www.ninh-hoa.com



 

 

 

Siêu Khoa Học Tôn Giáo - Vũ Trụ Quan

Giáo Sư Trần Cao Tần

 

Lời Giới Thiệu

PHẦN MỘT-PHẦN HAI

Chân Lư -
Vũ Trụ H́nh Thành

PHẦN BA

Vũ Trụ Ta Bà  1 | 2

PHẦN BỐN

Đường Giác Ngộ

  Kỳ 1    2   |   3

Kỳ  4   |   5 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 


SIÊU KHOA HỌC TÔN GIÁO

Vũ Trụ Quan
GS Trần Cao Tần
Tiến Sĩ Toán học

Giáo sư Toán Đại học Loras tại Iowa, Hoa Kỳ
 

    

 


PHẦN BA

VŨ-TRỤ TA-BÀ

 

Phần ba này viết về sự h́nh-thành và cấu-tạo của Vũ-Trụ Ta-Bà mà loài người đang sống trong đó. Như đă thấy, các vi-tử nhỏ nhất tác-động lẫn nhau để cấu-thành vật-chất và tâm-linh, nghĩa là h́nh-thành thế-giới vật-chất và thế-giới tâm-linh. Khi nói rằng các vi-tử cấu-thành vật-chất th́ nhiều người hiểu và chấp-nhận dễ-dàng, v́ các khái-niệm khoa-học về nguyên-tử, phân-tử, điện-tử v.v. đều quen-thuộc với mọi người. Nhưng khi nói các vi-tử cấu thành tâm-linh, th́ người ta ngạc-nhiên thắc-mắc. 

 

Xin nhắc lại rằng Năng-Lực Trầm-Lặng của Cảnh-Giới Siêu-Việt đă hiện ra thành năng-lượng vôbiên của vũ-trụ. Các vi-tử nhỏ nhất chính là các vi-tử của năng-lượng đó. Các vi-tử vừa-động-vừa-tịnh, vừa-liên-tục-vừa-gián-đoạn. Trạng-thái tịnh-liên-tục biến năng-lượng thành thế-giới tâm-linh, và trạng-tháiđộng- gián-đoạn biến năng-lượng thành thế-giới vật-chất. Năng-lượng biến thành hai loại năng-lượng âm và và năng-lượng dương. Thế-giới tâm-linh là thế-giới của năng-lượng âm, c̣n thế-giới vật-chất là của nănglượng dương. Khoa-học ngày nay đă bắt đầu khám-phá ra năng-lượng âm, nhưng c̣n sơ-cấp chưa thể hiểu được rằng đó là năng-lượng của cả thế-giới âm gắn-liền với thế-giới dương này.

 

Một sư-vật h́nh-thành đ̣i-hỏi một thời-gian rất dài. Một thí-dụ nhỏ về nắn một bức tượng cần nhiều ngày tháng từ đất bùn đến khi quét men và nung nấu. Một thí-dụ khác về một người cứ tưởng-tượng về một vị Phật ngự trên đầu ḿnh. Trong nhiều năm liên-tục tưởng-tượng như thế người đó bắt đầu thấy một h́nh-ảnh Phật ở trên đầu ḿnh mỗi khi tập-trung tư-tưỏng. Rồi tiếp-tục tưởng-tượng, vài năm sau nữa,  mỗi lần tâp-trung người đó thấy rơ-ràng một tượng Phật ngự trên đầu ḿnh. 

V́ các vi-tử vừa là vật vừa là tâm, trong vật có tâm và trong tâm có vật, cho nên tư-tưởng ảnh hưởng hành-động của thể-xác, và hành-động cũng ảnh-hưởng đến tâm-linh. 

Từ khi không-gian, thời-gian, năng-lượng và các vi-tử xuất-hiện, phải qua một thời-gian rất dài để các vi-tử tác-động lẫn nhau, từ-từ phân-chia ra hai loại vi-tử tâm-linh và vi-tử vật-chất. Các vi-tử tâm-linh cũng c̣n mang tính vật-chất trong đó, cũng vậy các vi-tử vật-chất c̣n mang tính tâm-linh trong đó. 

Với thời-gian biến-đổi lâu-dài, các vi-tử vật-chất dần-dần kết-cấu với nhau làm thành những vi-tử vật-chất ngày càng phức-tạp, như khoa-học ngày nay khám-phá ra được một số. Các vi-tử tâm-linh dần-dần kết nhau làm thành tâm-linh mà đến ngày nay loài người vẫn chưa biết ǵ hơn. Thậm-chí cả thế-giới tâmlinh vẫn c̣n là một huyền-bí hoàn-toàn đối với khoa-học hiện-đại. 

 

Trong thế-giới vật-chất, người ta thấy-biết và đo-lường được năng-lượng và vật-chất dưong. Trong thế-giới tâm-linh loài người hoàn-toàn chưa biết đến năng-lượng và tâm-linh âm một cách “khoa-học”. 

Các sự kết-hợp của vi-tử dần-dần tạo-thành h́nh-tướng và thể-chất. Đó là tiến-tŕnh biến-đổi của năng-lượng thành h́nh-tướng và thể-chất. Cả vật-chất và tâm-linh bắt-đầu có h́nh-tướng và thể-chất. Đến giai-đoạn này, các h́nh-thể vật-chất và tâm-linh xuất-hiện. Khi gặp những điều-kiện nghiệp-lực thích-hợp với nhau, các h́nh-thể tâm-linh KẾT-HỢP với các h́nh-thể vật-chất làm thành SỰ SỐNG trong thế-giới vật-chất. Đó là sự sống của các chất hữu-cơ, của thực-vật, của động-vật, và của loài người trong thế-giới vật-chất. Trong thế-giới tâm-linh có sự sống phi-vật-chất, đó là sự sống của các loài trong địa-ngục, của ngạ-quỉ, của súc-sanh, của thần-tiên và các vị trời. 

 

Đến điểm này, cần nói rơ về SÁU CƠI trong Vũ-Trụ Ta-Bà: Cơi Địa-ngục, Cơi Ngạ-quỷ, Cơi Súc sanh, Cơi Thần Atula, Cơi Người và Cơi Trời. Cơi Địa-ngục có 10 tầng đầy-dẫy đau-khổ. Cơi Trời gồm có ba: Cơi Trời Dục-giới, Cơi Trời Sắc-giới, Cơi Trời Vô-sắc-giới. Tất cả các cơi này h́nh-thành do nơi nghiêp-lực của tất-cả chúng-sanh trong Vũ-Trụ Ta-Bà và đó là h́nh-thái cấu-tạo đặc-thù của Vũ-Trụ này. Các vũ-trụ khác có h́nh-thái cấu-tạo khác. Muốn hiểu được nghiêp-lực của chúng-sanh, cần phải hiểu về NGŨ-UẨN, tức là năm uẩn SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, và THỨC.

