www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 TVI & PHONG THỦY

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 

 
Main Menu

 
 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt


 

 

 

 

TẢN MẠN VỀ
TỬ VI VÀ PHONG THỦY

 

 

BÀI 4

 

NĂM XUNG THÁNG HẠN

 

Lời nói đầu:

 

Từ Đông sang Tây, Khoa Chiêm Tinh nào cũng vậy, đều cho các Hành Tinh trong Thái Dương Hệ có ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của con người. Dựa vào sự quan sát và chiêm nghiệm lưu truyền từ đời nọ đến đời kia, mỗi bộ môn Dự Đoán đều có những kinh nghiệm riêng. Như Khoa Chỉ Tay, nh́n sự đứt đọan của Chỉ Sinh Đạo (hay Mạng Đạo) trên bàn tay, ta có thể biết đương số sẽ gặp rủi ro, tai nạn hay bệnh nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng vào thời điểm hiện lên dấu hiệu đó. Khoa Nhân Tướng Học nh́n vào Ngũ Quan, Lục Phủ hay sắc diện không những đoán cho đương số mà c̣n biết hạn đó ảnh hưởng đến người thân (nh́n vết sẹo hay nét gẫy nơi sống mũi ta có thể đoán vào vận 40-50 ảnh hưởng đến tiền tài hay sự đổ vỡ t́nh cảm, cũng có thể tai nạn hay tật bệnh của người hôn phối). Như Giai Thoại nói về Tướng Sư Tề Đông Giả khi c̣n nhỏ đi với người Chú Dượng (Trại Kim Ngao) và Lư Thuyết Chủy cả hai đều là Tướng Sư khét tiếng tại Hoa Lục viếng Đền Thiên Ất ở ngoại ô Bắc Kinh gặp một đôi trai gái vào Đền xin Quẻ ; chỉ nh́n vào khí sắc trên mặt (Tỵ Lương nổi sắc trắng ứng với dấu hiệu Tang Chế) mà biết rằng đó là 2 anh em ruột, mà không phải là hai vợ chồng và sắp có Tang ông Bố trong ṿng 14 ngày. Khoa Phong Thủy nh́n vào h́nh thể của ngôi nhà (Loan Thể phái =Trường phái Giang Tây) người ta có thể đoán được sự hưng thịnh hay suy tàn của chủ nhân hay con cái. Phái Phúc Kiến (hay Tông Miếu Pháp) dựa vào Lư khí (thời gian và không gian để khảo sát quan hệ biến hoá giữa Con người với Khí hậu Địa Lư (như Vận 8 : 2004-2023) khi Ngũ Hoàng Sát rơi vào hướng Tây Nam + Năm Ất Dậu 2005 (niên vận có Mă Số 1 ứng với Quẻ Khảm-thủy nên đă có vụ sóng thần Tsunami sảy ra ở Phuket ở hướng Tây Nam thủ đô Vọng Các bên Thái Lan) cũng như trận băo Katrina tàn phá tiểu bang NewOrleans, miền Tây Nam nước Mỹ. Vận 8 + niên vận Mậu Tư 2008 ứng với mă số 8 thuộc Quẻ Cấn (hay Sơn chỉ vào núi đồi), hai mă số 5 + 8 trùng phùng đă ứng vào tỉnh Tứ Xuyên (phiá Tây Nam Trung Quốc), trận động đất gây chết chóc hàng trăm ngàn nhân mạng cùng hàng triệu người lâm vào cảnh màn trời chiếu đất.  Không những ở con người ngay cả thú vật (như voi đă biết trước thời điểm nên đă di chuyển lên chỗ đồi núi cao để lánh nạn Sóng Thần). Khi Ngũ Hoàng Sát rơi vào nơi nào th́ rủi ro, tai nạn có thể ứng vào vùng của một nước; đối với cá nhân (trong một gia đ́nh) th́ những người thuộc Tây Tứ Trạch dễ lánh hậu quả (tai nạn, bệnh tật). Khoa Tử Vi dựa vào hạn Cửu Diệu (chỉ cần biết năm sinh), nếu biết thêm giờ sinh lập Lá Số Tử Vi nh́n vào vận hạn (tiểu hạn, đại vận hay lưu niên đại vận) ta có thể đoán sự rủi ro (tai nạn hay tật bệnh) cho cá nhân đó.

 

     Bài này Kết hợp giữa Tử Vi (chỉ dựa vào năm, tháng) và ṿng Sao Cửu Diệu để chỉ rơ các năm Âm Lịch (tuổi Dương Lịch + 1) nào thuộc 60 tuổi các vận hạn xấu (trùng phùng nhiều dấu hiệu xấu) có thể hay sẽ sảy trong cuộc đời, nhờ đó, nếu biết trước ta có thể giảm nhẹ tai ương, tật bệnh, nếu chẳng may gặp phải.

