www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 TVI & PHONG THỦY

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 

 
Main Menu

 
 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt


 

 

 

 

TẢN MẠN VỀ
TỬ VI VÀ PHONG THỦY

 

 

BÀI 1

 

Tử Vi và Đời Sống Thường Hằng

 

Tôi đến với Bộ môn Tử Vi từ thủa 16 tuổi, khi c̣n là học sinh Trung Học Nguyễn Trăi tại Hanoi (1952), người giúp Tôi làm quen với Bộ môn này là một Ông Đồ Nho thất thời, do Ông Cụ tôi nhờ đến làm Lá Số Tử Vi và giải đóan cho toàn bộ Gia Đ́nh. Ông ta thông thạo cả Nho, Nôm lẫn chữ Quốc Ngữ, viết Lá Số bằng Quốc Ngữ, bấm lá số trên bàn tay rồi viết ra giấy trên một cuốn sách.

 

Mỗi lúc rảnh rỗi, sau khi học bài xong, tôi thường ghé mắt nh́n, các Danh từ Tử Phủ Vũ Tướng (viết tắt bởi Bộ 4 : Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc và Thiên Tướng), Sát Phá Tham (viết tắt bởi Bộ 3: Thất Sát, Phá Quân và Tham Lang), Đào Hồng Hỉ, Không Kiếp, Ḱnh Đà, Linh Hỏa, hung sát tinh đắc địa, trung tinh đắc cách được Ông nhắc tới nhiều lần sau mỗi Lá Số. Lúc đó Tôi rất phục Ông có trí nhớ phi thường lấy lá số Tử Vi không cần một Tư Liệu nào trước mặt. Hồi đó sách viết về Tử Vi hầu như không có, hay có rất ít mà thiếu phổ biến; sau này khi đất nước chia đôi vào Miền Nam đến năm 1956 mới có bộ sách Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang viết rất kỹ từ Định Nghiă về Tính Chất các Bộ Sao, phép Lập thành Lá số Tử Vi và phương pháp luận đóan đă làm nền tảng cho bộ sách Tử Vi Hàm Số và Tử Vi Tổng Hợp của Nguyễn Phát Lộc sau đó (1972). Ngoài ra, cuốn Tử Vi Áo Bí của Việt Viêm Tử chỉ là sách dạy cách lấy lá số bằng cách bấm đốt ngón tay theo lối của các Ông Đồ Nho rất rườm rà, nếu dùng Toán Học chỉ cần một Công Thức nhỏ dùng Phép Đối Xứng qua các Trục trên Thiên Bàn để An Sao nhanh hơn không cần phải dùng nhiều trang với h́nh vẽ lớn của Bàn Tay chiếm hết một trang giấy cùng những Bài Thơ dài ḍng (nhưng cũng dễ nhớ). Dù trước đó cuốn Tử Vi Chỉ Nam của Song An Đỗ văn Lưu phát hành từ lâu (1934) ít phổ biến rộng răi. Bộ Tử Vi của Kiến Trúc Sư  Nguyễn Mạnh Bảo nặng về từ chương dịch nguyên văn từ sách Tàu không có ǵ phát kiến mới, phải đợi đến lúc Cụ Thiên Lương cho ra đời cuốn Tử Vi Nghiệm Lư (1974) với nhiều Phát Kiến mới lạ kiểm chứng trên nhiều Lá Số của các Danh Nhân. Thập Niên 70, phong trào Tử Vi nở rộ, nhiều thành phần tham dự có cả 1 Tuần Báo KHOA HỌC HUYỀN BÍ đăng tải nhiều phát kiến và quan niệm mới về các Bộ Sao, những Kinh Nghiệm Riêng của nhiều người trong Qúa Tŕnh nghiên cứu Tử Vi, nổi bật nhất là những Bài của cụ Thiên Lương và những người theo học Phái Thiên Lương (trong đó có cả những người con trai của Cụ).

 

Sau khi đi Tù Cộng Sản về năm 1978,  Tôi có hân hạnh được Cụ Thiên Lương tiếp kiến nhiều lần, có cho xem những Bài Nghiên Cứu Kinh Nghiệm riêng về Tử Vi, sau này gửi qua Mỹ cho người con Hồng Đức, vượt biên in lại thành cuốn Tử Vi Toàn Thư (1984). Đối với Tôi những Phát Kiến của học Phái Thiên Lương có nhiều mới lạ giúp ích rất nhiều cho những người nghiên cứu bộ môn này.