 

NGŨ-UẨN

 

Trong Phần Hai có nói rằng sau khi tâm-linh và vật-chất đă có h́nh-thể trong hai thế-giới, và khi đă hội đủ diều-kiện th́ một h́nh-thể tâm-linh sẽ kết-hợp với một h́nh-thể vật-chất do nghiệp-lực tương- ứng để làm thành một sinh-vật trong thế-giới vật-chất này. H́nh-thể tâm-linh là cái TÂM và h́nh-thể vật chất là THÂN-XÁC của sinh-vật. Cái tâm trong thân-xác phóng ra để liên-hệ với ngoại-cảnh, do các nhucầu đó nên h́nh-thành 6 căn, tức là Mắt để Thấy, Tai để Nghe, Mũi để Ngửi, Lưỡi để Nếm, Thân để Xúc- Chạm, và Óc để Nghĩ. C̣n một căn thứ bảy nữa là Tim để Xúc-Động. Do các căn nên có sáu thức: Nhănthức, Nhĩ-thức, Khứu-thức, Vị-thức, Xúc-thức, Ư-thức. Và thức thứ bảy là Mạt-Na-thức. C̣n một thức thứ tám trùm-khắp cả bảy thức kia tức là A-Lại-Da-thức. V́ thức A-Lại-Da rất thâm-sâu và khó hiểu, nên trong Kinh Lăng-Nghiêm e rằng chúng-sanh không hiểu rồi sinh phỉ-báng phải bị đoạ địa-ngục, Phật chỉ nói lựợc qua trong một bài kệ. Đọc-giả có thể hiểu rằng cái trạng-thái nguyên-thủy của vũ-trụ cũng như trạng-thái thiền-định thâm-sâu gồm có hai mặt Mê và Ngộ. Về mặt ngộ của trạng-thái đó là Như-Lai-Tạng, c̣n về mặt mê là A-Lại-Da-thức. Trong Kinh Lăng-Nghiêm, để chỉ cho chúng-sanh con đường Giác-Ngộ và đừng bị lạc vào tà-đạo, Phật chỉ nói về Như-Lai-Tạng. Phật đă dùng phương-pháp bản-thể-luận để chỉ rơ cả 25 Đại (sẽ giải-thích tiếp-theo sau) cũng như toàn-thể vũ-trụ đều từ Như-Lai-Tạng do Vô-Minh mà hiện ra. Ai đi vào được ĐẠI-ĐỊNH thâm-sâu và thật-sự hiểu được Thật-Nghĩa này, liền do một Niệm Ngộ phá được Vô-Minh và thấy được Thật-Tánh. Đó là pháp Đốn-Ngộ của Đại-Thừa Phật-giáo. Đó chính là yếu-chỉ của Thiền-Tông. 

 

Do nơi sáu căn mà vọng-tâm bên trong hướng ra bên ngoài để liên-hệ với ngoại-cảnh. 

Làm thế nào sự liên-hệ đó xảy ra được? 

Sự liên-hệ này là một tiến-tŕnh tâm-lư qua năm giai-đoạn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, và Thức. 

 

Hăy xem trường-hợp của con Mắt nh́n một vật bên ngoài. Trước-tiên, con mắt thấy cái Sắc tức là cái Tướng của vật đó. Từ cái sắc-tướng đó chuyển qua cái Thọ tức là cái cảm-nhận về sắc-tướng. Rồi tiếp theo là cái Tưởng tức là cái ư-tưởng về cái sắc-tưóng và cái cảm-nhận kia. Từ cái Tưởng, chuyển qua cái Hành tức là sự liên-hệ của Sắc-Thọ-Tưỏng của con Mắt với các căn khác cùng với các kư-ức, và với mọi cái thấy nghe hay biết đă có và đang có của tất cả các căn để cuối-cùng tổng-hợp thành cái Thức tức là cái thấy nghe hay biết đầy-đủ trong hiện-tại về cái vật đang nh́n.

 

Các căn khác cũng qua các tiến-tŕnh tâm-lư tương-tự như vậy. Trong cuộc sống, mỗi giây phút chúng-sanh luôn-luôn sống trong sự tổng-hợp của các tiến-tŕnh tâm-lư năm giai-đoạn của các căn.

 

Nghĩa là vừa thấy, vừa nghe, vừa ngửi, vừa nếm, vừa xúc-chạm, vừa nghĩ, và vừa xúc-cảm để làm thành cái tâm-thức thấy nghe hay biết hiện-tại. 

Ở trên vừa nói về tiến-tŕnh tâm-lư sắc-thọ-tưởng-hành-thức của một cá-nhân. 

Đối với cả một loài chúng-sanh cùng có những tiến-tŕnh tâm-lư cùng loại như nhau nên cái thấy nghe hay biết của cùng một loài có những cái chung giống nhau. Lấy thí-dụ một cái bàn bằng gỗ. Đối với loài người th́ đó là cái bàn dùng để đồ-đạc trên đó hay để viết hay để ăn cơm. Nhưng đối với loài kiến, th́ đó đâu phải là cái “bàn” như cái thấy biết của loài người, có thể đó là một xứ-sở rông-lớn của loài kiến. Đối với loài mọt, th́ đó là chỗ trú-ngụ vừa là lương-thực cho chúng. Điều đó được gọi là CỌNG-NGHIỆP của từng loài. Trong cái cọng-nghiệp chung của một loài vẫn có cái biệt-nghiệp riêng của mỗi cá-nhân trong loài đó. Thí-dụ, nhiều người đàn ông cùng nh́n một đàn bà. Có người chiêm-ngưỡng sắc-đẹp một cách vô tư. Có người khởi tâm muốn chiếm-đoạt. Có người lạnh-lùng không ưa-thích. Có người căm-ghét v́ nhân t́nh phản-bội. 

Nếu nh́n năm uẩn theo cọng-nghiêp, th́ năm uẩn là năm yếu-tố cùng tồn-tại và tác-động lẫn nhau.

 

Và Sắc tức là mọi h́nh-tướng kể cả ngoại-cảnh và thân-xác của ḿnh. Thọ Tưởng Hành Thức làm thành cái tâm-thức của ḿnh. Cho nên người ta thường nói sắc là thân, và thọ-tưởng-hành-thức là tâm. Đó là cái nh́n theo cọng-nghiệp.

Sự sống của con người luôn-luôn đi theo hai tiến-tŕnh tâm-lư: một tiến-tŕnh tư-duy và một tiếntŕnh cảm-xúc. Hai tiến-tŕnh này không phải lúc nào cũng song-song cùng cường-độ. Có khi tiến-tŕnh tưduy khai-triển mạnh, và có thể che-lấp cả tiến-tŕnh cảm-xúc. Có khi ngược lại, cảm-xúc khai-triển mạnh đến nỗi che-lấp cả lư-trí. Thường th́ lư-trí và t́nh-cảm hỗ-trợ lẫn nhau trong cuộc-sống của chúng-sanh. 

