên con đường Siêu-Việt từ chỗ Sa-Đọa khổ-sở cùng-cực tiến lên các thánh quả. Tiến lên tức là trở về nguồn-gốc Phật-Tánh. Con đường Siêu-Việt trở về ngôi nhà Phật-Tánh gồm có năm giai-đoạn là:

 

1/ Giữ Ngũ-Giới để xóa-bỏ sự Sa-Đọa trong cuộc sống đầy tội-lỗi đau-khổ, trở về giai-đoạn Nhiễm-Trược nhẹ-nhàng hơn

 

2/ Hành Thập-Thiện để xóa-bỏ Nhiễm-Trược cho thân-tâm trở về sự Thanh-Tịnh

 

3/ Tu Tứ-Diệu-Đế là tu cho thân-tâm được Thanh-Tịnh. Khi đă thật-sự Thanh-Tịnh là đắc quả ALa- Hán vuợt khỏi nghiệp-chướng Sanh-Tử

 

3*/ Tu Thập-Nhị Nhân-Duyên để xóa-bỏ nghiệp-lực của Vô-Minh cho thân-tâm Thanh-Tịnh, vượt khỏi ṿng Luân-Hồi thành quả Duyên-Giác. Hai thánh quả A-La-Hán và Duyên-Giác tương-đồng nhau, cùng vượt khỏi ṿng Luân-Hồi Sanh-Tử, nhưng theo hai phương-pháp khác nhau. Cả hai cùng đưa thân tâm đến chỗ thật-sự Thanh-Tịnh. Nghĩa là Ngũ-Trược đă được gột-rửa hoàn-toàn để thành lại Ngũ-Uẩn Thanh-Tịnh. Cái ṿng Luân-Hồi Sanh-Tử do ngũ-trược tạo ra, nay ngũ-uẩn đă hết ô-nhiễm nên thoát ṿng Luân-Hồi Sanh-Tử của nghiệp-chướng. Hai pháp tu Tứ-Diệu-Đế và Thập-Nhị Nhân-Duyên là Tiểu-Thừa Phật-Giáo. Đó là giai-đoạn Thanh-Tịnh trên con đường Siêu-Việt.

 

4/ Tu Thiền-định để tiêu-lạc ngũ-uẩn từng giai-đoạn của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, tiếp đó sẽ tu Lục-Độ.

 

4*/ Tu 44 Bồ-Tát Hạnh để tiến lên Thập-Địa Bồ-Tát. Hai pháp-môn Tiệm-Thứ về Tiêu-Lạc Ngũ- Uẩn và 44 Bồ-Tát Hạnh thuộv về Trung-Thừa Phật-Giáo. Đó là giai-đoạn Như-Thị để tiến lên chỗ Ngộ- Nhập Phật-Tánh.

 

5/ Tu Lục-Độ là Bố-Thí, Tŕ-Giới, Nhẫn-Nhục, Tinh-Tấn, Thiền-Định và Trí-Huệ theo pháp-môn Bát-Nhă Ba-La-Mật. Đây là giai-đoạn Như-Lai-Tạng-Thức cao-siêu cùng-tột cũa Đại-Thừa Phật-Giáo. Như-Lai-Tạng-Thức là gốc-rễ của Tỉnh-Ngộ và Vô-Minh. Nơi đây trụ vào các Đại-Định sâu-thẳm nhất sẽ Ngộ-Nhập Phật-Tánh. Sự ngộ-nhập Phật-tánh xảy ra từng phần qua 10 giai-đoạn của Thập-Địa Bồ-Tát. Khi vào được địa thứ 10 là thành Phật nhưng vẫn chưa toàn-giác. Vị Phật này sẽ cứu-độ vô-lượng chúng-sanh, dần-dần thành-tựu quốc-độ, hiện-bày Phật-Pháp. Đến khi thành-tựu viên-măn quốc-độ, chúng-sanh và Phật-pháp là thành Phật Toàn-Giác như Phật Thích-Ca cách đây 2600 năm.

 

Kiếp sống hiện-tại là kết-quả của phúc-tội và công-đức tu-hành của vô-lượng kiếp về trước. Tùy theo các công-đức đó mà trong kiếp này khi đă hiểu và ngộ Phật-Pháp sẽ thích-ứng với một trong các-giaiđoạn siêu-việt trên để tiếp-tục con đường siêu-việt trở về ngôi nhà Phật-Tánh.