 

Dĩ nhiên trong thời gian nói trên c̣n có vô số các Tác giả khác, và sau 1975 tại Hải Ngoại cũng có rất nhiều. Thậm chí có quyển c̣n thay đổi Vị Trí các Cung trên Thiên Bàn. Đôi khi cách cấu tạo Nạp Âm của năm Âm Lịch của các sách cũng khác nhau về Ngũ Hành. Thí dụ năm Dương Lịch 1964 (từ ngày 13-2 -1964 đến hết ngày 1-2-1965) được gọi theo Âm Lịch là năm Giáp Th́n, người Trung Hoa gọi là Năm Rồng Lửa v́ Giáp Th́n do Can Giáp (mộc) ghép với Chi Th́n (thổ) nạp âm là Phú Đăng Hỏa (Lửa Cây đèn). Th́n tượng trưng cho con Rồng, Hỏa là lửa, màu đỏ nên gọi là Rồng Lửa hay Xích Long. Phái theo Tây Tạng lấy hành của năm sinh theo hàng Can Giáp (mộc) nên gọi là Rồng Gỗ hay Thanh Long (v́ Mộc là gỗ cây, thuộc màu Xanh). Nhưng đối với năm Canh Th́n 2000 nạp âm Bạch Lạp Kim (Vàng chân đèn) th́ người Trung Hoa và người Tây Tạng cùng gọi là Rồng Trắng (Bạch Long) v́ Can Canh và Nạp Âm đều thuộc Kim, kim loại gồm vàng, bạch kim  vv… màu trắng được tượng trưng cho hành Kim (riêng màu Vàng : Hoàng Long được tượng trưng cho năm Bính Th́n có hành thổ). Những người tuổi Giáp Th́n gặp năm Nhâm Tuất (Đại Hải Thủy = nước trong Biển lớn) đối với người Tàu th́ Nhâm Tuất thuộc Thủy, Giáp Th́n thuộc Hỏa v́ Thủy khắc nhập Hỏa nên rất xấu (Tuất xung Th́n), nhưng đối với người Tây Tạng th́ Nhâm thuộc Thủy sinh nhập cho Can Giáp (mộc) lại cho là rất tốt. Mức độ tốt hay xấu c̣n tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác, tùy từng người cần phải kiểm chứng lại. Riêng Tôi theo nhiều lần kiểm chứng , cách của người Tàu đúng hơn với ví dụ trên, tuổi GiápTh́n gặp năm Nhâm Tuất có khắc kị nhưng chỉ xảy ra vào giữa và cuối năm ; người Tây Tạng có phần đúng ở đầu năm. Xem giờ tốt hay xấu người Tàu nhiều khi chỉ dùng sinh khắc ở hàng Can như người Tây Tạng. Như tuổi Giáp Th́n gặp giờ Nhâm Tuất lại không xấu lắm, cách này được dùng trong thời gian ngắn như Bói Dịch, Nhâm Độn. 

  

Xác Suất và Thống Kê

 

Khi gieo một con xúc sắc để có « mặt Lục=số 6 » xảy ra, toán học nói rằng « độ xác suất = chính xác có một phần » của Biến cố này là 1/6 có nghiă là khi ta gieo 6 lần th́ có hy vọng 1 lần xảy ra, nhưng thực tế có khi ta gieo 6 lần đều có được « mặt 6 » (nghĩa là chính xác hoàn toàn cũng như nói Tử Vi đúng100%  như có nhiều người ca tụng) có khi không lần nào « mặt 6 » xảy ra hoặc xảy ra một vài lần. Phân số  1/6 chỉ là con số Lư thuyết nghiă là nếu ta gieo hàng triệu lần rồi làm Thống Kê đếm các lần « mặt 6 » xảy ra và lập tỷ số giữa các lần xảy ra với số lần đă gieo, ta thấy phân số đó gần bằng 1/6. Nói như vậy để thấy rằng một dữ kiện muốn có độ chính xác cao th́ Không Gian Mẫu phải lớn (nghiă là phải thực hiện nhiều lần). Nếu chỉ xem 10 lá số thấy 7 lá đúng mà cho là đúng 70% th́ cũng như gieo con xúc sắc 10 lần thấy 7 lần mặt lục xảy ra (th́ hơi quá lố).

 

Đối với riêng Tôi bộ môn Tử Vi do cụ Trần Đoàn phát minh từ thời Nhà Tống bên Trung Hoa cũng giống như bộ môn Xác Suất và Thống Kê. Độ chính xác của một Bản Số không chỉ dựa trên Định Nghiă tính chất của bộ Sao mà c̣n tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác. Một lá số có thể dùng cho nhiều người sinh cùng 1 giờ trên trái đất ở cùng một Múi giờ (nửa ṿng tṛn trên Trái Đất mà đường kính là Trục Bắc-Nam- trục Trái Đất-gọi là Kinh Tuyến, múi cầu nằm giữa 2 Kinh Tuyến nói trên, trong phần của 2 nửa mặt phẳng tạo với nhau một góc 15 độ (Nhị Diện) gọi là một Múi Giờ).