 

Ở đây, xin nói vài điều ngắn-gọn về sự tu-hành. Để an-định hai tiến-tŕnh tư-duy và cảm-xúc, có hai phương-pháp căn-bản là QUÁN và CHỈ. Quán là tu về Trí và Chỉ là tu về Tâm. Cả hai phương-pháp Quán và Chỉ đều phải có Định: Định-ư và Định-tâm. Cần phải hiểu rằng Định không phải là đè-nén ư-nghĩ hay tâm-niệm của ḿnh, bởi v́ đè-nén ư-nghĩ và tâm-niệm cũng giống như lấy đá đè cỏ có trừ-diệt được cỏ đâu. 

 

Nói về Định-ư có nhiều mức-độ. Đối với sự sống hằng ngày định-ư là sự tập-trung tư-tưỏng để nghĩ về một vấn-đề. Đối với sự tu theo Tiểu-thừa là tập-trung nơi một vật bên ngoài hay một niệm bên trong. Một phương-pháp căn-bản để định ư là ĐẾM HƠI THỞ VÀ TẬP-TRUNG HOÀN-TOÀN NƠI SỰ ĐẾM ĐÓ CHO ĐẾN KHI TẤT CẢ PHIỀN-NĂO LO-LẮNG ĐỀU LẮNG HẾT như ly nước giữ cho thật yên-lặng th́ cặn-đục đều lắng hết xuống đáy ly. C̣n đối với Đại-thừa th́ Định-ư là BUÔNG-XẢ tất cả ưnghĩ để giữ sự trong-sáng, yên-tĩnh, khi một ư-nghĩ nào khởi ra cứ nhẹ-nhàng buông-xả, đừng để các ư nghĩ lăng-xăng lôi-kéo ḿnh chạy nhảy chỗ này, chổ khác và có thể rơi vào loạn-tưởng. 

Định-tâm theo Tiểu-thừa là CHÚ-TÂM NƠI MỘT NIỆM VỀ PHẬT-PHÁP, chẳng hạn như niệm Từ-Bi, đừng để các niêm khác xen-lẫn vào tâm ḿnh. Theo Đại-thừa Định-tâm là LY TẤT CẢ CÁC NIỆM trong tâm, giữ tâm cho thanh-tịnh, an-lạc đừng cho các niệm tham, sân, si xô-đẩy ḿnh vào chỗ giao-động, hoặc đưa đến si-mê điên-đảo. Pháp tu Tịnh-Độ là Định Tâm ở câu niệm Phật: “Nam-Mô A-Di-Đà Phật” cho thật thanh-tịnh và nhất-tâm không để bất-cứ một niệm nào khác xen-lẫn vào suốt một ngày cho đến bảy ngày, và luôn-luôn nguyện về Vũ-Trụ Cực-Lạc của Phật Di-Đà. Hành-giả nào niệm Phật nhất-tâm như vậy chắc-chắn sẽ được Phật rước về Cực-Lạc. Vị nào phát-nguyện về Cực-Lạc hăy tin-tưởng vững-chắc và thực-hành như vậy sẽ được toại-nguyện. Nếu tâm-ư c̣n khởi bất-cứ một niệm nghi-ngờ nào, kết-quả sẽ không được trọn-vẹn. 

 

Về hai phương-pháp Quán và Chỉ, tùy theo căn-cơ của mỗi người và cũng tùy theo giai đoạn tu hành, có thể tu hẳn về Quán hay Chỉ, hoặc tu cả hai nhưng lấy Quán làm gốc Chỉ làm phụ, hay lấy Chỉ làm gốc Quán làm phụ. Thựng th́ Tâm và Trí hỗ-trợ lẫn nhau. Khi tâm thanh-tịnh sẽ làm cho trí-huệ sáng-suốt HƠN. Khi trí sáng-suốt sẽ hiểu-biết các pháp sâu và rơ HƠN, nhờ đó đưa tâm đến chỗ thanh-tịnh sâu và tṛn-khắp HƠN. Tâm thanh-tịnh hơn lại giúp cho trí sáng-suốt HƠN NỮA. Trí sáng-suót hơn lại giúp cho tâm thanh-tịnh HƠN NỮA. Và như thế tiếp-tục để tâm càng ngày càng thanh-tịnh và trí càng ngày càng sáng-suốt. Cho đến một lúc KHAI-MỞ RA MẬT-NGHĨA CỦA KINH-PHÁP. Khi đă khai-mở được mật nghĩa th́ Trí-Huệ Tự-Nhiên của ḿnh sẽ thấy rơ CHÁNH-PHÁP và hiểu rơ những lời Phật dạy trong kinh.

 

Nên hết-sức cẩn-thận ở chỗ này, theo lời Phật dạy trong Lăng-Nghiêm, khai-mở được mật-nghĩa chưa phải là đă chứng-thánh. Nếu nghĩ rằng ḿnh đă chứng-thánh sẽ bị loài ma dựa-nhập đưa ḿnh vào tà-đạo rồi sinh ra điên-cuồng. Trong Kinh Viên-Giác, ngoài Quán và Chỉ, Phật c̣n dạy phương-pháp Thiền-Na, gọi tắt là Thiền. Đó là pháp tu Định cả Tâm lẫn Ư. Điều vừa nói ở trên là đại-cương của Thiền. Khi đă khai-mở được mật-nghĩa, sẽ hiểu được v́ sao Phật nói là đừng vội tin những lời Phật dạy, hăy theo đúng chánh-pháp mà tu-hành đến khi hiểu và thấy đúng như thế rồi hăy tin. Và đến đây sẽ tự ḿnh thấy được cái chánh và cái tà trong thế-gian, rồi theo chánh mà tu và hành-động để giúp đời sửa-đổi và phá-bỏ cái tà.

 

HAI MƯƠI LĂM ĐẠI

TÁNH-KHÔNG

 

Ở phần trên đă thấy ngũ-uẩn là tiến-tŕnh tâm-lư của sáu căn, nhờ đó mà con người thấy, nghe, hay biết mọi vật trong vũ-trụ, trong châu-thân và trong tâm ḿnh. Nếu một cái ǵ đó mà ta không thấy, nghe, hay biết th́ cái đó là KHÔNG CÓ đối với ta. Như vậy ta biết vũ-trụ, biết ḿnh và chúng-sanh là nhờ nơi ngũ-uẩn. Cho nên toàn-thể vũ-trụ và chúng-sanh đều do nơi thức mà hiện ra. 

Để đơn-giản cách nói, xin dùng danh-từ “ư-thức” để chỉ sự thấy-nghe-hay-biết, và dùng chữ “trần” để chỉ vật mà ta ư-thức được.

