www.ninh-hoa.com



 

 

 

Siêu Khoa Học Tôn Giáo - Vũ Trụ Quan

Giáo Sư Trần Cao Tần

 

Lời Giới Thiệu

PHẦN MỘT-PHẦN HAI

Chân Lư -
Vũ Trụ H́nh Thành

PHẦN BA

Vũ Trụ Ta Bà  1 | 2

PHẦN BỐN

Đường Giác Ngộ

 Kỳ 1    2   |   3

Kỳ  4   |   5 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 


SIÊU KHOA HỌC TÔN GIÁO

Vũ Trụ Quan
GS Trần Cao Tần
Tiến Sĩ Toán học

Giáo sư Toán Đại học Loras tại Iowa, Hoa Kỳ
 

    

 

PHẦN MỘT

CHÂN-LƯ
VÔ-MINH VÀ SÁNG-TẠO

 

Đến đây hành-trang đă chuẩn-bị tương-đối đầy-đủ cho hành-tŕnh rất dài từ khởi-thủy của vũ-trụ cho đến ngày nay.

Chúng ta đă h́nh-dung biển cả ở trạng-thái hoàn-toàn tĩnh-lặng, rồi một chấn-động nguyên-thủy làm khởi ra trạng-thái vừa-tĩnh-vừa-động, chẳng-phải-tĩnh-chẳng-phải-động. Chính trạng-thái đầu-tiên này làm cho năng-lực vô-biên trầm-lặng trong biển cả bắt đầu hiện ra thành năng-lượng vô-biên của vũ-trụ.

Biển cả mênh-mông hoàn-toàn tĩnh-lặng là ví-dụ cho CẢNH-GIỚI NĂNG-LỰC VÔ-BIÊN SIÊU-VIỆT TRẦM-LẶNG. Do chấn-động nguyên-thủy, NĂNG-LỰC VÔ-BIÊN SIÊU-VIỆT TRẦM-LẶNG KIA bắt đầu hiện ra thành NĂNG-LỰC của tất cả vũ-trụ. Từ năng-lực đó mới bắt-đầu xuất-hiên các mầm-móng để h́nh-thành vũ-trụ và tất cả chúng-sanh sau này. Trước khi có chấn-đông nguyên-thủy, VŨ-TRỤ CHƯA XUẤT-HIỆN VÀ LOÀI NGƯỜI CŨNG CHƯA CÓ, cho nên cảnh-giới năng-lực vô-biên siêu-việt đó vượt khỏi mọi ư-mghĩ và lời nói của loài người.

Ở đây, chúng ta chỉ tạm dùng danh-tự “cảnh-giới năng-lực vô-biên siêu-việt” để chỉ CHÂN-LƯ vượt khỏi mọi danh-tự và tư-duy của chúng ta. Điều quan-trọng để thấu-hiểu tường-tận CHÂN-LƯ này là chúng ta đừng bị kẹt trong danh-tự và nghĩa đen của nó. Lăo-Tử nói: ‘Đạo khả đạo phi thường Đạo, Danh khả danh phi thường Danh’ cũng nằm trong cái MẬT NGHĨA đó. Phật ra đời để chỉ thẳng THẬT-NGHĨA siêu-việt tuyệt-vời, và chỉ cho chúng sanh KHAI, THỊ, NGÔ, NHẬP CHÂN-LƯ.

CHÂN-LƯ vượt khỏi mọi sự nghĩ-bàn và lời nói.

 

Khi một người đưa ngón tay chỉ mặt trăng, hăy theo hướng chỉ đó mà t́m thấy mặt trăng thật. Cái hướng chỉ đó là mật-nghĩa của sự chỉ của ngón tay, và theo hướng chỉ đó để nh́n thấy mặt trăng thật tức là thật-nghĩa. Bài viết này theo kinh Phật để chỉ CHÂN-LƯ SIÊU-VIỆT đó. Hăy theo hướng chỉ này với ḷng tin và sự hiểu-biết. Hăy lắng tâm để khai-mở trí-huệ hiểu được MẬT NGHĨA, tức là sự chỉ-bày chân-thật về Chân-Lư. Rồi với thời-gian tinh-tấn tu-tập đến khi thật sự đầy-đủ công-đúc sẽ thoạt-nhiên hiểu được THẬT NGHĨA, tức là hiểu-biết và chứng-ngộ được CHÂN-LƯ. Trước khi vũ-trụ xuất-hiện, là CẢNH-GIỚI CHÂN-LƯ SIÊU-VIỆT. Môt chấn-động đầu-tiên làm khởi ra TRẠNG-THÁI VỪA-TĨNH-VỪA-ĐỘNG CHẲNG-PHẢI-TĨNH-CHẲNG-PHẢI-ĐỘNG. Ở trạng-thái này, CẢNH-GIỚI CHÂN-LƯ SIÊU-VIỆT bắt đầu thay-đổi, bị mất đi TÍNH SIÊU-VIẸT để trở thành VÔ-MINH. Hăy gọi tính siêu-việt này là TỈNH-THỨC. Trạng-thái nguyên-thủy kia là VỪA-TỈNH-THỨC-VỪA-VÔ-MINH. Một mặt là tỉnh-thức, mặt kia là vô-minh không rời nhau. Ở trạng-thái này, một niệm NGỘ là TỈNH-THỨC, một niệm MÊ là VÔ-MINH. Trong Kinh Viên- Giác, đối với những Đại Bồ-Tát đă nhập được Viên-Giác tức là sự giác-ngộ tṛn-sáng, th́ không c̣n thấy khác-biệt giữa mê và ngộ v́ đă đến chỗ Nhất-Như. Nhưng đối chúng-sanh đang tu-học, xin hăy hết sức b́nh tâm, đừng HIỂU LẦM RẰNG VÔ-MINH là TỈNH-THỨC hay TỈNH-THỨC là VÔ- MINH. Ở trạng-thái nguyên-thủy kia, ư-nghĩa thâm-sâu là nếu trong một niệm mà NGỘ được tức th́ TỈNH-THỨC VÀ THẤU HIỂU ĐƯỢC CHÂN-LƯ. C̣n nếu không ngộ được tức là MÊ th́ bị lạc trong vô-minh.