Các pháp-môn Ngũ-Giới và Thập-Thiện giúp cho con người được an-vui hạnh-phúc, nhưng vẫn c̣n bị nghiệp-lực lôi-kéo trong sáu cơi luân-hồi. Đó là hai giai-đoạn 1/ và 2/ trên con đường siêu-việt. Nếu không thực-hành hai giai-đoạn này th́ không-thể tiến lên những giai-đoạn cao hơn. Pháp-môn Thập-Thiện cao-siêu hơn Ngũ-Giới ở ba diểm căn-bản này là: Không Tham, Không Sân, Không Si. Không Tham-Sân là tu về Tâm. Không Si là tu về Ư. Muốn diệt Tham, cần làm việc Bố-Thí. Muốn diệt Sân, cần phải biết nhẫn-nhục. Muốn diệt Si, phải học hiểu Phật-Pháp.

 

Bố-thí của người làm thâp-thiện là bố-thí tài-vật và công-sức giúp người hay công-quả giúp chùa, và nếu biết về Phật-pháp th́ có thể khuyên người khác làm Phật-sự, lễ Phật, tụng kinh. Nhưng chưa có thể bố-thí pháp, hay bố-thí vô-uư, hay cao tột là bố-thí ba-la-mật. Những tŕnh-độ bố-thí này là công-hạnh của chư thánh và bồ-tát. Nhẫn-nhục của thập-thiện là ḷng bao-dung tha-thứ và sẵn-sàng giúp-đỡ, không oánthù, chưa đến mức độ của vô-thường, hư-giả, hay ba-la-mật. Học-hiểu Phật-Pháp của người hành thập-thiện là học-hỏi kinh sách nơi những người thật-sự hiểu-biết đúng-đắn kinh-sách, hay tụng-đọc Kinh Phật dù chưa hiểu nghĩa cũng có phúc-đức, không đọc những kinh-sách của các tà-đạo, nhưng nếu có nghe có đọc th́ cần phải có trí sáng-suốt suy-nghĩ để thấy đúng sai. Đùng bao-giờ rơi vào sự mê-tín mù-quáng. Thập thiện chưa đến tŕnh-độ khai-mở mật-nghĩa của kinh-pháp để tự ḿnh tu giải-thoát.

 

Đến đây cũng cấn nói rơ thêm về Tứ-Thiền, thường được gọi là Thiền Ngoại-Đạo v́ Tứ-Thiền sẽ đưa hành-giả lên các cơi trời dục-giới và sắc-giới, nhưng chưa đến được quả thánh A-La-Hán, nghĩa là chưa thoát được ṿng sanh-tử luân-hồi và hoàn-toàn chưa đến được Ngũ-Uẩn-Giai-Không để ngộ-nhập Phật-Tánh. V́ người tu tứ-thiền vẫn c̣n tâm thế-gian, hoặc thiện hoặc ác, nhờ nơi sự định-tâm và định-ư rất sâu nên được nhiều phước và nhiều năng-lực. Do đó mà được lên các cơi trời. Những ai có thiện-tâm th́ sẽ thành những vị trời thiện-phước, c̣n những kẻ có ác-tâm sẽ thành những ma-vương trên các cơi trời.

 

Những loài ma-vương sẽ tung-hoành phá-khuấy thế-gian và các cơi trời bằng nhiều cách đến khi hết phước bị đọa xuống làm ngạ-quỷ hay xuống địa-ngục. Những vị trời thiện-phước cứu-giúp chúng-sanh và tu dần lên những cơi trời cao hơn, khi công-đức đầy-đủ sẽ tiến thẳng lên các thánh quả.

Những ai không tu Tứ-Thiền nhưng phát-tâm và thực-hành đầy-đủ Thập-Thiện cũng sẽ lên các cơi trời tiếp-tục làm thiện-phước cứu-thế-gian. Khi công-đức đầy-đủ cũng sẽ đạt được thánh-quả.