 

Khi dùng một căn để ư-thức một vật, có 3 yếu-tố liên-hệ nhau là: căn, trần và thức. Khi con mắt nh́n cái bàn, th́ mắt là căn, cái bàn là trần, và cái thấy biết về cái bàn là thức. Căn, trần, thức gọi là ba đại thuộc về nhăn-căn. Do có sáu căn nên có cả thảy 18 đại (cũng gọi là 18 giới), cọng với bảy đại (Địa, thủy, phong, hoả, hư-không, kiến và thức) làm thành 25 đại. Hai mươi lăm đại này là những yếu-tố cấu-thành tấtcả vũ-trụ. Như đă biết, các đại này đều từ Như-Lai-Tạng mà hiện ra. Khi nói từ Như-Lai-Tạng hiện ra, có nghĩa là các đại không có tánh-chất cố-định chung cho tất cả mọi loài. Tất-cả mọi vật hay tâm đều do ưthức mà thấy-nghe-hay-biết được. Nhưng ư-thức rất khác nhau từ loài này qua loài khác, vậy th́ những tánh-chất mà các loài ư-thức được đều khác nhau, nghĩa là không có tánh-chất nào là thật cả. V́ không có tánh-chất nào là thật, nên gọi là KHÔNG-TÁNH. Nhưng tất-cả đều có một tánh chung là TÁNH-KHÔNG tức là cái tánh-chất không có một tánh-chất cố-định nào cả. Cần hiểu rơ rằng Tánh-Không là Toàn-Tánh của tất-cả vũ-trụ, nhưng chưa phải là THẬT-TÁNH, v́ nó vẫn c̣n là Thức trùm khắp tức là A-Lại-Da Thức. Thật-Tánh vượt khỏi cả A-Lại-Da Thức để trở về Chơn-Minh Diệu-Giác. Đây là điều vô-cùng khó hiểu. Ai quán-chiếu được thật sâu về Ngũ-Uẩn Giai-Không sẽ hiểu được điều này và do một niệm ngộ sẽ đạt được thật-tánh liền được Phật thọ-kư. 

Trong Kinh Lăng-Nghiêm, tuân theo lời Phật, 25 vị thánh đại-biểu cho những vị đă chứng-thánh lần-lượt tŕnh chỗ sở-ngộ của ḿnh. Mỗi vị nơi một trong 25 đại quán-chiếu sâu-thẳm trở về tận Như-Lai- Tạng rồi do một NIÊM NGỘ mà đắc quả A-La-Hán hay Bồ-Tát tùy theo căn-cơ đă tu-hành trong nhiều kiếp trước. Đấy là pháp tu đốn-ngộ cho những ai có căn-cơ cao-siêu do nhiều kiếp trước đă tu-hành. 

 

Để giúp cho những người căn-cơ trung-b́nh trong giai-đoạn tiêu-lạc ngũ-uẩn, Phật cũng chỉ rơràng pháp TIỆM-TU trong Kinh Lăng-Nghiêm. Tôi chỉ xin nói lưọc qua trong phạm-vi phần viết về vũ-trụ-quan này. Khởi đầu phải tu để tiêu-lạc SẮC qua 10 mức thiền-định. Tiếp đó là tu để tiêu-lạc THỌ qua 10 mức thiền. Cứ tiếp-tục tu tiêu-lạc 10 mức thiền về TƯỞNG, HÀNH, và THỨC. Đến khi đă tiêu-lạc được THỨC rồi, người tu đă hoàn-thành NGŨ-UẨN GIAI-KHÔNG và chuyển qua tu LỤC-ĐỘ theo Bát-Nhă Ba-La-Mật, tức là bước vào Bồ-Tát Địa được Phật thọ-kư. Những mức độ tu này vô-cùng cao-siêu. Ở thờikỳ Phật tại-thế, có vô-số vị đă đắc những quả tu này. Nhưng ở thời-kỳ MẠT-PHÁP hiện-tại, t́m trên trái đất này có mấy ai đă đắc-quả! Trong quá-khứ ở nhiều xứ như India, Tibet, China, và Việt-Nam nhiều vị tu đắc-quả và đă để thân-xác lại cho đời sau nghiệm thấy rơ-ràng chân-lư của Đạo Phật. Riêng tại Việt-Nam, trong ngôi chùa ĐẬU ở miền Bắc cách Hà-Nội khoảng 30 cây-số, c̣n thờ thân-xác của hai thiền-sư Việt- Nam trong chánh-điện. Rất nhiều Phật-tử Việt-Nam và ngoại-quốc đă đến cúng-lạy hai vị Thánh tại chùa ĐẬU. Tác-giả là một trong rất nhiều người đă cúng-lạy hai vị Thánh Việt-Nam. Trong Kinh Lăng-Nghiêm, Phật có dạy rằng ai tu thanh-tịnh và tiêu-lạc được THỌ, th́ TÂM CÓ THỂ L̀A THÂN, nghĩa là vị đó TỰ- TẠI với sự sống và sự chết, có thể tùy-ư làm cho tâm ĺa thân rồi nhập lại vào thân, hay nhập-diệt và để thân-xác lại cho đời sau thấy đó mà tin-hiểu Đạo-Pháp. 

 

ÂM-SINH VÀ DƯƠNG-SINH

SỰ SỐNG VÀ SỰ CHẾT

 

Phần trên có nói về Ngũ-Uẩn tạo thành cái thức thấy, nghe, hay, biết của chúng-sanh. Trong vũ-trụ này do biến-hoá của thức, nên tất cả mọi vật và tâm luôn-luôn thay-đổi không ngừng. Nên nhớ lại từ đầu về sự h́nh-thành của vũ-trụ do năng-lượng với các vi-tử chuyển-động, kết-hợp nhau làm thành tâm và vật trong một quá-tŕnh tiến-hóa rất dài ngoài sự hiểu-biết của con người. Khi các h́nh-thể tâm và vật bắt đầu đươc cấu-tạo, SỰ SỐNG NÓI CHUNG ĐĂ BẮT ĐẦU. Sự sống đ̣i-hỏi sự tương-giao giữa các h́nh-thể với nhau và với chung quanh.

 

Do đó bắt đầu xuất-hiện các uẩn tâm-lư phôi-thai. Các h́nh thể đă là SẮC, các sắc tương-giao nhau làm xuất-hiện THỌ. Sự thọ-cảm của các sắc dần-dần làm xuất-hiện TƯỞNG. Sắc, thọ, tưởng tác-động lẫn nhau giữa các h́nh-thể làm thành HÀNH. Rồi với thời-gian dài các yếu-tố sắc, thọ, tưởng, hành tác-hợp dung-hoà với nhau làm thành THỨC. Đến giai-đoạn này, những h́nh-thể nào đă có đủ năm yếu-tố của tiến-tŕnh tâm-lư đều có các căn để giao-tiếp với nhau và với chung quanh. 

Xin nói rơ rằng, thuyết tiến-hóa trên hoàn-toàn không phải là thuyết tiến-hoá của Darwin. V́ đây là sự tiến-hoá của cả tâm và vật do nơi các lớp vô-minh nối-tiếp tạo thành các nghiêp-lực. Và chính các nghiệp-lực này biến-đổi các h́nh-thể tâm và vật từng bước biến-chuyển thành những cá-thể ngày càng đầy đủ các bộ-phận của thân cũng như của tâm. Thuyết tiến-hoá của Darwin dựa trên sự ngẫu-nhiên xuất-hiện các sự thay-đổi của một sinh-vật để trở-thành một giống mới. Thuyết tiến-hoá ở đây dựa trên nghiệp-lực.