Bây giờ hăy nói theo ngôn-ngữ phân-tích khoa-học, trạng thái nguyên-thủy này là nănglượng VỪA-TĨNH-VỪA-ĐỘNG. Cái TĨNH là thể-hiện của KHÔNG-GIAN. Cái ĐỘNG là thể-hiện của THỜI-GIAN. KHÔNG-GIAN TẠO RA H̀NH-TƯỚNG LIÊN-TỤC, và THỜI-GIAN TẠO RA CHUYỂN-ĐỘNG GIÁN-ĐOẠN. Như vậy do VÔ-MINH nguyên-thủy, KHÔNG-GIAN VÀ THỜI GIAN đă xuất-hiện. Trong không-gian và thời-gian này, có những h́nh-tướng cố-định và những h́nh-tướng thay-đổi. Sự thay-đổi tức là sự gián-đoạn. Sự gián-đoạn này là sự xuất-hiện của những hạt VI TỬ nhỏ nhất. Những vi-tử này đă xuất-hiện ngay trong trạng-thái nguyên-thủy của vô-minh. Trạng-thái này vừa-liên-tục-vừa-gián-đoạn. Điều này có nghĩa là các vi-tử nguyên-thủy nhỏ nhất này VỪA-LIÊN-TỤC VỪA- GIÁN-ĐOẠN. Đó là những hạt đầu-tiên nhỏ nhất sẽ CẤU-TẠO THÀNH TOÀN-THỂ VŨ-TRỤ. Ở trạng-thái liên-tục, các vi-tử này thể-hiện tánh TUYỆT-ĐỐI, và ở trạng-thái gián-đoạn, các vi-tử thể-hiện tánh TƯƠNG-ĐỐI. Cặp nhị-nguyên TUYỆT-ĐỐI VÀ TƯƠNG-ĐỐI làm nền-tảng cho tôn-giáo và khoahọc của loài người.

 

Đến đây chúng ta thấy rơ là TRƯỚC KHI CÓ TRẠNG-THÁI VÔ-MINH NGUYÊN-THỦY, VŨ- TRỤ CHƯA HỀ XUẤT-HIỆN. DO TRẠNG-THÁI VÔ-MINH NGUYÊN-THỦY, NĂNG-LƯỢNG XUẤT-HIỆN VỚI CÁC VI-TỬ NHỎ NHẤT VÀ TỪ ĐÓ DẦN-DẦN CẤU-TẠO THÀNH VŨ-TRỤ TỪNG GIAI-ĐOẠN CHO ĐẾN NGÀY NAY.

Từ chỗ chưa có ǵ cả, do VÔ-MINH bỗng-nhiên xuất-hiện ra các vi-tử để rồi h́nh-thành tất cả vũ trụ.

Điều đó được gọi là SÁNG-TẠO SIÊU-NHIÊN, nghĩa là SÁNG-TẠO từ cái HOÀN-TOÀN KHÔNG thành ra cái CÓ của muôn vật. Như vây SÁNG-TẠO là mặt KHÁC gắn-liền với VÔ-MINH. VÔ-MINH VÀ SÁNG-TẠO LÀ HAI MẶT GẮN-LIỀN NHAU CỦA TRẠNG-THÁI NGUYÊN THỦY CỦA VŨ-TRỤ.

Hai mặt VÔ-MINH VÀ SÁNG-TẠO đă được chỉ rơ-ràng là hai mặt bất-khả-phân của vũ-trụ.