 

TỨ-DIỆU-ĐẾ

THẬP-NHỊ NHÂN-DUYÊN

 

Sau khi thành-đạo, Phật dùng Phật-Nhăn quan-sát khắp pháp-giới, và trong 10 ngày Phật thuyết Kinh Hoa-Nghiêm cho vô-lượng Bồ-Tát. Măi về sau Phật mới nói lại Kinh Hoa-Nghiêm cho Ông A-Nan để ghi-chép truyền lại hậu-thế.

 

Sau thời Hoa-Nghiêm Phật bắt đầu thuyết Tứ-Diệu-Đế cho các đê-tử người ở thế-gian. Trong Phần Ba, có nói rằng Tứ-Diệu-Đế là một biện-chứng-pháp tứ-đoạn-luận đầy-đủ gồm có Tiền-Đề--Chính Đề-- Phản-Đề--Hợp-Đề. Ai cũng biết rằng biện-chứng-pháp thiếu-sót của triết-lư Tây-phương là tam-đoạnluận Chánh-Đề--Phản-Đề--Hợp-Đề mà Hegel đă khai-triển trong thuyết Duy-tâm Biện-Chứng, rồi Marx đă chụp lấy để làm thành Duy-vật Biện-chứng. Cả hai thuyết duy-tâm biện-chứng và duy-vật biện-chứng đều không đúng. Duy-tâm biện-chứng biện-minh cho giáo-lư về Sáng-Tạo dựa trên những quyển kinh-sách mang rất nhiều sai-lầm, do đó có kẻ tự xưng ḿnh là tiên-tri xúi-giục người đời giết-hại lẫn nhau. Duy-vật biện-chứng đẻ ra chủ-nghĩa cọng-sản, một chủ-nghĩa sai-lầm đă đưa nhiều dân-tộc vào chỗ đau-khổ tàn khốc và cuối-cùng hoàn-toàn thất-bại. Cách đây 2600 năm Phật đă dùng biện-chứng-pháp tứ-đoạn-luận hoàn-hảo để làm thành giáo-lư Tứ-Diệu-Đế Khổ--Tập--Diệt--Đạo. Tiền-đề Khổ chỉ là một phương-tiện để cứu-vớt chúng-sanh khỏi biển-khổ trầm-luân rồi dẫn chúng-sanh đến Chánh-Đạo. Đừng hiểu lầm rằng Phật-giáo là đạo Khổ. Đừng lầm-lẫn phương-tiện với cứu-cánh, hiện-tượng với bản-chất. Vũ-trụ Ta-Bà là ô-trược. Đó là sự thật. Sự ô-trược làm cho những kẻ si-mê bị phiền-năo. Những ai hiểu được nghiệp do chính ḿnh tạo ra rồi tỉnh-ngộ sẽ thấy rằng ḿnh có-thể thay-đổi nghiệp của ḿnh để cho cuộc đời hạnhphúc an-vui, th́ c̣n đâu sự khổ, lo-sợ nữa. Hăy đọc lại phần nói về Tưởng-trược làm thành Phiền-năo trược. Và đó là Luật Vô-Tánh. Các pháp thế-gian đều vô-tánh, th́ phiền-năo do chính tâm ḿnh nghĩ-tưởng ra mà thôi. Diệt được phiền-năo là đi đến chỗ vô-tánh, từ đó trụ nơi Chánh-Định sẽ thoát ṿng luân-hồi sanh-tử.

 

Do nơi tâm ô-trược làm ḿnh cảm-thấy khổ (Tiền-đề). Cái khổ đó do tâm ḿnh huân-tập nghiệp chướng (Chánh-đề). Như vậy, ḿnh phải diệt-trừ nghiệp-chướng của chính ḿnh (Phản-đề). Muốn diệt hết nghiệp-chướng để thoát ṿng luân-hồi sanh-tử phải theo đúng Chánh-Đạo (Hợp-đề). Như thế, cứu-cánh (Hợp-đề Chánh-Đạo) của Tứ-Diệu-Đế đâu phải chỉ là diệt khổ, mà là theo đúng Chánh-Đạo để đạt được thánh-quả A-La-Hán. Nhiều người không hiểu thấu Mật-nghĩa này của Tứ-Diệu-Đế, nên đă luận-giải lầm giáo-lư, do đó có sự chia-rẽ trong các phái tu của Phật-Giáo. Có người tự cho rằng ḿnh theo Phật-Giáo Nguyên-Thủy và nói sai-lầm rằng A-La-Hán tức là Phật; khi đắc quả A-La-Hán là đă thành Phật. Những kẻ đó nếu không tỉnh-ngộ, sám-hối những mê-lầm và học-hỏi đúng nghĩa của giáo-lư, th́ sẽ thành loài chồn cáo trong kiếp tới.

