www.ninh-hoa.com



 

 

 

Những Ḍng KNiệm

Giáo Sư Tô Đồng

 

Lời Giới Thiệu

 

CHƯƠNG 1

Lời Phi Lộ

CHƯƠNG 2

Tuổi Xanh Ở Miền Bắc

CHƯƠNG 3

Quê Nội Quê Ngoại

CHƯƠNG 4

Vài Nét Về Đông Y

CHƯƠNG 5

Tháng Ngày Ở Thượng Phú  

CHƯƠNG 6

Những Năm Học Và Mùa Thi Đă Qua 1 | 2

CHƯƠNG 7

Những Cư Xá Sinh viên Của Chúng Tôi
 
1  |  2   |  3  

CHƯƠNG 8

Trường Dược Sài G̣n Và Tôi
1  |  2  |  3

CHƯƠNG 9

Một Kỷ Niệm Về Ngành Bào Chế 

CHƯƠNG 10

Đường Về Quê Mẹ

1  |  2  

CHƯƠNG 11

Ngành Khảo Cứu
Y Dược Tại Hoa Kỳ

1   |   2   |  3  

CHƯƠNG 12

Lời Kết 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 


NHỮNG D̉NG KNIỆM
GS Tiến Sĩ Tô Đồng

Khoa trưởng
trường Đại Học Dược Khoa Sài G̣n
1974-1975.

    

 

CHƯƠNG 11

K 18 :         

 

Ngành Khảo Cứu Y Dược Ti Hoa K


               

          

Vui buồn trong ngành khảo cứu y dược tại Hoa Kỳ

Lời nói đầu

 

              Tại Đại Hội Y Nha Dược Việt Nam Tự Do kỳ 3 tại Paris năm 2000, tôi đă tŕnh bày “Những cảm nghĩ về ngành khảo cứu Y Dược tại Hoa Kỳ”, như một đóng góp nhỏ nhoi trong phần Dược Khoa. Đề tài là một câu chuyện liên hệ đến khoa học, văn hóa và xă hội. Tôi đă kể lại một vài kỷ niệm vui buồn, một số kinh nghiệm nghề nghiệp, ít nhiều nhận xét và suy tư về ảnh hưởng của môi trường và xă hội, đối với công việc khảo cứu. Tại Hoa Kỳ, liên tục từ một phần tư thế kỷ qua, tôi đă làm những khảo cứu khoa học căn bản tại các trung tâm đại-học hay liên hệ, cùng những dự án t́m ṭi thuốc mới dùng cho khoa trị liệu và chẩn đoán căn bệnh tại một số cơ sở kỹ nghệ. Một vài công việc đă được mô tả trong câu chuyện thật sơ lược theo thứ tự thời gian, như những bối cảnh mang lại đôi ḍng tâm tư của diễn giả. Tôi cũng tŕnh bày một số giải pháp đối với các vấn đề được nêu ra, cho hợp với tư tưởng của người Mỹ, chỉ ưa nghe cách giải quyết hơn phải nghe lời chỉ trích. Như muốn môi trường sinh sống trong sạch th́ cần cập nhật hóa vấn đề trách nhiệm của các cơ sở kỹ nghệ và gia tăng sự t́m kiếm các nguồn gây ô nhiễm cùng phương pháp giải độc. Muốn tránh phải hành hạ hoặc hy sinh các sinh vật thí nghiệm th́ nên dùng những họa kiểu chính xác cần ít sinh vật hơn hay khai triển các phương thức khảo cứu sinh học khác. Tôi cũng đề cập đến tính cách thực dụng trong các công tŕnh khoa học, ảnh hưởng của môi trường và xă hội, cùng khía cạnh nghệ thuật và khoa học trong các thử nghiệm. Và cho rằng những điều nói ra thường có tính cách ch quan, đúng hay trt xin tùy thuc s lượng định ca quí v thính giả. Hơn na, tôi cũng đă xin sự miễn thứ, nếu có nói điều ǵ v riêng tôi, v́ tuy nói về ḿnh là chuyện thông thường ở nước Mỹ, nhưng đối với người Việt húng ta, hay kể cả người Pháp, th́ cái tôi là điều đáng ghét. Nay có th́ giờ, tôi xin viết lại thêm vào đôi điều nói trong dịp ấy, đă được tŕnh bày sơ lược trong giới hạn 20 phút với một dàn bài quá ngn.