 

Lá Số Tử Vi quan trọng ở giờ Tử Vi. Hồi mới sang Pháp, một người quen đưa Lá số  của đứa con sinh tại Pháp. Trên lá số thấy có ghi giờ sinh là 17 h 30 ngày 1-6-1984 đổi ra giờ Âm Lịch ghi là giờ Hợi ngày 3 tháng 5 năm Giáp Tư, nếu lấy đúng giờ địa phương tại Paris  mùa Hè phải là giờ Thân, v́ đồng hồ giờ mùa Hè tại Paris vặn lên 2 giờ. Về sau nhiều lá Số của các Em sinh tại Pháp tôi cũng thấy ông thầy Tử Vi đó đều đổi giờ sinh tại Paris thành giờ sinh của Em đó cùng một lúc, nếu sinh tại Saigon, thành ra Lá Số nào cũng cách nhau 3 giờ (giờ Tử Vi), điều này không đúng v́ giờ Tử Vi phải lấy theo giờ Địa Phương. Khi mặt trời qua Kinh Tuyến của một nơi, thời điểm đó là đúng Ngọ (12 giờ trưa). Muốn t́m thời điểm 12 giờ trưa tại một nơi lúc trời có nắng ta cắm 1 que gậy rồi quan sát bóng của que đó khi nào bóng có độ dài bé nhất : đó là thời điểm 12 giờ trưa.

  

 Giờ Tử Vi

 

Một ngày có 24 giờ, mỗi giờ Tử Vi bằng 2 giờ thường như vậy trong 1 ngày có 12 giờ Tử Vi :

 

 

Giờ Tư   

:

23 giờ - 01 giờ sáng

 

Giờ Ngọ  

:

11 giờ - 13 giờ trưa

Giờ Sửu  

:

01 giờ - 03 giờ

 

Giờ Mùi  

:

13 giờ - 15 giờ

Giờ Dần   

:

03 giờ - 05 giờ

 

Giờ Thân 

:

15 giờ - 17 giờ

Giờ Măo

:

05 giờ - 07 giờ

 

Giờ Dậu    

:

17 giờ - 19 giờ

Giờ Th́n

:

07 giờ - 09 giờ

 

Giờ Tuất    

:

19 giờ - 21 giờ

Giờ Tỵ   

:

09 giờ - 11 giờ

 

Giờ Hợi      

:

21 giờ - 23 giờ

                                        

Cách tính giờ Tử Vi theo giờ sinh

 

Đối với vài nơi như Việt Nam (trước 1975) và Pháp đồng hồ hay vặn lên một hay hai giờ tùy theo từng Thời Kỳ hay Giai Đoạn, nên phải điều chỉnh theo đúng «giờ Điạ Phương» của người lấy Lá số rồi từ giờ Địa Phương chuyển sang giờ Tử Vi.

 

    

Người sinh tại Việt Nam

 

Trước năm 1943

:

giữ nguyên giờ sinh.

 

Từ  1-1-1943  đến  31-  3-1945

:

giờ Tử Vi là giờ sinh

trừ đi 1

Từ  1-1-1945  đến  31-  1-1947

:

giờ Tử Vi là giờ sinh

trừ đi 2

Từ  1-4-1947  đến  30-  6-1955

:

giờ Tử Vi là giờ sinh

trừ đi 1

Từ  1-7-1955  đến  31-12-1959

:

giữ nguyên giờ sinh

 

Từ  1-1-1960  đến  30-  4-1975

:

giờ Tử Vi là giờ sinh

trừ đi 1

Sau  30-4-1975

:

giữ nguyên giờ sinh

 

 

A.  Người sinh  tại  Pháp
 

Trước năm 1940

:

giữ nguyên giờ sinh

 

Từ 15 -  6 - 1940  đến   5 -10 - 1941

:

giờ muà Hè         

trừ đi 2

Từ   6 - 10 - 1941  đến   8 -  3 - 1942

:

giờ muà Đông     

trừ đi 1

Từ   9 -   3 - 1942  đến   1 -11 - 1942

:

giờ  mùa Hè

trừ đi 2

Từ   2 - 11 - 1942  đến 28 -  3 - 1943

:

giờ mùa Đông

trừ đi 1

Từ 29 -   3 - 1943  đến   3 -10 - 1943

:

 

trừ đi 2

Từ   4 - 10 - 1943  đến   2 -  4 - 1944

:

 

trừ đi 1

Từ   3 -   4 - 1944  đến   7 -10 - 1944

:

 

trừ đi 2

Từ   8 - 10 - 1944  đến   1 -  4 - 1945

:

 

trừ đi 1

Từ   2 -   4 - 1945  đến 15 -  9 - 1945

:

giờ mùa Hè

trừ đi 2

Từ   8 - 10 - 1945  đến 29 -  3 - 1976

:

không kể Hè Đông

trừ đi 1

Từ 30 -   3 - 1976  đến 27 -  9 - 1976

:

giờ mùa Hè như trước

trừ đi 2

Từ 28 -   9 - 1976  đến   2 -  4 - 1977

:

giờ mùa Đông

trừ đi 1

Từ   3 -   4 - 1977  đến 24 -  9 - 1977

:

giờ mùa Hè

trừ đi 2

Từ 25 -   9 - 1977  đến 30 -  3 - 1978

:

 

trừ đi 1

Từ   1 -   4 - 1978  đến 30 -  9 - 1978

:

 

trừ đi 2

Từ   1 - 10 - 1978  đến 31 -  3 - 1979

:

 

trừ đi 1

Từ   1 -   4 - 1979  đến 29 -  9 - 1979

:

giờ mùa Hè

trừ đi 2

Từ 30 -   9 - 1979  đến   4 -  4 - 1980

:

giờ mùa Đông

trừ đi 1

Từ   5 - 4 - 1980     đến 27 - 9 - 1980

:

 

trừ đi 2

Từ 28 - 9 - 1980     đến 26 - 3 - 1981

:

 

trừ đi 1

Từ 27 - 3 - 1981     đến 25 - 9 - 1981

:

 

trừ đi 2

Từ 26 - 9 - 1981     đến 26 - 3 - 1982

:

 

trừ đi 1

Từ 27 - 3 - 1982     đến 25 - 9 - 1982

:

 

trừ đi 2

Từ 26 - 9 - 1982     đến   2 - 4 - 1983

:

 

trừ đi 1

Từ   3 - 4 - 1983     đến 24 - 9 - 1983

:

 

trừ đi 2

Từ 25 - 9 - 1983     đến 31 - 3 - 1984

:

 

trừ đi 1

Từ   1 - 4 - 1984     đến 28 - 9 - 1984 

:

 

trừ đi 2

Từ 29 - 4 - 1984     đến 29 - 9 - 1984 

:

 

trừ đi 1

 

Bắt đầu từ 1- 4 - 1985  giờ mùa Đông trừ đi 1 giờ, giờ mùa Hè trừ đi 2 giờ cho đến hiện nay.

 

B.                 Các Nơi Khác

  

Tuỳ theo giờ Địa Phương, một cách chắc chắn là so giờ Greenwich cộng với Số Múi Giờ của nơi sinh. Nếu đồng hồ không vặn lên, lấy giờ Địa Phương chuyển sang giờ Tử Vi. Muốn chắc chắn nữa là phải dựa vào Sao Chính của Bản Mệnh so với H́nh Tướng, tính nết, mức độ thăng trầm của Đương Số ít nhất trong 2 Đại Vận 10 năm. Những người sinh từ 11 giờ 30 đến 12 giờ trưa, chẳng hạn, lấy giờ Ngọ độ chính xác khá cao. Cũng ví dụ trên người nào sinh lúc 11 giờ (giờ bản lề) hay 13 giờ,  lá số thường thường không rơ h́nh ảnh lắm. Có những dữ kiện th́ đúng ở lá số giờ Ngọ, nhưng cũng có những dữ kiện khác lại chỉ  đúng ở lá số giờ Tỵ (hay giờ Mùi cho trường hợp sinh lúc 13 giờ). Điều chắc chắn sai khi lấy lá số cho Trẻ em VN sinh ở Pháp  lại chuyển thành giờ Địa Phương ở VN.

 

Tôi đă có nhiều dịp lấy Lá Số Tử Vi cho nhiều người Ngoại Quốc đủ mọi Quốc Tịch, sinh đủ mọi nơi trên Thế Giới th́ thấy dù Đương Số sinh ở đâu, nếu lấy giờ nơi sinh chuyển sang giờ Tử Vi, tính t́nh và biến cố  thăng trầm của cuộc đời có mức độ chính xác khá cao.

 

Dùng Tử Vi để xét Bản Chất và cuộc đời của một người cũng tương đối rất đúng.