 

Phật cũng có dạy rằng sau này Phật Di-Lạc sẽ từ cung trời Đâu-Xuất giáng xuống trần kiếp cuốicùng. Ngài sẽ toàn-giác và thành-tựu giáo-pháp của Ngài. Ngài cũng sẽ bắt đầu thuyết Tứ-Diệu-Đế, nhưng với tiền-đề là SẮC CHẲNG PHẢI KHỔ CHẲNG PHẢI LẠC, rồi từ đó sẽ thành lập Chánh-Đề, Phản-Đề và Hợp-Đề. Ngài cũng sẽ thuyết Tam Thừa nghĩa là ba tŕnh-độ của sự giải-thoát nhưng giáo-lư của Ngái sẽ khác hơn giáo-lư của Phật Thích-Ca đă giảng-dạy 2600 năm trước. Dù Phật giảng Tam Thừa, nhưng pháp nào cũng CHỈ THẲNG CHÂN-LƯ, tùy theo căn-cơ của chúng-sanh mà thấu-hiểu và thấm-nhuần được bao nhiêu. Nơi cùng một lời nói của Phật, người th́ ngộ được A-La-Hán, người th́ ngộ được Duyên-Giác, người th́ ngộ được Bồ-Tát. Như Phật Thích-Ca đă nói trong Kinh Pháp Hoa, Phật ra đời như vầng mây lớn tuông mưa xuống thấm-nhuần tất-cả các cây. Cây nhỏ thấm-nhuần theo sức nhỏ, cây vừa thấm-nhuần theo sức vừa, và cây lớn thấm-nhuần theo sức lớn.

 

Hỡi loài người và tất-cả chúng-sanh hăy vui-mừng chờ-đợi ngày Phật giáng-trần sắp đến!

Bây-giờ hăy đi sâu vào bản-chất của pháp-môn Tứ-Diệu-Đế. Tu Tứ-Diệu-Đế là bưóc-đầu của Chánh-Định. Và pháp môn này đi thẳng đến chỗ phá-bỏ Luật Sanh-Tử, cùng tiêu-trừ Mạng-Trược v́ mạng trược lôi-kéo chúng-sanh trong nghiệp-chướng sanh-tử. 

Nghiệp và Vô-Minh là hai mặt gắn liền nhau. Định-Tâm là xóa-bỏ nghiệp-chướng. Định-Ư là soisáng các lớp vô-minh. Khi tâm thanh-tịnh trong-sáng, th́ nghiệp-lực không c̣n chỗ nào để lôi-kéo. Khi trí tuệ sáng-suốt hiểu-biết các pháp, th́ không c̣n các lớp vô-minh che-lấp. 

 

Cho nên, người tu quả A-La-Hán muốn xóa nghiệp sanh-tử, cần phải Định-Tâm. C̣n người tu Duyên-Giác muốn soi-sáng vô-minh, cần phải Định-Ư. Nhưng tâm và ư không tách-rời nhau, nên như đă thấy trong Phần Ba, hoặc Định-Tâm làm chánh lấy Định-Ư làm phụ, hoặc Đinh-Ư làm chánh lấy Định-Tâm làm phụ. Những ai định-tâm thật sâu mà không phát-huy được trí-huệ, dù có đắc quả A-La-Hán, cũng chỉ là Độn A-La-Hán, cứ bị kẹt măi ở cảnh-giới Không, Vô-Tướng, Vô-Tác mà không tiến cao lên được nữa. Những Bích-Chi Phật cũng là những vị ra đời không gặp Phật-Pháp, nh́n nước chảy lá rơi mà lắng tâm đến chỗ hoàn-toàn lặng-lẽ không c̣n bị nghiệp-chướng luân-hồi lôi-kéo, nhưng không phát-huy được trí-huệ nên cũng bị kẹt ở cảnh-giới lặng-lẽ đó hoài.

 

 

 

 

 

GS Trần Cao Tần
Tiến Sĩ Toán học

Pháp-danh: Chánh-Đạt

 

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com