 

             Như nhng người Vit di tn sau biến c tháng 4 năm 1975 ti Hoa K, chúng tôi phi c gng để gia đ́nh sm t túc ti đây, mà càng sm càng tt. Tht ra, ở đâu cũng vy, không t túc được th́ không có t do! Cho dù ta có được mt gia đ́nh bo tr tht tt.Tôi t nh thôi hăy tm quên Vit Nam, nay quê hương đă cách xa ngàn dm, và hăy c thích ng vi cuc sng mi nơi đất ha đầy cơ hi này. Ra đi vi hai bàn tay trng, chúng tôi ch c̣n trông cy vào vn liếng k thut sn có. Nhưng t́m được mt vic ǵ thích hp là điu vô cùng khó khăn, nht là lúc tui không c̣n tr, thân th́ nh, sc th́ yếu so vi người bn x. Và tiếng M nói c̣n chưa đúng ging, nghe c̣n cha thông. Tôi cũng định tâm làm tm bt c vic ǵ mà không sao xin được. Mt s bn bè và đồng nghip sau khi liên lc được đều cho rng nếu t́m kiếm ra mt lư tưởng để phc v th́ đời sng mi hin nay, may c̣n có ư nghĩa. Thí d làm v Kho Cu Khoa Hc. Lúc đó, tôi cũng tưởng rng ngh này s ít phi nói năng, giao thip và tiếp xúc vi nhiu người. Hơn nũa, v́ đối tượng ca khoa hc không có biên gii, mt chuyên gia nào mà không có th t hào đă tng đóng góp công tŕnh vi nhân loi, dù cho rng đó ch là mt ht cát trong sa mc, hay mt git nước trong bin c. Nhưng ri duyên may đưa tôi tr li vic Kho Cu Khoa Hc, mt ngành mà tôi ưa thích khi c̣n làm vic ti thủ đô Paris vào cui thp niên 50.

 

Một năm ở Stevens Point, WI

 


Ông Bà B.W. Eagon bo trgia đ́nh Tô Đồng

 

             Đầu tháng 6 năm 1975, gia đ́nh tôi rời trại tỵ nạn Camp Pendleton tới Stevens Point, WI. Chúng tôi ở với gia đ́nh người bảo trợ là giáo sư B.W. Eagon, một Khoa Trưởng đă từng làm cố vấn về Giáo Dục Đại Học Việt Nam trong Phái Đoàn của Đại Học Wisconsin. Lư do giản dị v́ tôi có quen biết mt s giáo sư ở đây khi đi du hành quan sát ngành qun trị Đại Hc vào năm 1968. Stevens Point là mt thành phố đại-hc nh và rt đẹp, có chng 7 ti 8 ngàn sinh viên, dân chúng vui v hin ḥa. Nhưng rt khó kiếm vic nơi đây, k c vic làm chân tay. Đến tháng 7, tôi được giáo sư Nguyn Thế Anh cho biết trong lúc này có th xin grant ca Ford Foundation, và giáo sư Nguyn Bích Thoa gi cho danh sách thư mc đin toán liên h. Tôi đă viết d án kho cu về ảnh hưởng ca các cht dit cỏ phenoxyherbicides được dùng tại Golden Sands, một vùng trung tâm tiu bang Wisconsin. Các chất này có tên là 2,4-D và 2,4,5-T, được biết như những chất khai quang mầu cam thường dùng trong chiến tranh Việt Nam, có một phó sản rất độc là dioxin. Dự án cũng được các giáo sư R. K. Anderson, B. H. Shaw, J. G. Newman của phân khoa Tài Nguyên Thiên Nhiên đại học Wisconsin-Stevens Point giới thiệu, cố vấn và hỗ trợ. May mắn đă đến ngay với tôi, khi dự án khảo cứu được Ford Foundation chấp nhận tài trợ trong niên khóa này.

 

 

             Tờ báo địa phương Stevens Point Daily Journal 9/19/75 có tường thuật việc này, dưới tiêu đề “Viet refugee gets foundation grant”. Họ ghi lại những điều tôi trả lời trong cuộc phỏng vấn về dự án này, và viết thêm về hiện trạng của chúng tôi khi ở với gia đ́nh giáo sư Eagon. Ít lâu sau, tờ Pointer của Đại Học đăng bài họ phỏng vấn tôi, “Viet refugee begins investigation”, cùng những quan điểm của tôi về việc bảo vệ môi sinh trong thời đại mới. Trong khi làm tại đây, tôi cũng nhận được sự lưu tâm của một số chuyên gia ca cơ quan Bo V Môi Trường EPA, ca L. A. Norris, Research project leader ti Forestry Sciences Laboratory, OR 97331, và mu cht dioxin ca Dow Chemical USA, Agricultural Product Dept, t giáo sư Hinsdill Madison.