Trong nhiều ngh́n năm nay, loài người chỉ nh́n một phía này hay phía khác, không hiểu được tính gắn-bó của VÔ-MINH VÀ SÁNG-TẠO rồi lạc vào MÊ-LẦM, chống-đối đấu-tranh lẫn nhau. Lịch-sử loài người đă ghi bao nhiêu chiến-tranh tàn-khốc do những mê-lầm tôn-giáo và ư-thức-hệ, và ngày nay đang phát-triển cuồng-bạo trên tầm-vóc quốc-tế. Kể từ đây, sự thật đă rơ-ràng. Đó là ánh-sáng hoà-b́nh trên thế-gian. 

 

CHÂN-LƯ

 

Ở trên, CHÂN-LƯ được tạm gọi là CẢNH-GIỚI NĂNG-LƯC VÔ-BIÊN SIÊU-VIỆT, vượt lên trên mọi tư-duy và ngôn-ngữ của tất-cả chúng-sanh. Chỉ những vị đă giác-ngộ mới thấy rơ-ràng cảnh-giới này và an-trụ được trong đó.

Đối với ai tâm đă thật trong-sáng và trí-huệ đă hiểu thấu-suốt các pháp, người đó ngộ-nhập được cảnh-giới CHÂN-LƯ SIÊU-VIỆT. Cảnh giới này được gọi trong kinh LĂNG-NGHIÊM là CHƠN-MINH DIỆU-GIÁC. CHÂN-LƯ SIÊU-VIỆT thị-hiện ra hai hạnh: TÂM CHƠN-MINH là TÂM HOÀN-TOÀN TRONG-SÁNG TR̉N-KHẮP, và TRÍ DIỆU-GIÁC là TRÍ-HUỆ HIỂU-BIẾT THẤU-SUỐT TẤT CẢ CÁC PHÁP. Chơn-minh và diệu-giác là hai hạnh siêu-việt mà người nào tu-tập theo đúng CHÁNH-PHÁP rồi sẽ chứng-ngộ. Vô-số các vị BỒ-TÁT và các thánh-nhân đă đắc pháp. Từ hai ngàn sáu trăm năm nay, từ khi Phật ra đời thuyết-pháp và chỉ cho chúng-sanh danh-hiệu và công-đức của các vị Phật và Bồ-Tát, đă có hằng triệu người đă thật-sự tận mắt ḿnh thấy Phật, Bồ-Tát và chư Thánh hiện ra nói pháp và cứu-độ. Tácgiả là một trong những người đó. Nếu không có những sự thị-hiên siêu-việt, và nếu không có một ai từng có những kinh-nghiệm siêu-việt, th́ có lẽ ngày hôm nay không mấy ai tin-tưởng nơi những lời Phật đă dạy. Trong kinh, Phật đă dùng ngôn-ngữ thế-gian làm phương-tiện để chỉ bày CẢNH-GIỚI SIÊU-VIỆT mà Phật đă chứng-ngộ hoàn-toàn. Cho nên Kinh Phật không phải là triết-lư hay chủ-nghĩa, mà là những lời thật để chỉ thẳng SỰ THẬT. Ai hiểu được THẬT-NGHĨA của Kinh tức là hiểu được CHÂN-LƯ. Trong Kinh Lăng-Nghiêm, Bồ-Tát Quan-Thế-Âm đă chỉ rơ-ràng từng bước tu-hành từ khi Kiến- Tánh cho đến khi đại-ngộ CHƠN-MINH DIỆU-GIÁC tṛn khắp. Trong phạm-vi bài viết về Vũ-Trụ-Quan, tác-giả chỉ tŕnh-bày những điều này để minh-chứng về Cảnh-Giới Chơn-Minh-Diệu-Giác vượt khỏi tư-duy và ngôn-ngữ của chúng-sanh, và để dẹp-tan mọi sự nghi-ngờ của một số người về Cảnh-Giới Chơn-Minh Diệu-Giác.

Có người hỏi tại sao lại có sự nghi-ngờ về Chơn-Minh Diêu-Giác? Lư-do đơn-giản là v́ Cảnh- Giới đó vượt khỏi tất-cả sự suy-nghĩ và lời nói của loài người, và con người luôn-luôn bị ràng-buộc trong tư-tưởng và hành-động của chung-quanh và chính ḿnh; do đó chỉ thấy được những h́nh-tướng đă hiện ra trong vũ-trụ mà thôi. Chơn-Minh Diệu-Giác bị Vô-Minh che-lấp, nên người ta không hiểu, không thấy được. Khi một người đă giác-ngộ, sẽ hiểu được về cảnh-giới siêu-việt đó. Và trong vũ-trụ này đă có vô-số người đă giác-ngộ, hoặc công-khai hoặc âm-thầm không ai hay biềt. Trong các kinh Phật, tùy chỗ, có khi gọi là Chơn-Minh Diệu-Giác, hay Tâm Phật, hay Chân-Như, hay Thật-Tánh, hay Phật-Tánh, hay Trí-Huệ Phật, hay Đại-Bát Niết-Bàn…Trong các giáo-lư về Sáng-Tạo, cảnh-giới đó được gọi là Cơi-Vĩnh-Hằng, hay Thiên-Đàng…

Điều khẳng-định là Cảnh-Giới đó thật-sự có và vượt khỏi Vũ-trụ này.