 

Lấy một thí-dụ để chỉ về nghiệp-lực. Lư-lịch của một người bao gồm tất cả những học-vấn, sinh-hoạt, chuyên-môn, kinh-nghiệm đeo theo người đó suốt cuộc đ̣i. Nghiệp cũng giống như vậy, bao-gồm tất cả những suy-nghĩ, sinh-họat tốt hay xấu về cả hai mặt tâm-linh và vật-chất đeo theo chúng-sanh suốt một kiếp sống này, rồi xô-đẩy chúng-sanh sang một kiếp sống khác. Thuyết tiến-hoá này không phải là thuyết Định-Mệnh theo đó tất-cả mọi việc trong cuộc sống đều đă được an-bài, và con người chỉ đóng vai-tuồng theo một vỡ tuồng đă soạn sẵn mà thôi. V́ nghiệp do chúng-sanh đă tạo trong quá-khứ và đang tiếp-tục tạo ra trong hiện-tại. Cái nghiệp đang tạo ra trong hiện-tại có thể làm thay-đổi cái quả của các nhân quá-khứ.

 

Có hai loại nghiệp thiện và ác. Những việc thiện sẽ làm cho nghiệp nhẹ đi, trong khi nghiệp ác làm cho nghiệp nặng-nề thêm. Nghiệp thiện tạo nên PHÚC, nghiệp ác tạo nên TỘI. Hễ có nhiều phúc hơn tội, th́ cái quả phải trả cho các nghiệp quá-khứ sẽ nhẹ bớt đi và ngay hiện-tại được hưởng phúc nhiều hơn. Hễ hiện-tại tạo thêm tội, th́ phải trả nhiều quả đau-khổ hơn. Đến khi chuyển kiếp nhiều phúc sẽ lên những cơi cao hơn như các cơi trời, c̣n nếu có nhiều tội sẽ bị đoạ xuống làm súc-sanh, hay ngạ-quỉ, hay xuống địa ngục.

 

Đấy là LUẬT NHÂN-QUẢ. Hăy tin-tưởng những điều THẬT này, làm thiện tránh ác, làm tốt tránh xấu để gặt những quả lành ngay trong cuộc sống này và tương-lai, đừng để phải đoạ vào cảnh khổ rồi than khóc rên-siết. Hăy tự ḿnh tạo nên HẠNH-PHÚC cho ḿnh, cho gia-đ́nh và cho nhân-loại. Đùng xô-đẩy gia-đ́nh, xă-hội, và chính ḿnh vào TỘI-LỖI ĐAU-KHỔ không những trong một kiếp này mà c̣n kéo dài cho bao nhiêu kiếp sống về sau.

Sự Sống nói chung thật-sự bắt-đầu từ khi có THỌ. Rồi sự Sống ngày càng tiến-hoá theo sự tiến hoá của năm uẩn tâm-lư. Thân, tâm và các căn của các cá-thể dần-dần đầy-đủ.

Như đă thấy, trong thế-giới vật-chất có sự sống của chúng-sanh có thân-xác vật-chất và tâm-linh.

Trong thế-giới tâm-linh có sự sống phi-vật-chất của những cá-thể chỉ có tâm-thể mà thôi. Các tâm-thể sống trong thế-giới tâm-linh cũng có ngũ-uẩn, cho nên cũng sống theo hai tiến-tŕnh tư-duy và xúc-cảm theo những quy-luật của thế-giới âm. Để tiện gọi tên, xin từ đây hăy gọi những tâm-thể SỐNG trong thế-giới tâm-linh là những ÂM-SINH, và gọi những sinh-vật SỐNG trong thế-giới vật-chất là những DƯƠNG SINH.

 

Sự khác-biệt rơ-ràng giữa dương-sinh và âm-sinh là dương-sinh có thân-thể vật-chất với tâm-linh, c̣n âm-sinh có thân-thể tâm-linh phi-vật-chất Sự sống trong hai thế-giới đều do nơi ngũ-uẩn. Các âm-sinh cũng như dương-sinh đều có các căn, qua đó ngũ-uẩn làm thành hai tiến-tŕnh tư-duy và cảm-xúc theo những quy-luật riêng của hai thế-giới âm và dương.

Có người cảm-thấy ngạc-nghiên về sự tŕnh-bày ở trên về hai thế-giới, v́ có thể do thói quen suy nghĩ nên cho rằng hai thế-giới này khác hẳn và cách-biệt nhau. Không phải như thế. Hăy tạm-dùng ngôn ngữ toán-học về không-gian, th́ hai thế-giới âm và dương là hai tiểu-không-gian hoàn-toàn gắn-bó với nhau trong không-gian vũ-trụ. Điều này sẽ đươc viết ra đầy-đủ trong một bài khác về Lư-thuyết toán-học của vũ-trụ gồm hai thế-giới.

Sự gắn-bó của hai thế-giới âm-dương giải-thích vấn-đề “đầu-thai” làm điên đầu các nhà khoa-học.

 

Âm và dương thật ra chỉ khác nhau về NGHIỆP. Do nghiệp khác nhau làm thành hai mặt âm-dương của vũ-trụ này cũng như hai mặt xấp-ngửa của một đồng tiền không thể rời nhau. Do nghiệp mà một cá-thể ra đời trong thế-giới âm hay thế-giới dương. Sự ra đời trong thế-giới dương là sự ĺa bỏ thế-giới âm của một tâm-linh để kết-hợp với một thân-thể trong thế-giới dương. Đó là sự thay-đổi từ một kiếp sống âm qua một kiếp sống dương do nơi nghiệp-lực của cá-thể đó. Khi thân-xác của một dương-sinh tàn-lụn, cái CHẾT phải đến, tức là những điều-kiện nghiệp-lực của sự gắn-bó của tâm-linh với thân-xác đă hết, th́ TÂM L̀A XÁC do nơi nghiệp-lực xô-đẩy. Cái xác chết kia sẽ bị tan-rửa theo quy-luật tất-nhiên của vật-chất, cát-bụi trở về với cát-bụi, c̣n cái tâm-linh kia bắt đầu một cuộc sống mới trong thế-giới âm do nơi nghiệp-chướng c̣n tiếp-tục mang theo. Cuộc sống mới này sẽ như thế nào? Để biết được điều này, cần phải hiểu về Ngũ-Trược và sự cấu-tạo cũa Vũ-Trụ Ta-Bà thành sáu cơi là: Cơi Địa-Ngục, Cơi Ngạ-Quỉ, Cơi Súc-Sanh, Cơi Thần A-Tu-La, Cơi Người và các Cơi Trời.

 

NGŨ-TRƯỢC

 

Phần trên đă nói về ngũ-uẩn và sự sống trong hai thế-giới âm-dương. Sự sống của các âm-sinh hay dương-sinh đều theo hai tiến-tŕnh tư-duy và cảm-xúc do nơi các ngũ-uẩn linh-hoạt không ngừng. Sự sống tự nó có ba nhu-cầu, đó là sự SINH RA ĐỜI, sự ĂN-UỐNG, sự TRUYỀN-GIỐNG, và sự CHẾT. Đó là các bản-năng bẩm-sinh cơ-bản nhất của tất-cả các sinh-vật. Đối với một sinh-vật đang sống, sự ra đời của sinh-vật đó thuộc về quá-khứ, sư ăn-uống là nhu-cầu hiện-tại, và sự truyền-giống là chiều-hướng tương-lai.