 

Mẫu người Tử Phủ Vũ Tướng cách, vắng Hung Sát tinh, nếu có nhiều Trung tinh đắc cách   (Khoa Quyền Lộc, Long Phượng Hổ Cái, Khôi Việt, Thai Toạ, Quang Quư…) hợp Mệnh tức là cách Quần Thần  Khánh Hội, phần lớn là mẫu người Chính Nhân Quân Tử hành động Quang Minh Chính Đại theo tiêu chuẩn Khổng Học với điều kiện h́nh tướng phải Tam Đ́nh cân xứng, Lục Phủ Ngũ Quan phải đầy đặn không khuyết hăm. Cuộc đời thường gặp nhiều may mắn bất ngờ, trong Môi Sinh luôn luôn là bậc Trưởng Thượng, ung dung, khoan thai biết tiến thoái, cương nhu đúng lúc, có thể làm bất cứ ngành nghề nào cũng được, nhưng lúc nào cũng ở vị trí Lănh Đạo Chỉ Huy được nể v́ và trọng vọng.

 

Cụ Lê Quư Đôn rất có lư khi đưa thêm H́nh Tướng để bổ túc ư nghiă cho các Chính Tinh thủ Mệnh trong môn Tử Vi. Như lá số có 2 sao Tử Vi và Phá Quân thủ Mệnh (tại Sửu Mùi) th́ với h́nh tướng như thế nào th́ ăn theo Tử Vi hay ăn theo Phá Quân. Trong Thần Khê Định Số đưa ra h́nh ảnh Phá Quân Tư Ngọ đắc cách với h́nh tướng phải phương phi  nở nang, râu hùm hàm én mới là Bậc Trượng Phu tài trí hơn người. Đó là h́nh ảnh Quan Vân Trường trong truyện Tam Quốc mới ăn về sao Phá Quân cư Tư. C̣n Phá Quân kèm theo Không Kiếp, ngũ quan khuyết hăm chỉ là bọn sớm đầu tối đánh, ăn cướp vặt.  

 

Sát Phá Tham có phải là Vơ Cách không ?

 

Hồi mới học Tử Vi khi ngồi xem Ông Đồ làm bản số mỗi khi thấy lá số nào mà Mệnh Thân có bộ ba Sát Phá Tham (viết tắt của bộ ba sao Thất Sát, Phá quân và Tham Lang luôn luôn  ở vị trí Tam hợp nghiă là nếu Mệnh hay Thân có 1 trong bộ ba thủ Mệnh hay Thân th́ cung Quan Lộc và Tài Bạch có 2 sao c̣n lại, nói một cách dễ hiểu 3 sao đó nằm trên 3 đỉnh của một tam giác đều cạnh) ông ta đều phán rằng Cậu này sẽ phát vơ. Khi Di Cư vào Nam năm 1954  và những năm kế tiếp các Nhà Xuất Bản sách truyện mọc lên như Nấm, các sách viết về Tử Vi đương nhiên cũng được phát hành rầm rộ, hầu như sách nào cũng cho Sát Phá Tham là vơ cách.

 

Những năm trước 1963 có dịp theo mấy Ông Bạn nhà Binh thăm các Thầy Bói Kim, Ích, Minh Lộc… đa số những Ông này khi gặp những lá số mà Mệnh Thân có bộ Sát Phá Tham đều khẳng định là Phát Vơ. Các Ông Thầy này chuyên chú nhiều đến Hung Sát tinh (thời loạn có khác!) dựa vào các câu Phú cổ :

 

Tham, Hỏa Th́n Tuất danh chấn chư bang 

Tham, Linh tinh thủ, tướng tướng chi danh 

Sát, H́nh hội, long thần định giáng 

Thất Sát Dần Thân Tư Ngọ nhất sinh tước lộc vinh xương

   Nào là :

 

             Phá Quân Tư Ngọ gia quan tiến lộc 

             Kiếp Không đắc địa phát dă như lôi.

 

Nhiều khi c̣n cố ghép các Sao để thành Bộ : như Binh H́nh Tướng Ấn (viết tắt của 4 sao Phục Binh, Thiên H́nh, Tướng Quân và Quốc Ấn) hay Long Hổ Ḱnh Quyền (Long thường viết tắt của Long Tŕ, nhiều khi không có th́ ghép Thanh Long kẹt qúa th́ lấy Long Đức, Bạch Hổ, Ḱnh Dương, Hóa Quyền) đọc lên nghe kêu lắm, để tán cho những sao sẽ phát về Vơ và phát nhanh.

