www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 TVI & PHONG THỦY

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 

 
Main Menu

 
 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt


 

 

 

 

TẢN MẠN VỀ
TỬ VI VÀ PHONG THỦY

 

 

BÀI 4

 

NĂM XUNG THÁNG HẠN

 

Phần III

Các  GIAI THOẠI về NĂM XUNG THÁNG HẠN


 

Lá Số Tử Vi của Vua Quang Trung

 

Đại phá 20 vạn Quân Thanh :

  

Mùa Thu năm Mậu Thân 1788 vua Càn Long mật dụ cho Tổng Đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị đem quân Thiên Triều sang để phù Lê diệt Tây Sơn, cho các quan nhà Lê về nước cũ (các quan đă theo Hoàng Thái Hậu và Hoàng Phi sang Tàu), t́m Tự Quân nhà Lê (tức Chiêu Thống đang trốn tránh). Tôn Sĩ Nghị lấy quân 4 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quí Châu và Vân Nam được 20 vạn chia làm 3 đạo: Một đạo do quan Tổng Binh Vân Nam và Quí Châu chỉ huy sang mạn Tuyên Quang, Sơn Tây; một đạo do quan Tri phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống chỉ huy sang mạn Cao Bằng; c̣n Đại quân do Tôn Sĩ Nghị với Đề Đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy, hướng Lạng Sơn trực chỉ Thăng Long. Xuất quân ngày 20 tháng 10 năm Mậu Thân gần 1 tháng mới tới Kinh Bắc, Vua Lê Chiêu Thống đang lẩn trốn trong vùng đó ra chào mừng Nghị. Tướng Tây Sơn Ngô văn Sở nghe lời Ngô Thời Nhiệm rút lui chiến lược về Tam Điệp bỏ ngỏ Đông Kinh. Nghị và Vua Lê vào Đông Kinh ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân 1788.

 

Ngày 24 tháng 11 năm Mậu Thân Vương ở Phú Xuân được tin cấp báo của tướng Ngô văn Sở rằng quân Thanh 20 vạn đă tiến vào Đông Kinh c̣n ḿnh rút toàn lực lượng về trấn giữ Tam Điệp. Vương bàn với chư tướng, th́ mọi người đều tâu xin Vương lên ngôi Hoàng Đế để danh chính ngôn thuận. Ngay sáng hôm sau (25 tháng 11năm Mậu Thân = 22/12/1788) trên đàn Nam Giao mới đắp ở núi Bàn Sơn, phía Nam núi Ngự B́nh, Vương làm lễ tế cáo Trời Đất và lên ngôi Hoàng Đế, lấy Niên hiệu là Quang Trung (tiểu vận Thái Tuế đủ bộ Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Tham Liêm hội Trung Tinh đắc cách : Quần Thần Khánh Hội).

 

Sau khi lên ngôi Vua ra lệnh tiến quân, chỉ 5 ngày tới Nghệ An, mộ thêm lính Nghệ, huấn luyện tướng sĩ. Ngày 11 tháng Chạp năm Mậu Thân Vua tiến quân ra Bắc, tới núi Tam Điệp ngày 20 (Vua và chư tướng đi ngựa, 100.000 quân lính luân phiến đi cáng cùng 100 thớt voi). Bọn Ngô văn Sở và Ngô thời Nhiệm tới trước mặt Vua tạ tội, kể chuyện quân Tàu thế mạnh, sợ đánh không nổi, nên phải lui về giữ chỗ hiểm yếu. Vua tha tội rồi cười nói rằng: « Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đă định sẵn mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 nước ta, sau khi chúng thua 1 trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế th́ đánh nhau măi không thôi, dân ta hại nhiều,Ta đâu nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, th́ phải nhờ Thời Nhiệm dùng lời nói khéo để đ́nh chỉ chiến tranh. Đợi mươi  năm nữa nước ta phú cường rồi th́ ta đâu sợ chúng nữa ».