 

 

Phần I

 

Hạn Cửu Diệu, Tam Tai và Lục Sát Tinh

  

     Thiên nhiên cũng như con người, có lúc trăng thanh gió mát, lúc hạn hán, băo lụt hay động đất. Nh́n vào bầu trời ngày hôm trước, người nông dân có thể biết ngày mai mưa hay nắng. Đó là do sự quan sát được chiêm nghiệm nhiều lần, cộng thêm kinh nghiệm của người xưa truyền lại. Ngày xưa, thời Cổ Đại, cổ nhân chỉ biết ảnh hưởng (tốt hay xấu) của các hành tinh trong Thái Dương Hệ tác động vào con người do sự chiêm nghiệm lâu đời và cho rằng có tính thần bí, mọi hiện tượng xảy ra đều cho là do Thần Linh tác họa. Khoa học ngày nay đă chứng minh được : con người từ khi c̣n là bào thai đến lúc trở thành cá thể đều chịu ảnh hưởng của sức cảm ứng từ trường của trái đất cũng như các hành tinh. V́ mỗi tế bào trong cơ thể là 1 nam châm nhỏ, máu trong con người có nhiều chất sắt chịu ảnh hưởng của Từ Lực mà trái đất có thể coi như một Nam Châm khổng lồ. Các hành tinh phát ra các xạ tuyến (alpha, bêta, gama…) có ảnh hưởng nhiều đến cơ thể con người, tùy theo nhịp độ Sinh Học tiếp nhận mà biết được chu kỳ tốt xấu. Hiện tượng « Mả Phát » trong Phong Thủy là do xương cốt của người chết táng vào huyệt tốt, dù đă chết đi hài cốt đó vẫn tiếp thu « cảm ứng bức xạ của Địa Từ » v́ có hiệu ứng tĩnh điện riêng. Do quan hệ huyết thống mà dẫn đến « bức xạ nhân tử » trực tiếp cảm ứng với con cháu trong ḍng họ; cũng giống như máy thu thanh nếu điều chỉnh đúng Tần Số th́ mới bắt được làn sóng do Đài Phát Thanh phát ra !

 

1)     Hạn Cửu Diệu

    

     Người xưa cho rằng có 9 ngôi Sao (gọi là Cửu Diệu) có ảnh hưởng đến vận mệnh của con người (nam cũng như nữ) tùy theo tuổi Âm Lịch. Đó là các Sao: Thái Dương, Thái Âm, Mộc Đức, Vân Hớn, Thổ Tú, Thái Bạch, Thủy Diệu, La Hầu và Kế Đô. Trong 9 sao trên chỉ có 3 sao La Hầu, Kế Đô và Thái Bạch là dễ có nhiều ảnh hưởng rất xấu tác động đến vận hạn của con người. Thí dụ mọi người, dù Nam hay Nữ ở lứa tuổi (1, 10, 19, 28, 37, 46, 55, 64, 73, 81, 90…) đó là Cấp Số Cộng có số hạng đầu là 1, công sai là 9. Nam th́ gặp La Hầu, Nữ gặp Kế Đô nên kinh nghiệm dân gian mới có câu « Nam La Hầu, Nữ Kế Đô » là để chỉ những năm dữ dằn trong cuộc đời. Các sao trong hạn Cửu Diệu, đó là :

 

a)      Thái Dương là sao Hỏa chủ về Quan Lộc, lợi cho Nam mạng về Công Danh và Tài Lộc, càng xa xứ, đổi dời nhiều càng tốt. Tháng 6, tháng 10 là những tháng tốt, tài lộc dồi dào. Ít lợi cho Nữ mạng, nhất là những người mạng Kim, mạng Mộc. Dễ có vấn đề Tim Mạch và Mắt, riêng đối với Nữ mạng c̣n có vấn đề Khí Huyết.

Nam mạng thuộc lứa tuổi : 14, 23, 32, 41, 50, 59, 68, 77, 86, 95…

Nữ mạng thuộc lứa tuổi : 16, 25, 34, 43, 52, 61, 70, 79, 87, 96…

 

b)     Thái Âm là sao Thủy chủ về Quan Lộc, nghiêng nhiều về Tiền bạc, lợi cho Nữ mạng, càng xa xứ, đổi dời nhiều càng có lợi. Tháng 11 là tháng kị. Đối với Nữ mạng dễ có vấn đề về Khí Huyết, nhất là mạng Kim, mạng Hỏa, dễ bị đau đầu mắt yếu, ḷng nhiều bất ổn, bất an, mất ngủ.

Nam mạng thuộc lứa tuổi : 17, 26, 35, 44, 53, 62, 71, 80, 89, 98…

Nữ mạng thuộc lứa tuổi :  13, 22, 31, 40, 49, 58, 67, 76, 85, 94…

 

c)     Mộc Đức  là sao Mộc hạn lành, nhờ Ân Quư chức vụ danh lợi cả hai đều vượng. Nhờ Lộc Mă tiền bạc dồi dào, gia đạo vui vẻ b́nh an. Tháng 10 và tháng Chạp là những tháng tốt mưu sự hanh thông, công danh thăng tiến, tài lộc dồi dào, mưu cầu luôn luôn được toại nguyện.