Phật ra đời hai ngàn sáu trăm năm trước là đấng toàn-giác đă chứng-ngộ hoàn-toàn cảnh-giới Niết- Bàn. Sau khi toàn-giác ngài đă thuyết-pháp suốt bốn mươi chín năm để chỉ rơ cho chúng-sanh về cảnh-giới Niết-Bàn và lập ra bao nhiêu phương-pháp để giúp chúng-sanh khai, thị, ngộ, nhập cảnh-giới đó. Hai ngàn năm trước, Jesus Christ cũng đă ra đời để chỉ và hứa-hẹn Cơi-Vĩnh-Hằng cho loài người.

 

VÔ-MINH

 

Trong các phần trên, những danh từ quen-thuôc với các đọc-giả Tây-phương như CHẤN-ĐỘNG, NĂNG-LỰC VÔ-BIÊN, TĨNH-ĐỘNG, KHÔNG-GIAN THỜI-GIAN, LIÊN-TUC GIÁN-ĐOẠN…được dùng để giúp cho các độc-giả có thể đi vào những vấn-đề hết-sức tế-nhị đ̣i-hỏi những hiểu-biết sâu về tư tưởng Đông phương và về Phật-giáo.

 

Cảnh-giới siêu-việt vượt khỏi tất-cả nghĩ-bàn và ngôn-ngữ của chúng-sanh. Do Chấn-Động Nguyên-Thủy làm cho cảnh-giới ấy thay-đổi qua trạng-thái vừa-tĩnh-vừa-động, từ đó xuất-hiện không-gian và thời-gian. Đồng thời cái Năng-Lực Vô-Biên Siêu-Việt Trầm-Lặng hiện ra thành năng-lực của toàn-thể vũ-trụ và xuất-hiện các hạt Vi-Tử nguyên-thủy của vũ-trụ. Như vậy chỗ bắt-đầu của vũ-trụ là Chấn-Động Nguyên-Thủy. Cần nhắc lại một lần nữa rằng, cái Chấn-Động đó đă xảy ra trước khi có vũ-trụ và loài người, cho nên không một chúng-sanh nào có thể biết được về Chấn-Động đó. V́ thế nó được gọi là VÔ- MINH. Vô-minh cũng có nghĩa là che-lấp mất Chơn-Minh Diệu-Giác. Trong kinh Viên-Giác, một vị Bồ-Tát hỏi Phật: Vô-Minh từ đâu mà có? Phật trả lời rất đơn-giản: Câu hỏi đó vô-nghĩa. V́ sao? V́ câu hỏi đó thuộc về lư-luận nhân-quả. Chúng-sanh sống trong ṿng nhânquả là một quy-luật tất-yếu của vũ-trụ, nên lư-luận của chúng-sanh luôn-luôn bị kẹt trong ṿng nhân-quả. Vô-Minh Nguyên-Thủy là chỗ chưa có vũ-trụ, nên chưa hề có nhân-quả theo lư-luận của chúng-sanh. Hăy nh́n cảnh-giới trong-sáng lúc ban ngày; nếu mang vào mắt một cặp kính đen, th́ cảnh-giới kia biến-thành đen-tối. Cũng như thế, cảnh-giới Chơn-Minh Diệu-Giác là trong-sáng siêu-việt, nhưng bị Vô-Minh che-lấp nên biến thành cảnh-giới sa-đọa của chúng-sanh trong cơi ô-trược này. Và Năng-Lực Siêu-Việt biến thành năng-lực thế-gian.

 

Hăy tự nh́n vào nội-tâm của ḿnh, mỗi người đều nhận-biết rằng một niệm vừa hiện ra rồi biến đi để một niệm khác hiện ra, rồi lại biến đi để các niệm lại tiếp-tục hiện ra rồi mất đi, sanh-diệt không bao-giờ ngừng. Giống như biển cả bị chấn-động làm sóng nổi ra, rồi các chấn-động lại tiếp-tục làm sóng nổi lên tiếp theo các sóng trước. Ví-dụ đó cho thấy rằng từ khi Vô-Minh Nguyên-Thủy khởi ra, vũ-trụ bắt-đầu xuất-hiên, rồi CÁC LỚP VÔ-MINH khác lại khởi ra làm cho cái Động và cái Tĩnh tác-đông lẫn nhau, và các Vi-Tử cũng tác động lẫn nhau tạo nên muôn-vàn h́nh-thể. Các lớp vô-minh cứ tiếp-tục khởi ra để rồi hai thế-giới âm và dương h́nh-thành, trong đó tâm và vật xuất-hiện. Khi tâm và vật đă xuất-hiện, th́ sự sống cũng xuất-hiện thành muôn loài chúng-sanh. Ở đây, chỉ tŕnh-bày sơ-lược quá-tŕnh biến-chuyển của vũ-trụ từ lúc sơ-khai đến khi chúng-sanh xuất-hiện. Điểm chính của đoạn này chỉ rằng từ Vô-Minh Nguyên-Thủy, CÁC LỚP VÔ-MINH CỨ TIẾP-TỤC KHỞI RA NGÀY CÀNG NHIỀU, CÀNG DÀY ĐẶC. Như một người bị lạc đường, th́ càng đi càng lạc đường xa hơn. Do các lớp vô-minh này mà NGHIỆP của chúng-sanh ngày càng nặng-nề. Do nơi nghiệp mà có sinh-tử luân-hồi. Do nơi nghiệp mà thành ra các cơi-trời và địa-ngục.