 

Vua cho toàn quân nghỉ 10 ngày ăn Tết (tức là cho ăn Tết trước ngày mồng một Tết năm Kỷ Dậu 1789). Biết trước tin Sĩ Nghị sẽ xuất chinh ngày mồng 6 Tết, như vậy tin chắc quân Thanh và quân nhà Lê sẽ ăn Tết phè phỡn linh đ́nh, trễ nải canh pḥng, Vua bèn xuất chinh ngày 30 tháng chạp ra sức xuất kỳ bất ư, dốc toàn lực tấn công mạnh trước ngày mồng 6 và hẹn  mồng 7 vào Thăng Long để ăn mừng Chiến Thắng (một kỳ tài của Thất Sát triều đẩu + Khoa).

 

Vua chia quân ra làm 3 cánh :

-Trung Quân do chính Vua chỉ huy với Đại Tư Mă Ngô văn Sở và Nội hầu Phan văn Lân làm tiên phong tiến thẳng vào Thăng Long.

- Hữu Quân do 2  Đô đốc Lộc và Tuyết chỉ huy đem Thủy quân vượt biển vào sông Lục Đầu rồi Tuyết đem quân đến Hải Dương pháđồn Thanh tại đó rồi lên tiếp ứng mé Đông Thăng Long ; Lộc dẫn quân lên vùng Yên Thế để chặn quân Tàu chạy về nước.

- Tả Quân do 2 Đô Đốc Bảo và Mưu điều quân với đại bác đặt trên lưng voi, đi đường núi đánh về phía Tây Thăng Long, riêng Mưu sẽ đánh quân Điền Châu của Sầm Nghi Đống ở g̣ Đống Đa c̣n Bảo sẽ tiếp ứng cho Trung Quân đánh mặt tả đồn Ngọc Hồi của Hứa Thế Hanh.

 

Cuộc chiến 6 ngày :

Xuất quân tối ngày 30  từ Tam Điệp đến Ninh B́nh (20 km) quân Tây Sơn ào tới chém giết quân Nhà Lê; Trấn thủ Sơn Nam là Hoàng Phùng Nghĩa hoảng sợ bỏ chạy về sông Thanh Quyết tỉnh Hà Nam. Vua hạ lệnh cắm trại nghỉ một đêm, sáng mồng 1 vượt sông Thanh Quyết đến tối đánh Hà Nam bắt trọn ổ không sót một tên để chạy về Thăng Long báo tin. Đêm mồng 2 Tết tấn công đồn quân Thanh tại Phú Xuyên (cách Hà Nam 15km), bắt hết quân trong đồn không 1 ai trốn thoát. Từ Phú Xuyên đến Hà Hồi (15 km) vượt qua 2 con sông, nửa đêm Vua cho vây kín đồn mà ở trong không hay biết. Quân Thanh hỏang sợ kéo cờ hàng.

 

Đô Đốc Mưu đi đường thượng đạo đến g̣ Đống Đa tối mồng 4 tết cho quân bao vây đồn đóng trên g̣ do tri phủ Điền Châu là Sầm nghi Đống trấn giữ (đồn này chỉ cách Thăng Long chừng 5 km về phía Tây). Cuộc chiến rất ác liệt suốt đêm, bắn hết đạn, quân chết dần lại không được cứu viện Sầm Nghi Đống treo cổ lên cây đa tự tử !

 

Sau khi tiếp thu đồn Hà Hồi đêm mồng 3 Tết, Vua cho quân sĩ nghỉ ngơi, đợi cánh tả quân của Đô Đốc Bảo với 100 thớt voi cùng đại bác đă đến điểm hẹn, Vua hạ lệnh tấn công đồn Ngọc Hồi (cách Hà Hồi 15km) do Đề đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy mờ sáng mồng 5 Tết. Quân Thanh ở trong đồn đă chuẩn bị bắn súng ra như mưa. Vua sai làm những tấm ván lớn do 3 mảnh ghép lại, ngoài bện rơm thấm nước, cho 10 quân khiêng ở mặt sau, lưng đeo đoản đao, theo sau nữa là 20 khinh binh cầm khí giới dài. Rồi cho thả hơn 100 con voi chiến đi trước, khiến kỵ binh và ngựa quân Thanh hoảng sợ, chạy tán loạn. Quân ta khiêng những tấm ván cản đạn tiến lên, đến cửa đồn  bỏ ván xuống đè lên chông ḿn, thuốc nổ của giặc đồng lọat  ùa vào chém giết. Vua cổ quấn khăn vàng cưỡi voi đốc chiến. Trời tối như mực, không trăng sao hai bên giáp lá cà chỉ nghe tiếng gào thét và tiếng binh khí va chạm nhau. Quân Thanh chết như rạ, đề đốc Hứa Thế Hanh tử trận.