Sự sinh và chết sẽ được nói sau này trong phần Luân-Hồi Nhân-Quả.

Hai nhu-cầu ăn-uống và truyền-giống đều do nơi ngũ-uẩn tạo ra. Đó là những nhu-cầu do bản năng đ̣i-hỏi một cách tư-nhiên. Khi các sinh-vật c̣n hành-động rất đơn-giản về sự ăn-uống và truyềngiống, th́ năm uẩn sắc-thọ-tưởng-hành-thức c̣n ở trạng-thái thanh-tịnh đơn-sơ: Đó là Ngũ-Uẩn THANH TỊNH.

Nhưng nghiệp-thức do ngũ-uẩn tạo ra càng ngày càng nhiều, và các lớp vô-minh càng ngày càng dày-đặc làm mất dần sự thanh-tịnh của ngũ-uẩn. Các bản-năng tự-nhiên về ăn-uống và truyền-giống bắt đầu thay-đổi trở-thành SÁT, ĐẠO, DÂM.

Nhu-cầu ăn-uống trở-thành TÁNH SÁT-HẠI các sinh-vật khác để thỏa-măn những đ̣i-hỏi về ăn uống ngày càng nhiều. Và cũng do các đ̣i-hỏi này mà khởi ra TÂM GIÀNH-GIỰT TRỘM-CẮP VÀ GIẾT-HẠI LẪN NHAU. Nhu-cầu truyền-giống cũng trở-thành ngày càng HAM-MUỐN VÀ CHIẾM ĐOẠT.

Bản-năng ăn-uống thiên-nhiên đă trở-thành tánh SÁT, và bản-năng truyền-giống thiên-nhiên đă trở-thành tâm DÂM. Cả hai cùng mang tánh ĐẠO tức là trộm-cắp, giành-giựt và chiếm-đoạt.

Do Sát, Đạo, Dâm làm thay-đổi hai bản-năng thiên-nhiên về ăn-uống và truyền-giống, năm uẩn thanh-tịnh trước kia đă trở-thành ô-trược, sa-đọa. Đó là NGŨ-TRƯỢC.

Trong Kinh Lăng-Nghiêm, đứng về mặt bản-thể Phật đă giảng rơ về ngũ-trược:

Sắc-trược làm thành KIẾP-TRƯỢC nghĩa là tất cả các sắc-tướng ô-trược phải biến-đổi qua bốn kiếp THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG. Từ các sắc-tướng nhỏ nhất cho đến lớn nhất đều phải trải qua bốn giai-đoạn là H̀NH-THÀNH, rồi TỒN-TRỤ trong một thời-gian dài hay ngắn, kế đến bị HỦY-HOẠI và cuối-cùng biến mất trở về KHÔNG. Đó là kiếp-trược.

Thọ-trược làm thành KIẾN-TRƯỢC nghĩa là thân và tâm của con người do nơi thọ kết-hợp lại làm thành sinh-vật có thọ-cảm. Sự thọ-cảm này do nơi tâm mà có v́ thân-xác là vô-tri. Thọ bị trược làm cho phần thanh-tịnh của tâm tức là kiến-phần bị ô-trược, cho nên gọi là kiến-trược.

Tưởng-trược làm thành PHIỀN-NĂO-TRƯỢC nghĩa là sự tưởng của con người luôn là ảo-vọng chạy theo những thú-vui thế-gian rồi khi thú-vui đă hết hoặc gặp nghịch-cảnh ngang-trái, sinh ra đau-khổ phiền-năo. Đó là phiền-năo-trược.

Hành-trược làm thành CHÚNG-SANH-TRƯỢC nghĩa là sự tác-động hỗ-tương do sát-đạo-dâm giũa các chúng-sanh với nhau tạo nên cọng-nghiệp lôi kéo chúng-sanh trong ṿng luân-hồi. Tùy nơi nghiệp ḿnh tạo ra, khi hết một kiếp sống này sẽ bị nghiệp-lực xô-đẩy đến một kiếp sống khác, và kiếp sống mới này sẽ là một sự đổi-kiêp thành một sinh-vật khác trong một của sáu cơi. Đó là chúng-sanh trược.

Thức-trược làm thành MẠNG-TRƯỢC nghĩa là cái nghiệp-thức của mỗi chúng-sanh ảnh-hưởng quyết-định đến đời sống của chúng-sanh đó. Thức-trược ảnh-hưởng đến sự sinh ra đời và mạng-sống cũng như cái chết của chúng-sanh đó, nên gọi là mạng-trược.

Đứng về mặt hiện-tượng-luận, th́ ngũ-trược làm thành NĂM ĐỊNH-LUẬT của vũ-trụ Ta-Bà và sư sống của chúng-sanh trong đó.

 

ĐỊNH-LUẬT THỨ NHẤT LÀ LUẬT VÔ-THƯỜNG. Do nơi sắc-trược, tất-cả mọi vật trong vũ trụ này đều thay-đổi, không có một vật nào là thường-trụ. Hễ có h́nh-tướng là tất-nhiên có hủy-hoại. Như đă thấy, sự thay-đổi của mọi vật đều trải qua bốn giai-đoạn thành-trụ-hoại-không gọi là Kiếp-trược. Đó là LUẬT VÔ-THƯỜNG. V́ thế-gian là vô-thường, nên khi giảng về Tứ-Diệu-Đế, từ chỗ vô-thường của thế-gian, Phật chỉ cho chúng-sanh con đường thoát khổ để tiến đến PHẬT-TÁNH THƯỜNG-TRỤ BẤT SANH-DIỆT.

 

ĐỊNH LUẬT THỨ HAI LÀ LUẬT VÔ-NGĂ. Thọ-trược làm thành cái NGĂ của chúng-sanh. Do nơi tho-cảm mà chúng-sanh tự thấy ḿnh có cái ngă của thân-tâm. Sự thọ-cảm bị ô-trược khiến cho chúng sanh CHẤP-NGĂ nghĩa là cho rằng thân-tâm ḿnh là thật có, sinh-tồn măi-măi. V́ chấp-ngă nên chấp cả thế-gian là thật có rồi tranh-đấu giành-giựt, chiếm-đoạt lẫn nhau sanh ra phiền-năo-trược. Thật ra như đă thấy ở các phần trên, tất cả các pháp trong vũ-trụ này đều là HƯ-GIẢ, do vô-minh sanh ra các vi-tử, rồi các vi-tử tác-động lẫn nhau để làm thành các h́nh-thể tâm và vật. Rồi do nghiệp-lực lôi-cuốn, tâm và vật mới kết-hợp nhau làm thành thân-tâm của chúng-sanh. Vậy th́ cái ngă của thân-tâm này chỉ là một sự kết-hợp hư-giả và thay-đổi hoài theo nghiệp-lực do chính chúng-sanh tạo ra. Không có cái ngă nào tồn-trụ vĩnh viễn không bao giờ thay đổi! Cả thế-gian này cũng thế, chỉ là một sự kết-hợp hư-giả thay-đổi hoài do nơi nghiệp-lực của tất cả chúng-sanh trong vũ-trụ này. Đó là LUẬT VÔ-NGĂ. Trong Phần Một, khi nói về Sáng-Tạo Siêu-nhiên, đă thấy rằng Cảnh-Giới Niết-Bàn là Vô-Ngă. Từ khi vũ-trụ h́nh-thành cho đến ngày nay, chúng-sanh xuất-hiện nhiều vô-cùng, nhưng cái ngă của chúng-sanh đều hư-giả. Đến khi một người tu