 

SÁNG-TẠO

 

Sự Sáng-Tạo ra vũ-trụ và chúng-sanh là SÁNG-TẠO SIÊU-NHIÊN, là mặt gắn-liền với Vô-Minh Nguyên-Thủy. Cần nói rơ rằng Sáng-Tạo Siêu-Nhiên là sự sáng-tạo từ chỗ HOÀN-TOÀN CHƯA CÓ G̀ HẾT BỖNG-NHIÊN XUẤT-HIỆN RA MẦM-MỐNG CỦA VŨ-TRỤ. Sự Sáng-Tạo Siêu-Nhiên KHÁC với quan-niệm thông-thường của nhiều người về sự Sáng-Tạo Tự-Nhiên. Sáng-tạo tự-nhiên là TỪ NHỮNG CÁI ĐĂ CÓ SẴN LÀM THÀNH NHỮNG CÁI MỚI. Chẳng hạn, từ bột, đường, sữa làm thành bánh. Hoặc từ các vật-liệu đă sản-xuất làm thành chiếc xe. Hoặc từ nơi trứng và tinh-trùng của mẹ cha sinh ra một đúa con. Từ trước đến nay, người ta thường hiểu hai chữ sáng-tạo theo nghĩa tự-nhiên này, theo đó họ lập-luận rằng phải có một người làm ra cái mới như người thợ làm ra cái bánh. V́ hiểu lầm Sáng-Tạo Siêu-Nhiên giống như sáng-tạo tự-nhiên nên quan-niệm lầm rằng có một thần-linh đă tạo ra vũ-trụ này, rồi gọi đó là Đấng Sáng-Tạo. Đừng đứng về mặt Vô-Minh để phủ-định Sáng-Tạo (Siêu-Nhiên). Cũng đừng đứng về mặt Sáng-Tạo để chống-phá Vô-Minh. Cả hai quan-niệm đó đều phiến-diện hẹp-ḥi, nên không thể đạt đến Chân-Lư được.

 

Thật ra, nơi cơi SIÊU-VIỆT VƯỢT KHÔNG-GIAN THỜI-GIAN, KHÔNG CÓ một vị Phật nào ở trong đó để tạo ra chúng-sanh đau-khổ này. Nơi đó cũng KHÔNG CÓ một đấng Sáng-Tạo nào để tạo ra loài người tội-lỗi này. Cảnh-Giới đó ngoài không-gian thời-gian, ngoài vũ-trụ, vượt tất cả chúng-sanh, nhưng đầy-đủ mọi công-đức bất-tư-ngh́ TOÀN-NĂNG, TOÀN-CHÂN, TOÀN-THIỆN, TOÀN-MỸ. Đó là THẬT-TÁNH, là PHẬT-TÁNH VÔ-NGĂ. Giáo-lư vô-ngă là nồng-cốt của đạo Phật. Trong suốt quátŕnh thuyết pháp 49 năm, Phật luôn-luôn giảng về Vô-Ngă từ buổi đầu của Tứ Diệu Đế, qua Thập Nhị Nhân Duyên, đến Lăng-Nghiêm và các kinh Đại-Thừa cao nhất.

Có người sẽ hỏi: Vậy th́ Phật trụ ở đâu? Phật cũng là chúng-sanh đă sống trong vũ-trụ này, nhưng Ngài đă TOÀN-GIÁC nên NHẬP CẢNH-GIỚI NIẾT-BÀN VÔ-NGĂ. Toàn-Giác là kết-quả SAU-CÙNG của vô-lượng kiếp tu-hành. Ở trạng-thái nguyên-thủy là Vô-Minh, và chưa có Phật. Trong thời-gian vô-tận của vô-lượng kiếp, đă có vô-số Phật tu-hành và toàn-giác để nhập Niết-Bàn Vô-Ngă. Tất cả chúng sanh đều có Phật-Tánh, cho nên ai biết tu-hành đúng Chánh-Pháp sẽ giác-ngộ và sẽ toàn-giác thành Phật. Ai không biết tu-hành, hay theo các tà-đạo sẽ bị lăn-lộn trong ṿng luân-hồi nhân-quả trong vô-số kiếp, đến khi gặp được Thiện-Tri-Thức chỉ cho Chánh-Đạo để tu-hành th́ sẽ được giác-ngộ.