 

Cuộc Đảo Chánh ngày 1/11/1963 các ông Thầy Minh Lộc, Kim có ảnh hưởng lớn đến biến cố này. Phần lớn các Sĩ Quan cấp Tá, kể cả cấp Tướng đều tin một cách mù quáng vào các lời bốc thơm mà hành động. Người viết đă từng được một ông Đại Tá (sau lên Tướng) dẫn đi xem ông Minh Lộc vài lần, lần nào cũng có nhiều Sĩ Quan thân cận đi tháp tùng để nghe nhiều luận đoán, phần lớn bốc thơm về các Lá Số có bộ Sát Phá Tham và Hung Sát Tinh. Chính v́ điểm đó mà CIA đă lợi dụng các Ông Thầy Tử Vi để hướng dẫn biến cố theo điều họ muốn. Đây chỉ là một nhận xét cá nhân trung thực trên các dữ kiện có thực ở một Giai Đoạn Lịch Sử, không có tính cách phê phán một ai, chỉ có mục đích chứng minh là các ông Thầy Tử Vi có ảnh hưởng rất lớn đến những cuộc Chính Biến từ năm 1963 và những năm sau đó. Và cũng để chứng minh một tính chất của bộ Sát Phá Tham mà từ ngàn xưa ngay cả các sách cổ, những lá số nào mà Mệnh Thân có bộ Sát Phá Tham đều cho là Vơ Cách. Điều này không phải là không đúng mà cũng không sai! V́ nhiều người thành công trong Vơ Nghiệp đều có bộ Sát Phá Tham. Cũng như Mệnh Thân có Cơ Nguyệt Đồng Lương hay Cự Nhật vẫn đi lính như thường.

 

Song có một điều chắc chắn là người nào Mệnh Thân có Sát Phá Tham đắc cách hợp Mệnh ngộ Hung Sát Tinh đắc địa thành công rất nhanh trong Binh Nghiệp ở Đại Vận  có bộ sao này. Trong Binh Nghiệp thường là cấp chỉ huy trực tiếp chiến đấu như Tiểu Đoàn Trưởng, Trung Đoàn Trưởng, Sư Đoàn Trưởng. Trái lại dù ở trong nhà Binh, Mệnh Thân không có bộ Sát Phá Tham th́ chỉ giữ những vai tṛ như Tham Mưu, Tiếp Vận, Quân Nhu vv…, nếu có lên lon mau là nhờ ở Chu Kỳ (hay Đại Tiểu Vận) có bộ Sát Phá Tham hay hung sát tinh đắc cách. Hết chu kỳ đó cuộc đời vào ngă rẽ ít sóng gió hơn.

 

Tóm lại ta có thể kết luận rằng những người nào mà Lá số có bộ Sát Phá Tham đóng tại Mệnh Thân là những người dễ thành công trong Binh Nghiệp, ngoài khiếu trên c̣n dễ thành công trong môi trường Kinh Doanh, Thương Măi, Kỹ Thuật, Chính Trường; đó là Mẫu người Hiếu động.

 

Những năm trong trại Tù Cộng Sản, Tôi đă có dịp xem số Tử Vi cho hàng ngàn Sĩ Quan cấp Úy lẫn cấp Tá đă thấy rằng những người nào mà bản số Mệnh Thân có bộ Sát Phá Tham + Hung tinh đắc địa thường là những Tiểu Đoàn Trưởng, Trung Đoàn Trưởng …ở những binh chủng Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, dĩ nhiên có cả Bộ Binh, c̣n bản số nào không có bộ ba này thường ở các ngành Chiến Tranh Chính Trị, Quân Nhu, Quân Vận, Tiếp Vận, Hành Chánh Tài Chánh, Quân Y…Mỗi khi xem số cho một người nào đó, Tôi thường phối kiểm các thời điểm tương ứng với Chu Kỳ trên bản số, nhất là những Lá số có bộ Sát Phá Tham của các Sĩ Quan Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân nắm đơn vị trực tiếp chiến đấu thường lên lon rất mau. C̣n những người ở đơn vị không trực tiếp chiến đấu, tuy cùng một Cấp Bậc xuất thân cùng Quân Trường ở khóa Đàn Anh cách nhau vài khóa có khi cả chục khoá, đương nhiên lá số mà Mệnh Thân không có bộ Sát Phá Tham. Vào thời điểm mà lá số có bộ Sát Pham tham ngộ Hung Sát tinh th́ thường bị thương nặng phối hợp với chỉ tay có các đường chỉ đứt quăng, nặng th́ trên đường Sinh Đạo, nhẹ th́ trên đường Tâm Đạo hay Trí Đạo. Phần lớn độ chính xác khá cao.

 

Tôi cũng có dịp xem cho khỏang chục Bác Sĩ cũng là Sĩ Quan tù Cộng Sản, thấy rằng Ông nào mà Mệnh Thân có bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương (viết tắt của bộ 4 sao Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng và Thiên Lương) thêm Trung Tinh đắc cách, mở pḥng mạch thường đông khách kiếm nhiều tiền và rất có tiếng, hơn hẳn các Bác sĩ nào khong có bộ sao này. Cũng có ông bộ Sát Phá Tham đắc cách qủa lên lon rất mau, tuy ở khóa Đàn Em mà ngang lon cùng khóa Đàn Anh, hành nghề giải phẫu cũng rất nổi tiếng.