 

             Trong my tháng đầu, tôi kiếm cách ly trích, tinh chế các cht dit trùng t các mu th nghim, ri định lượng chúng. Tôi cũng t́m ra phương thc riêng và gin dị để định tính được nhng cht độc bng máy sc kư Gas Chromatograph Packard 7300, 63-Ni Electron Capture Detector.  Tôi đă phân tích được cả trăm mẫu lấy từ da, thịt, mỡ, tim, gan, óc của hươu nai. Các mẫu thử nghiệm này được thu thập bởi các sinh viên trong mùa săn bắn tại 19 quận hạt của tiểu bang. Khi công việc hoàn tất, tôi có làm tờ tŕnh về Ford Foundation kết quả của dự án cùng những bàn luận liên hệ. Theo tôi th́ không có ǵ đáng quan ngại cho các sinh vật ăn cỏ trong vùng Wisconsin, khi người ta dùng chất diệt cỏ phenoxyherbicides. Sẵn có phương tiện phân chất trong tay, tôi t́m hiểu thêm về 29 chất diệt trùng thuộc 11 loại, từ phenoxyherbicides tới benzene hexachlorides, đến các nhóm chlordane, aldrin, Mirex, DDT, PCB. Vài vấn đề đột nhiên xuất hiện. Tại sao người ta có thể cho phép dùng Mirex, một độc chất chỉ bị hủy diệt khi đem nung nóng trên 485°C? Và như vậy chất này sau khi bị phế thải sẽ c̣n hiện diện ở trong môi trường măi măi! Qu nhiên ít lâu sau cht này b cm bán. Cht DDT dn ti mt cht an định nht là DDE, vy mun t́m cht cn ca thuc dit tr mui st rét DDT th́ ch vic t́m DDE. Đặc bit là các cht trong nhóm PCB, thường được dùng trong công k ngh k t 1930 v́ tính cách đin, dn nhit, khó dn ha, có nhiu cht rt khó b hư biến hay hy hoi dù nhit độ cao 300°C. Và như thế, nhng cht này s tác hi trong mt thi gian dài ti môi trường thiên nhiên, như lng xung bùn ly nước đọng nơi sông h. Cũng có th nương theo thi tiết xông lên khí quyn, bám vào mây gió, làm nhim độc nhiu ngun nước xa. Chúng tác hi trên nhiu vi sinh vt, và v́ con người chng cui cùng ca chui thc phm, s phi lănh hu quả trầm trọng nhất!

 

              Nhưng câu chuyn không đơn gin như vy. Làm thế nào phát hin được các sinh vt trong thc ăn b nhim độc? Tôi có quen my người bn thường câu cá vùng Đại H. Có ln h cho chúng tôi làm quà, nhng con cá thu nng c gn chc kí. Tht cá tươi ăn rt thơm ngon. Tôi v́ hiếu kỳ đă ly trng, m, tht t nhng con cá này đem đi phân tích. Tht là bt ng, nhng mu th này đều cha PCB nng độ nguy him, và ít nhiu DDE. Nếu so sánh vi mt mu cá h nuôi cá Lake Mills, th́ trái li tôi không t́m thy mt chút cn dư hóa cht nào. Tôi làm thêm t tŕnh th hai v Ford Foundation cho biết kết qu ca s t́m kiếm bt ngờ này với nhng bàn lun liên h, cùng thông báo cho các giáo sư ca phân khoa Tài Nguyên Thiên Nhiên biết. Phi nhiu năm sau tôi mi thy có các m cá vùng này b thu hi, và thnh thong cũng thy có gii pháp loi b cht PCB được áp dng. Thế mà mi va tháng 8 năm nay, tôi c̣n nhn được thư ca Khoa Trưởng B.W. Eagon vi nhng câu “Chc anh c̣n để ư đến vic này. Bao lâu nay ri mi thy người ta lo liu đến các độc cht thi vào h Michigan”. Kèm theo thư là bài báo Stevens Point ra ngày 7/29/2003 có mc nói v kế hach làm sch PCB trong sông Fox River, vi tng s kinh phí là 400 triu M Kim. Vn đề ô nhim do hóa cht như vn c̣n đó, dù đă tri qua 28 năm.

 

             Biết bao nhiêu hóa chất cũ mới được tổng hợp hàng năm để sử dụng, nên không thiếu các chất độc được thải ra rồi luân lưu trong môi trường thiên nhiên. Chưa kể đến các chất độc sinh-học thiên nhiên hay từ tế bào ung thư, vi khuẩn. Chưa kể các chất phóng xạ dùng trong kỹ nghệ hay thí nghiệm, như 14C và 3H mà nửa thời-gian-sống rất dài theo thứ tự là 5730 và 12 năm. Muốn giải quyết vấn đề, cần đặt nặng trách nhiệm làm trong sạch môi trường của các cơ sở kỹ nghệ, phát triển thêm ngành độc chất học, gia tăng sự t́m kiếm các nguồn gây ô nhiễm và sớm áp dụng những phương pháp giải độc hiệu quả.

 

    Mời xem tiếp:

Bốn năm ở Oklahoma City, OK   - Kỳ 19

 

 

 

 

Giáo Sư Tô Đồng
Khoa trưởng
trường Đại Học Dược Khoa Sài G̣n
1974-1975.

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com