 

PHẦN HAI

VŨ-TRỤ H̀NH-THÀNH

 

Trong Phần Một, đă thấy do Vô-Minh Nguyên-Thủy mà có sự Sáng-Tạo Siêu-Nhiên thành ra trạng-thái nguyên-thủy vừa-tĩnh-vừa-động vừa chẳng-phải-tĩnh-chẳng-phải-động. Trong Kinh Lăng- Nghiêm gọi đó là Như-Lai-Tạng hay A-Lại-Da thức. Trong Như-Lai-Tạng này đă xuất-hiện không-gian và thời-gian. Đồng thời cũng xuất-hiện năng-lượng với các Vi-Tử nhỏ nhất. Các vi-tử này làm nền-tảng để cấu-thành các vi-tử khác lớn hơn và có cấu-tạo càng ngày càng phức-tạp. Các vi-tử này NHỎ NHẤT, loài người không thể có một dụng-cụ nào có thể đo được hay thấy được chúng. Cũng không-thể chia-cắt các vi-tử nhỏ nhất này. Các vi-tử này vừa-tĩnh-vừa-động, cho nên vừa-không-vừa-có. V́ loài người không thể có một phương-pháp khoa-học nào để thấy hay đo được nó, cho nên nó là KHÔNG. Nhưng v́ nó động và tạo ra sự gián-đoạn, nên nó là CÓ. Sự CÓ này vượt ra ngoài mọi phương-pháp khoa-học. Chỉ có Thiền-Định và Trí-Huệ mới hiểu và thấy được mà thôi. Cần hiểu rằng các vi-tử này vừa cấu-tạo ra vật-chất vừa cấu-tạo ra tâm-linh. Nó vừa-là-tâm-vừalà- vật. Những chấn-động liên-tiếp xảy ra làm cho những vi-tử kết-hợp lại. Những vi-tử động nhiều làm ra vật-chất. Những vi-tử tĩnh nhiều làm ra tâm-linh.Vật-chất được h́nh-thành trong THẾ-GIỚI VẬT-CHẤT.

 

Và tâm-linh được h́nh-thành trong THẾ-GIỚI TÂM-LINH. Hai thế-giới này gắn-liền nhau làm thành VŨ- TRỤ. Như vậy vũ-trụ này gồm hai thế-giới dương và âm gắn-liền nhau. Loài người từ xưa đến nay đều nhận-biết hai thế-giới dương-âm, nhưng do Vô-Minh che-lấp nên người ở thế-giới vật-chất không thấy được thế-giới tâm-linh dù biết rằng ḿnh có tâm-linh.

Vật-chất cũng như tâm-linh đều có hai tánh-chất động và tĩnh. Trong Lăng-Nghiêm, với những phương-pháp của người xưa chưa có khoa-học như ngày nay, tánh động của vật-chất được gọi là Tứ-Đại gồm có Địa, Thủy, Phong, Hoả, và tánh tĩnh của các vật là Hư-không. Có thể nói theo ngôn-ngữ hiện-đại, bốn trạng-thái động của vật-chất là Cứng (Địa), Lỏng (Thủy), Hơi (Phong), và Năng-Lượng (Hỏa). C̣n trạng-thái tĩnh của các vật là h́nh-tướng không-gian của chúng. Cũng theo Lăng-Nghiêm, tánh tĩnh của tâm là Kiến, và tánh động của tâm là Thức. Hăy hiểu rằng Kiến là tánh thanh-tịnh của tâm, và thức là Thấy, Nghe, Hay, Biết của tâm. Kinh Lăng-Nghiêm gọi Thất-Đại là bảy yếu tố Địa, Thủy, Phong, Hỏa, Không, Kiến và Thức. Nếu chia Thức ra thành Thấy, Nghe, Hay, Biết th́ cả thảy là Thập-Đại. Vật có bốn yếu-tố động và một tĩnh. Tâm cũng thế có bốn động một tĩnh. Trong sự chuyển-động của các yếu-tố động và tĩnh của vật và tâm, dần-dần h́nh-thành Thân-xác vật-chất và Tâm-linh gắn liền nhau thành ra sự sống. Đó là sự xuất-hiện của các sinh-vật. Cái tâm ở trong sinh-vật hướng ra cảnh bên ngoài làm thành sáu căn của thân: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Óc là sáu phương-tiện để nội-tâm giao-tiếp với ngoại-cảnh.