 

Ta cũng thấy cũng có rất nhiều Bác Sĩ tuy có bằng mà không hành nghề hay làm các công việc khác. Để thấy rằng môn Tử Vi có thể dùng như một bộ môn Trắc Nghiệm Tâm Lư để hướng dẫn chọn nghề cho các Trẻ Em hợp với năng khiếu và sở thích th́ khi vào đời dễ dàng thành công hơn.

 

Trong xă hội Việt Nam phần đông cha mẹ nào cũng muốn cho con cái học ngành Y Khoa để trở thành Bác Sĩ v́ có tương lai và dễ kiếm tiền hơn. Nhưng nếu trẻ em nào mà Lá số thiếu bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương hay Cự Nhật + trung tinh đắc cách cho dù có bằng Bác Sĩ th́ lúc hành nghề cũng chỉ khá hơn các nghề khác, nói đúng hơn là không có khiếu ( mát tay lúc chữa bệnh) nếu theo đuổi ngành khác (thêm bộ Tam Minh Đào Hồng Hỉ) có lẽ lại nổi danh và kiếm tiền nhiều hơn, lại có ích cho xă hội nhiều hơn.

 

Vai tṛ Cộng Nghiệp trên Lá Số Tử Vi

 

Khi xem một Lá số Tử Vi, những lá số của những người liên hệ như Cha Mẹ, Anh Chị Em, người Phối Ngẫu, con cái (mà tôi thường gọi là Vệ Tinh) có ảnh hưởng 2 chiều. Tôi thường dùng chữ Cộng Nghiệp để chỉ sự liên hệ tác động trên các Lá số đó.

 

Ngày xưa các Cụ xem Tử Vi có dùng sự Truyền Tinh từ lá số của Cha hay mẹ với lá số của các người con. Thí dụ Lá số cuả Cha mà cung Mệnh tại Sửu có Thiên Tướng tọa thủ  (đó là cách Phủ Tướng triều viên) tất nhiên cung Tử Tức tại Tuất có Thái Âm. Nếu lá số người con có Thái Âm tại Mệnh đóng tại Tuất th́ các Cụ cho rằng có sự Truyền Tinh hay ngược lại đương số Mệnh đóng tại Sửu có Thiên Tướng cung Phụ Mẫu đóng tại Dần có Đồng Lương, nếu Mệnh của Cha Mẹ có Đồng Lương cũng vậy. Nhiều khi chỉ cần cung Mệnh của Cha Mẹ đóng trùng hợp với cung Phụ Mẫu của Đương Số không cần đúng bộ Sao cũng có ảnh hưởng tác động qua lại giữa 2 lá số.

 

Riêng Tôi thấy trường hợp « thuận » đúng hơn trường hợp « nghịch » v́ một người có thể sinh ra nhiều người con mang nhiều bản số khác nhau. Trước kia dùng lá số của người con để đoán số Cha Mẹ hay dùng lá số của Cha Mẹ để kiểm chứng lá số của con như có vài ông Thầy Tử Vi ngày xưa thường dùng lá số nọ để khẳng định giờ sinh của lá số kia, đôi khi chỉ chính xác trong trường hợp Cộng Nghiệp.

 

Không phải là số nào cũng có vai tṛ Cộng Nghiệp, lúc có, lúc không. Tôi đă xem lá số cho một thân chủ có 5 người con và chỉ ra sự thương yêu , ưu tư, săn sóc lo lắng riêng cho đứa con đó có lá số Cộng Nghiệp ; bà ta rất lấy làm ngạc nhiên, v́ đối với 5 đứa con bà ta ngoài mặt đều thương yêu như nhau, qủa là trong thâm tâm bà ấy có lo lắng đặc biệt cho đứa đó nhất mà chỉ riêng bà ấy biết mà thôi.  

 

Cũng như không phải Lá số nào có cung Tử Tức xấu mà tất cả các con đều xấu hết hay chịu hậu qủa trực tiếp của cung đó. Tôi đă từng xem lá số của một Bà tuổi Nhâm Th́n 1952 có LáSố trong đó cung Tử Tức đóng tại Dậu có Ḱnh H́nh Không Kiếp hội hợp. Bà ta có 4 người con, chỉ có đứa con tuổi Tân Dậu (1981). Mệnh đóng tại Dậu có Thiên H́nh + Địa Kiếp bị liệt lúc mới sinh ra, chỉ đứa con này gánh chịu mọi hậu qủa của H́nh Kiếp, riêng 3 đưá c̣n lại rất b́nh thường. Nhưng có lẽ những năm  Dậu kế tiếp (rơi vào cung Tử Tức của Mẹ) hay năm Tỵ (tiểu hạn trong Lá Số của Mẹ) cũng sẽ bị ảnh hưởng xấu (chưa được kiểm chứng). Nhưng Tôi đă thấy một bản số của người Mẹ có 6 người con (3 trai, 3 gái) có cung Tử Tức: Thái Âm ngộ Điạ Kiếp tại cung Tuất. Điạ Kiếp không những tác động trực tiếp trên 1 đứa con mà c̣n hưởng gián tiếp đến các đứa con c̣n lại, nhiều khi c̣n ảnh hưởng đến Đương Số vào thời điểm mà Thái Âm ngộ Điạ Kiếp hiện diện trên lá số.