đến chỗ toàn-giác thành Phật sẽ nhập NIẾT-BÀN VÔ-NGĂ. Vậy th́ trước khi có vũ-trụ này cũng như trong khi vũ-trụ này tồn-trụ luôn-luôn là vô-ngă. Đến khi cuối-cùng thành Phật nhập Niết-Bàn cũng là vô ngă.

 

ĐỊNH LUẬT THỨ BA LÀ VÔ-TÁNH. Tưởng-trược làm cho Tâm của chúng-sanh vui hay buồn.

Khi tưởng ra một sự vui, th́ tâm được vui và thấy cảnh vui. Khi tưởng một điều buồn, th́ tâm sinh ra buồn, và thấy cảnh chung-quanh đều buồn. Cảnh tự nó không vui không buồn. Quán-chiếu sâu hơn th́ thấy rằng do nơi Tưởng mà chúng-sanh khoác lên các vật những TÁNH-CHẤT KHÁC NHAU tùy theo cọng-nghiệp của mỗi loài và tuỳ theo biệt-nghiệp của mỗi cá-thể. Chẳng hạn như đă thấy thí-dụ về cái “bàn” của loài người, nhưng lại là cái “nhà” của loài mọt. Cùng một cảnh, người vui thấy vui, người buồn thấy buồn. Như vậy tất cả các tánh-chất của các vật đều do cái Tưởng của chúng-sanh mà thành và cùng một vật nhưng có tánh-chất khác nhau theo từng loài tức là các vật đều không có tự-tánh. Đó là LUẬT VÔ-TÁNH. Do nơi luật vô-tánh này mà trong Kinh Lăng-Nghiêm và Kinh Bát-Nhă Ba-La-Mật, Phật đă dạy phương-pháp tu để hiểu, thấy, ngộ và nhập THẬT-TÁNH. Chữ Thật-Tánh sẽ được giải-thích trong Phần Bốn.

 

ĐỊNH-LUẬT THỨ TƯ LÀ LUẬT LUÂN-HỒI. Cọng-nghiệp của từng loài do hành-trược làm nên, và sự liên-hệ hỗ-tương giũa các chúng-sanh với nhau cũng do hành-trược chi-phối. Sự sống của chúng-sanh không phải chỉ có một kiếp rồi hết, nhưng là một chưỗi dài của vô-lượng kiếp nối-tiếp nhau làm thành LUẬT LUÂN-HỒI. Các kiếp luân-hồi này chuyển-đổi trong các cơi do nơi biệt nghiệp của chúng-sanh. Phật đă dạy rơ-ràng sự luân-hồi của chúng-sanh trong sáu cơi là một quá-tŕnh 12 giai-đoạn gọi là THẬP-NHỊ NHÂN-DUYÊN: VÔ-MINH DUYÊN HÀNH, HÀNH DUYÊN THỨC, THỨC DUYÊN DANH-SẮC, DANH-SẮC DUYÊN LỤC-NHẬP, LỤC-NHẬP DUYÊN XÚC, XÚC DUYÊN THỌ, THỌ DUYÊN ÁI, ÁI DUYÊN THỦ, THỦ DUYÊN HỮU, HỮU DUYÊN SANH, SANH DUYÊN TỬ. Vô minh tạo ra nghiệp, nghiệp chồng-chất lên nhau làm thành các lớp vô-minh ngày càng dày-đặc. Tất cả các nghiệp tạo ra từ quá-khứ cho đến giờ-phút cuối-cùng của một kiếp-sống làm thành lớp vô-minh hướng-dẫn sự luân-hồi trong kiếp-sống kế tiếp. Trong Thập-Nhị Nhân-Duyên, sự luân-hồi khởi-đầu từ lớp Vô-Minh này tác-động lên HÀNH tức là cái cọng-nghiệp ràng-buộc giữa các chúng-sanh với nhau. Khi kiếp sống của một chúng-sanh đến lúc chấm-dứt nghĩa là nghiệp của chúng-sanh đó đă chuyển-hoá đến mức phải thay-đổi kiếp-sống th́ do Hành-Trược chúng-sanh đó sẽ nhận lấy một kiếp-sống mới tương-ứng với biệt-nghiệp của

ḿnh. Luân-hồi do chính nhân-quả ḿnh đă tạo ra và bây giờ phải gánh lấy. Kiếp-sống mới có thể là một con người, hay một vị trời, hay một thần A-Tu-La, hay một con vật, hay một con quỷ, hay một tội-nhân đoạ-đày dưới địa-ngục. Phật thương-xót cho chúng-sanh si-mê nên đă dạy pháp tu về NHÂN-ĐẠO và pháp tu về THIÊN-ĐẠO trước khi dạy về THÁNH-ĐẠO.

 

Nhân-Đạo là pháp tu để kiếp sau trở lại làm người. Đó là hăy tránh làm NĂM ĐIỀU ÁC là: SÁT SANH, TÀ-DÂM, TRỘM-CẮP, NÓI DỐI, SAY RƯỢU HAY GHIỀN THUỐC. Ai giữ được không phạm vào năm điều ác này, chắc chắn kiếp sau sẽ đủ duyên-phúc để đầu-thai lại làm người.

 

Thiên-Đạo là pháp tu giữ được MƯỜI ĐIỀU THIỆN:

 

1/ Về Thân-nghiệp giữ không phạm 3 điều: KHÔNG SÁT-SANH, KHÔNG TÀ-DÂM, KHÔNG TRỘM CẮP

2/ Về Khẩu-nghiệp giũ không phạm 4 điều: KHÔNG VỌNG-NGỮ, KHÔNG Ỷ-NGỮ, KHÔNG LƯỠNG-THIỆT, KHÔNG ÁC-KHẨU

3/ Về Ư-nghiệp giữ không phạm 3 điều: THAM, SÂN, SI.

Ai giữ được 10 điều thiện trên, kiếp sau sẽ sanh lên một trong các cơi trời an-vui, và tiếp-tục làm những điều thiện để cứu-giúp các chúng-sanh khác.