 

VÔ-SỐ VŨ-TRỤ

 

Các Vi-Tử nhỏ nhất vừa-tĩnh-vừa-động làm nền-tảng cấu-tạo nên Vũ-Trụ. Sự cấu-tạo này là do Nghiệp-Lực của Vô-Minh. Nghiệp-Lực nhiều vô-lượng vô-biên, cho nên đă cấu-tạo thành VÔ-SỐ VŨ- TRỤ. Đây là điều rất khó hiểu đối với đa-số người. Người ta thường nghĩ rằng chỉ có duy-nhất một vũ-trụ là vũ-trụ chúng ta đang sống trong đó. Sự thật là vũ-trụ này chỉ là một trong vô-số các vũ-trụ đang hiệnhữu. Mỗi vũ-trụ đều có những quy-luật tâm-linh và vật-lư riêng khác nhau, khiến cho người ở Vũ-Trụ Ta- Bà không thấy được các vũ-trụ khác do vô-minh che-lấp. Nhưng khi phá được Vô-Minh do công-phu tu hành theo đúng chánh pháp sẽ thấy được các vũ-trụ khác. Ở đây để tránh mọi sự mù-mờ lẫn-lộn về các danh-từ người ta thường dùng để gọi những cảnh giới vô-h́nh và những cảnh-giới tâm-linh, tác-giả sẽ dùng những danh-từ nhất-định để chỉ những cảnh-giới và hiện-tượng vô-h́nh hay tâm-linh. Chẳng hạn, nhiều danh-từ như vũ-trụ, thế-giới, hay cơi thường bị dùng lẫn-lộn để chỉ toàn-thể vũ-tru hay các thế-giới âm và dương. Tác-giả dùng danh-từ VŨ-TRỤ để chỉ cái vũtrụ chúng ta đang sống trong đó gồm hai THẾ-GIỚI âm và dương liên-kết với nhau như hai mặt không tách rời được. Chữ CƠI sẽ được dùng để chỉ các cơi trong hai thế-giới âm-dương của Vũ-Trụ Ta-Bà sẽ giảithích trong các phần sau. 

Trong một phần trên có nói rằng, v́ chúng-sanh nhiều vô-lượng và nghiêp-lực cũng vô-lượng, nên có vô-lượng Phật. Mỗi vị Phật là Giáo-Chủ của một Vũ-Trụ. Cho nên có vô-lương Vũ-Trụ khác nhau. Vũ Trụ loài người đang sống đây là Vũ-Trụ của Phật Thích-Ca. Đừng nghĩ lầm rằng Phật Thích-Ca đă tạo ra vũ-trụ này. Phật không hề tạo ra vũ-trụ, cũng không hề tạo ra chúng-sanh. Phật Thích-Ca đă trong vô-lượng kiếp thuyết pháp và cứu-độ vô-lượng chúng-sanh. Tất cả chúng-sanh đă từng được Phật độ đều có duyên với Phât. Do các nghiệp của chúng-sanh đó và các duyên với Phật Thích-Ca mà Vũ-Trụ này được h́nhthành. Rồi các chúng-sanh theo nghiệp và duyên nên ra đời trong Vũ-Trụ này theo luật luân-hồi nhân-quả. Hăy xem thí-dụ sau để hiểu rơ thế nào vũ-trụ được h́nh-thành do nghiệp-lực của chúng-sanh. Chẳng hạn một căn nhà do đâu mà có? Trước đó là ư-thức muốn xây căn nhà. Rồi vẽ thành hoạ-đồ. Tiếp đó mua các vật-liệu và đem công-sức để xây-dựng căn nhà. Như vậy căn nhà h́nh-thành do nơi ư-thức của con người. Ngay như các vật-liệu cũng do nơi ư-thức của con người mà ra. Nói rộng ra hơn, tất cả các xứ-sở, xă-hội và cuộc-sống của con người đều do ư-thức của con người mà thành. Rộng ra hơn nữa, tất cả thế-giới và vũ-trụ đều do ư-thức của tất cả chúng-sanh mà hiện ra. Nhưng ư-thức thể-hiện thành nghiệp-lực. Cho nên nói rằng do nơi nghiệp-lực của chúng-sanh mà vũ-trụ h́nh-thành. Ngoài Vũ-trụ Ta-Bà, c̣n có vô-số các vũ-trụ khác do nghiệp-lực và duyên với các vị Phật khác mà thành. Và cũng do nơi nghiệp-lực và các duyên với các Phật mà chúng-sanh ra đời trong các vũ-trụ đó.

Các vũ-trụ khác nhau do nơi nghiệp-lực khác nhau của chúng-sanh trong các vũ-trụ đó. Nếu nghiệp-lực quá nặng-nề tội-lỗi, th́ sẽ h́nh-thành một vũ-trụ nặng-nề nhiều đau-khổ. Nếu nghiệp-lực nhẹ- nhàng trong-sáng, th́ vũ-trụ h́nh-thành sẽ thanh-tao an-lạc. Vũ-trụ Ta-Bà này là một vũ-trụ đầy ô-trược tội-lỗi và đau-khổ. Vũ-trụ của Phật A-Di-Đà là Vũ-Trụ Cực-Lạc trong đó hoàn-toàn không có sự khổ. Vũtrụ của Phật Dược-Sư là Vũ-Trụ Lưu-Ly tràn-đầy an-lạc giống như Vũ-Trụ Cực-Lạc. Đấy là ba vũ-trụ được Phật chỉ bày nhiều trong các Kinh.