Nam mạng thuộc lứa tuổi : 15, 24, 33, 42, 51, 60, 69, 78, 87, 96…

Nữ mạng thuộc lứa tuổi : 11, 20, 29, 38, 47, 56, 65, 74, 83, 92…

 

d)     Vân Hớn là sao Hỏa tính nết ngang tàng nóng nảy dễ gây xích mích với mọi người, dễ bị khẩu thiệt, thị phi;  nặng có thể đưa nhau ra toà. Gặp hạn nên mềm mỏng trong đối thoại, nhất là trong các tháng kị (2, 8), dễ bị người thù oán, ghen ghét. Đàn bà dễ có vấn đề về Khí Huyết.  

Nam mạng thuộc lứa tuổi : 15, 24, 33, 42, 51, 60, 69, 78, 87, 96…

Nữ mạng thuộc lứa tuổi : 11, 20, 29, 38, 47, 56, 65, 74, 83, 92…

 

e)     Thổ Tú là sao Thổ dễ gặp chuyện buồn, dễ gây bất ḥa với mọi người, thân cũng như sơ. Đi đâu cũng không vừa ḷng vừa ư. Đề pḥng tiểu nhân, nhất là trong các tháng kị (4, 8), có ảnh hưởng nhiều đến  mạng Kim và mạng Thủy.

Nam mạng thuộc lứa tuổi : 2, 11, 20, 29, 38, 47, 56, 65, 74, 83, 92…

Nữ mạng thuộc lứa tuổi : 5, 14, 23, 32, 41, 50, 59, 68, 77, 86, 95…

 

f)      Thủy Diệu là sao Thủy hung kiết cân đồng, tuy nhiên theo kinh nghiệm lành nhiều với Nam mạng, dữ đối với Nữ mạng. Càng xa xứ có lợi cho công danh tài lộc. Đàn ông dễ có vấn đề Tai, Thận. Đàn bà dễ bị hàm oan, công việc nhiều trở ngại, khí huyết kém.

Nam mạng thuộc lứa tuổi :  3, 12, 21, 30, 39, 48, 57, 66, 75, 84, 93…

Nữ mạng thuộc lứa tuổi :  9, 18, 27,36, 45, 54, 63, 72, 81, 90, 99 …

 

g)     Thái Bạch là sao Kim, nửa cát nửa hung, bất lợi nhiều cho Nữ mạng, chủ về ưu sầu, tai ương, hao tài tốn của, rủi ro, tật bệnh dễ đến bất thần trong tháng kị (tháng 5). Cữ  mặc màu trắng, đầu tư, cho vay mượn. Bất lợi nhiều đối với mạng Mộc, các tuổi có hàng Can Giáp Ất.

Nam mạng thuộc lứa tuổi :  4, 13,  22, 31, 40, 49, 58, 67, 76, 85, 94…

Nữ mạng thuộc lứa tuổi :  8, 17, 26, 35, 44, 53, 63, 71, 80, 89, 98…

 

h)     La Hầu  là sao Mộc, đại kị cho nam giới chủ về ưu sầu tai ương, rầy rà pháp luật, hao tài tốn của, rủi ro và tật bệnh dễ đến bất thần, nhất là trong các tháng kị (tháng giêng và tháng 7). Nữ mạng ḷng nhiều bất ổn, sức khỏe kém và dễ có vấn đề về khí huyết. Bất lợi nhiều cho các tuổi mạng Thổ có hàng Can Mậu Kỷ.

Nam mạng thuộc lứa tuổi : 1, 10, 19, 28, 37, 46, 55, 64, 73, 82, 91…

Nữ mạng thuộc lứa tuổi : 6, 15, 24, 33, 42, 51, 60, 69, 78, 87, 96… 

 

 i)  Kế Đô  là sao Kim, đại kị cho Nữ giới, chủ về ưu sầu tai ương rầy rà quan sự, hao tài tốn của, rủi ro và tật bệnh dễ đến bất thần, nhất là trong các tháng kị (tháng 3 và tháng 9). Riêng với Nam mạng độ xấu ít hơn. Bất lợi nhiều cho mạng Kim, Mộc có hàng Can Giáp Ất.

Nam mạng thuộc lứa tuổi : 7, 16, 25, 34, 43, 52, 61, 70, 79, 87, 96…

Nữ mạng thuộc lứa tuổi : 10, 19, 28, 37, 46, 55, 64, 73, 82, 91…

 

     Chú Thích:  Các dăy số trên đều là những Cấp Số Cộng có công sai r = 9 . Để dễ nhớ ta để ư rằng như Hạn La Hầu của Nam : số hạng đầu là 1 th́ những số hạng sau cộng lại 2 số nhỏ hơn 10 đều bằng 1, thí dụ như số hạng 46: 4 + 6 = 10, 1 + 0 = 1; của Nữ số hạng đầu là 6 th́ các số hạng sau cộng lại 2 số sao cho nhỏ hơn 10 cũng bằng 6, thí dụ như số hạng 78 : 7 + 8 = 15 > 10 nên 1 + 5 = 6. Các dăy số khác cũng vậy.

 

 

 

 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt

 

Paris 2008.

 


 

 

   

 

www.ninh-hoa.com