Do luật luân-hồi, Phật cũng dạy về pháp tu để thoát ṿng luân-hồi. Ai quán-chiếu được luật luân hồi đến chỗ tiêu-lạc được Vô-Minh ngay trong kiếp này, sẽ phá được ṿng luân-hồi đắc quả Duyên-Giác, nhờ đó không c̣n bị nghiệp-lực lôi-kéo trong sáu cơi. Vị đó sẽ tự-tại trước sự sống và sự chết. Do nơi sự phát-nguyện, vị Duyên-Giác đó có thể ra đời nơi một cơi mà vị đó ước-nguyện để tiếp-tục tu đến chỗ ngộ-nhập Thật-Tánh.

 

ĐỊNH-LUẬT THỨ NĂM LÀ LUẬT SINH-TỬ. Cái thức quyết-định mọi sự thấy, nghe, hay, biết, cho nên quyết-định mọi tư-tưởng và hành-động tức là quyết-định sự sống của chúng-sanh. Nhưng cái thức - trược luôn-luôn sanh-diệt nên làm thành LUẬT SANH-TỬ. Do thức-trược mà mọi chúng-sanh PHẢI SANH RA ĐỜI VÀ PHẢI CHẾT. Định-luật luân-hồi chỉ về sự Sanh và định-luật sinh-tử chỉ về sự Chết.

 

Sự Chết có nghĩa là sự chấm-dứt một kiếp-sống do nghiệp-lực quyết-định. Đối với những vị đă tự-tại đối với sự sống và sự chết, th́ sự thay-đổi kiếp sống là do nơi NGUYỆN-LỰC của những vị đó. Đối với các ĐẠI BỒ-TÁT như các ngài QUAN-ÂM. THẾ-CHÍ, ĐỊA-TẠNG, VĂN-THÙ, PHỔ-HIỀN...th́ KHÔNG C̉N CẢ SỰ SỐNG VÀ SỰ CHẾT. Tuy nhiên v́ muốn hộ-pháp, nên các vị đó thị-hiện ra đời như một chúng-sanh để hành-đạo và cũng thị-hiện ra có sống và có chết. PHẬT THÍCH-CA đă thị-hiện ra KIẾP CUỐI-CÙNG trong loài người tại India 2600 năm trước. Ngài thị-hiện ra có Sanh, có Sống và có Chết như mọi con người, để giáo-hóa chúng-sanh và cuối-cùng thị-hiện NIẾT-BÀN.

 

Trên đây đă thấy năm cái trược là kiếp-trược, kiến-truợc, phiền-năo-trược, chúng-sanh-trược, và mạng-trược. Đồng thời cũng đă thấy năm định-luật của vũ-trụ Ta-Bà là luật vô-thường, luật vô-ngă, luật vô-tánh, luật luân-hồi, và luật sanh-tử. Đó là năm trược và năm định-luật trong sáu cơi đặc-thù của vũ-trụ Ta-Bà. Các trược và định-luật trên đều do nơi ngũ-uẩn bị Sát, Đạo, Dâm làm thành ô-trược để biến thành ngũ-trược. Sát, Đạo, Dâm là nguồn-gốc của mọi căn-bệnh của chúng-sanh. Từ nơi các bệnh gốc này, khởi ra các căn-bệnh khác là: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác-Kiến. Nhiều người hiểu lầm rằng hễ hết tham, sân, si là thành Phật. Cần hiểu rơ rằng tham, sân, si chỉ là những căn bệnh nổi mà cái gốc là Sát, Đạo, Dâm. Cho nên trong Kinh Lăng-Nghiêm Phật đă dạy rơ cái gốc của sự tu-hành là diệt hết Sát, Đạo, Dâm. Phật cũng dạy thêm một căn bệnh gốc nữa của người tu-hành là ĐẠI-VỌNG-NGỮ. Đó là, trên đường tu-hành sẽ có rất nhiều cái thấy được, chẳng hạn như thấy Phất hiện ra, hay thấy ḿnh có nhiều thần-thông, phép lạ, hay thấy nhiều hiện-tượng lạ, rồi có người sanh-tâm ngạo-mạn tự cho ḿnh đă thành Đại Bồ-Tát, thành Phật rồi sanh Đại-Vọng-Ngữ nói với người đời rằng ḿnh là Phật, rồi kết-nạp đồ-chúng, lập ra giáo-hội, thu-nhập tiền-bạc của-cải cúng-dường của nhiều người. Những kẻ đó là Ma-Vương nhập vào đạo giả làm người tu hành để phá đạo. Họ cũng có ma-phước nên được nhiều người sùng-bái. Nhưng ma-phước sẽ rất mau hết và họ sẽ bị đại-nạn ngay tại thế. Khi chết rồi sẽ bị xuống ĐỊA-NGỤC A-TỲ VÔ-GIÁN đau-khổ cùng-cực trong vô-lượng kiếp. Những ai v́ không biết nên theo họ, rồi cũng sẹ bị đoạ-đày khổ-sở.

Do ngũ-trược mà chúng-sanh tạo nên các nghiệp dữ và các nghiệp lành. Do đó mà có Phúc và Tội.

 

Các nghiệp ô-trược của chúng-sanh làm vũ-trụ thay-đổi. Trong hai thế-giới tâm-linh và vật-chất bắt đằu h́nh-thành SÁU CƠI khác nhau do nơi tội và phúc của chúng-sanh trong đó. Theo bước thang tội phúc từ thấp lên cao, đó là CÁC CƠI ĐỊA-NGỤC, CƠI NGẠ-QUỶ, CƠI SÚC-SANH, CƠI THẦN A-TULA, CƠI NGƯỜI, VÀ CÁC CƠI TRỜI.

 

Các cơi này khác nhau do nghiệp-lực của chúng-sanh. Các kiếp sống của chúng-sanh thay-dổi từ một cơi qua một cơi và cứ tiếp-tục thay-đổi không-ngừng do nơi tội và phúc của các chúng-sanh đó. Điều này rất rơ-ràng, v́ các cơi khác nhau trong Vũ-Trụ Ta-Bà do nơi nghiệp-lực khác nhau mà thôi. Ai đă tạo ra nghiệp nào th́ tất-nhiên phải sinh về cơi của nghiệp đó. Sự Sanh Ra Đời trong một cơi nào cũng do nơi nghiệp của chúng-sanh đă tạo ra và phải gặt lấy những kết-quả như thế.

Ai biết tỉnh-ngộ t́m cách cải-sửa nghiệp của chính ḿnh trong hiện-tại để tạo nên những nhân tốt th́ rồi sẽ gặt được những quả tốt nhờ đó sẽ được trở lên làm người hoặc lên các cơi trời hưởng sự vui vi diệu.

Kẻ nào không biết tỉnh-ngộ cứ tiếp-tục làm những điều xấu ác, th́ nghiệp-chướng càng nặng-nề thêm, kết-quả là phải bị đọa-đày nhẹ làm súc-sanh, nặng hơn làm ngạ-qủy, c̣n nặng hơn nữa sẽ xuống địa-ngục đau-khổ vô-cùng. Nào có ai muốn sẽ làm một con súc-vật, một con ác-quỷ, một tội-nhân dưới địa-ngục đâu.

      

 

 

 

 

GS Trần Cao Tần
Tiến Sĩ Toán học

Pháp-danh: Chánh-Đạt

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com