 

Bà ta tuổi Quư Hợi (1923) Mệnh đóng tại Sửu có Thiên Tướng ngộ Triệt, cung Tử Tức tại Tuất có Thái Âm đắc cách ngộ Hóa Khoa, Điạ Kiếp và Tuần. Học Tử Vi ai cũng biết Thái Âm (mặt trăng) biểu thị cho con mắt phải, bộ óc, hệ Thần Kinh, ở số là tượng Mẹ, số đàn ông th́ thêm tượng Vợ, ở số đàn bà vừa là Mẹ, vừa là Con Gái. Đương nhiên cầm lá số ai cũng có thể đoán đương số có một người con gái đẹp bị tai nạn hay bệnh tật nguy hiểm nào đó có thể nguy đến tính mạng. Điều này rất đúng v́ Trưởng Nữ của Bà ấy chết lúc c̣n trẻ khoảng 3 tuổi. Có phải Cô gái đầu ḷng chết rồi th́ hết ảnh hưởng của Thái Âm ngộ Địa Kiếp ? V́ Bà ta c̣n 3 cô con gái : Bính Tuất (1946), ẤMùi (1955) và Bính Thân (1956). Một chi tiết trùng hợp kỳ lạ là 2 cô Bính tuất và Bính Thân đều có Mệnh Thân tọa thủ tại Tuất. Chắc chắn là ảnh hưởng của Thái Âm ngộ Địa Kiếp với Hoa Khoa  hoa giải sẽ ứng nghiệm vào 2 tuổi này nhiều hơn là tuổi Ất Mùi. Vào năm Nhâm Tuất 1982 bà ta có nhờ Tôi xem lại các lá số mà tôi đă lấy vào 3 năm trước đó cho cả gia đ́nh và Tôi có đóan là 2 tuổi Tuất và Thân sẽ gặp điều không may vào tháng 9 (tháng Tuất), nếu 2 tuổi đó có thoát nhờ Khoa (+ Tuần) giải th́ chính đương số sẽ có vấn đề về mắt. Quả nhiên tuổi Tuất bị bắt v́ vượt biên đúng tháng Tuất, ở tù 6 tháng; tuổi Thân bên Úc gặp tai nạn xe cộ bị găy xương sườn được bồi thường một số tiền lớn, nhờ số tiền này mà Anh chồng học thành tài. Song đồng thời vài tháng sau Bà ta mắt đang sáng bỗng nhiên bị màng che không thấy ǵ nữa đi đâu cũng phải có người dắt. Tôi lại an ủi Bà ta lúc đó đang chờ ngày Đoàn Tụ với cô tuổi Thân tại Úc và có đoán Bà sẽ khỏi mắt khi sang Úc vào năm Bính Dần 1986 khi tiểu hạn năm Dần rơi vào Cung Tử Tức trên lá số của Bà đó. Lời tiên đoán đă ứng nghiệm v́ khi sang Úc vào năm 1986 bà ta sau khi mổ mắt đă được trở lại b́nh thường như trước (đó là ảnh hưởng của Thái Âm đổi nơi ở, sẽ nói về Âm Dương trong một bài khác).

 

Với những dữ kiện xảy ra trên lá số của Bà Quư Hợi cho ta thấy : không những có sự Cộng Nghiệp trên những bản số liên hệ (có sự truyền tinh) mà c̣n có tính cách Dịch Ly ù (trạng thái động tĩnh) trên một bộ sao như Thái Âm chẳng hạn. Thái Âm đắc cách tại Tuất (mặt trăng sáng về đêm) ngộ Tuần, sách nói là hăm nhưng nếu đổi môi sinh th́ vị trí của Thái Âm cũng thay đổi theo Mệnh Số. Riêng chi tiết này cho ta thấy giờ Tử Vi lấy theo giờ Địa Phương là trúng cách và cách luận đoán Tử Vi về một bộ Sao phải dùng Dịch Lư, sự tốt xấu phải xét tùy theo thời điểm và môi sinh của Đương Số.

 

 

Xem BÀI 2

 

 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt

 Paris  Mùa Xuân Giáp Thân 2004


 

 

   

 

www.ninh-hoa.com