 

CẢNH-GIỚI HOA-NGHIÊM

 

Vô-lượng vũ-trụ của vô-lượng Phật chỉ có Phật-nhăn mới nh́n thấy khắp tất cả. Trong Kinh Hoa- Nghiêm, nương nơi sức thần của Phật nên Bồ-Tát Phổ-Hiền đă thấy khắp và chỉ-bày ra cho chúng-sanh. Cảnh-giới của Tất Cả Vũ-Trụ, gọi là Cảnh-Giới Hoa-Tạng Trang-Nghiêm. Bồ-Tát Phổ-Hiền đă toàn-giác như Phật nhưng ngài chưa nhập Niết-Bàn. Ngài vẫn là Bồ-Tát hộ-pháp cho tất cả chư Phật. Trong bất-cứ vũ-trụ nào, hễ chư Phật thuyết pháp là Ngài hiện đến để hộ-tŕ Phật-Pháp.

Chỉ một Vũ-Trụ Ta-Bà này thôi, loài người chưa bao giờ thấy biết được hết. Chẳng hạn, con mắt của loài người có bao-giờ thấy được hết vô-số ngân-hà trong thế-giới vật-chất này, huống chi những cơi trời trong thế-giới tâm-linh, có mấy ai đă thấy được một cảnh nhỏ nào trong đó. Chỉ những người tu được Tứ-Thiền mới thấy được các cơi trời này. Vũ-trụ Ta-Bà với hai thế-giới âm-dương mênh-mông vô-tận như thế, nhưng trong Kinh Lăng-Nghiêm Phật nói nó chỉ là một bong-bóng nhỏ trong biển-cả của Thật-Tánh.

Như thế, Cảnh-Giới Hoa-Nghiêm gồm tất-cả vũ-trụ của tất-cả chư Phật hoàn-toàn vượt lên trên mọi thấybiết nghĩ-bàn của loài người.Tuy-nhiên để giúp đọc-giả có vài ư-niệm về Cảnh-Giới Hoa-Nghiêm, tôi xin lược ra đây một phần nhỏ trong Kinh Hoa-Nghiêm, Phẩm Hoa-Tạng Thế-Giới thứ năm, và tŕnh-bày theo lối h́nh-ảnh số-lượng cho dễ hiểu nhưng không đầy-đủ. V́ những cảnh-giới này hoàn-toàn siêu-việt, đọcgiả nào muốn hiểu rơ hơn, xin đọc chánh-kinh của Phật. Trong Phật ngữ, một Phật-sát là vô-số vô-số không tính đếm hay so-lường được.

Vũ-trụ Ta-Bà nằm trong một hệ-thống gồm 18 Phật-sát vũ-trụ, mỗi vũ-trụ có 10 Phật-sát vũ-trụ chung-quanh, và mỗi đây lại có 10 vũ-trụ quyến-thuộc. Nói về phưong trên, cách xa vô-lượng, có 1 Phật-sát vũ-trụ. Lên nữa, xa vô-lượng có 2 Phật-sát vũ-trụ.

Cứ tiếp-tục lên nữa, có 3 Phật-sát vũ-trụ, rồi 4 Phật-sát, rồi 5, 6, 7 …đến 20 Phật-sát vũ-trụ. Mỗi vũ-trụ nói trên có 180 Phật-sát vũ-trụ bao-quanh. Mỗi vũ-trụ này lại có 10 Phật-sát vũ-trụ bao-quanh. Mỗi đây lại có vô-số vũ-trụ làm quyến-thuộc. H́nh-ảnh trên của thượng-phương giống như một trái núi khổng-lồ quay đầu xuống, đó là cách nh́n do Phật-nhăn từ chỗ ngồi của Phật tại Ấn-Độ khi thuyết-pháp. Phương dưới cũng là một trái núi khổng-lồ như vậy nhưng quay đầu lên. Khắp mười phương đều như thế. Mỗi trái núi như vậy gọi là một Đại-Tu-Di. Các phương-hưóng này chỉ là tương-đối theo vị-trí nh́n mà thôi. Nói riêng về Vũ-Trụ Ta-Bà mà loài người đang sống trên một trái đất nhỏ trong đó, có vô-số ngân-hà. Mỗi dăy ngân-hà đều xoay tṛn và dịch-chuyển theo h́nh xoắn-ốc giống như một trái núi, cho nên mỗi ngân-hà là một trái núi trong không-gian vô-tận, cũng được gọi là núi Tu-Di.

 

     

 

 

 

 

GS Trần Cao Tần
Tiến Sĩ Toán học

Pháp-danh: Chánh-Đạt