 

Về phần Tôn Sĩ Nghị, nửa đêm mồng 4 Tết, nghe tin đánh dữ ở Đống Đa, sai tướng Thăng Hùng Nghiệp đi cứu viện, chưa kịp đi th́ kỵ binh do thám đă về báo Đống Đa thất thủ, Sầm Nghi Đống treo cổ tự tử. Sĩ Nghị mất tinh thần, không kịp mặc áo giáp, ngựa không kịp thắng yên, bỏ cung Tây Long vượt qua cầu phao, hướng về Kinh Bắc. Vua Lê Chiêu Thống đưa Hoàng Thái  Hậu và Hoàng Tử chạy theo. Quân Thanh ùn ùn đạp lên nhau chạy lên cầu phao, cầu bị nặng gẫy sụp, làm hàng vạn quân Thanh chết đuối.

Trưa mồng 5 Tết, Vua Quang Trung tiến vào Thăng Long với áo ngự bào đen như mực, v́ bị ám khói súng (như vậy là sớm hơn 2 ngày hạn định mà Vua đă phán khi xuất quân từ Tam Địêp). 

 

Cung Thê Thiếp và cung Tử Tức

Cung Thê Thiếp đóng tại Ngọ (hỏa) có Liêm Trinh, Thiên Tướng hội Long Phượng Xương Khúc đăn hiềm Linh Hỏa Ḱnh Đà Tang Kị chiếu. Cung Tử Tức đóng tại Tỵ (hỏa) có Cự Môn ngộ Kiếp Sát, Thiên H́nh thêm Địa Kiếp Địa Không, Phục Binh chiếu.

 

Vợ Cả của Vua họ  Bùi (em gái Thái Sư  Bùi Đắc Tuyên) lấy năm Nhâm Dần 1782 (tiểu hạn vào cung Thân), năm sau Quư Măo 1783 sinh con Trai Nguyễn Quang Toản (tiểu hạn vào cung Tử Tức) sau Vua Quang Trung đột ngột băng hà, Thái Tử Toản lúc đó 10 tuổi lên ngôi lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh. Toản c̣n có 2 em trai cùng Mẹ là Quang Thùy và Quang Thiệu.

 

Năm Bính Ngọ 1786 khi kéo quân ra Bắc với danh hiệu phù Lê diệt Trịnh, Vua được Vua Lê Hiển Tông gả Công Chúa Út  Ngọc Hân (sinh năm Canh Dần 1770 lúc đó 17 tuổi (tiểu hạn vào cung Thê tại Ngọ). Năm Mậu Thân 1788 khi lên ngôi Hoàng Đế, Vua phong Ngọc Hân làm Bắc Cung Hoàng Hậu (Nam Cung là Bùi  Hoàng Hậu). Ngọc Hân mới chính là h́nh ảnh Liêm Tướng Long Phượng Xương Khúc trong cung Thê của Vua. Bài thơ khóc Vua nhan đề Ai Tư Vấn trong đó có mấy câu điển h́nh cho ta thấy «tài sắc vẹn toàn» của Bắc Cung:

 

Từ nắng hạ, mưa Thu trái tiết,

Xót ḿnh Rồng mỏi mệt chẳng yên !

Xiết bao kinh sợ lo phiền,

Miếu Thần đă đảo, thuốc Tiên lại cầu.

Khắp mọi chốn đâu đâu t́m rước,

Phương pháp nào đổi được cùng chăng ?

Ngán thay máy Tạo bất bằng,

Bóng mây thoắt đă ngắt chừng xe Loan !

 

Bắc Cung Hng Hậu có 1 trai là Quang Đức và 1 gái là Ngọc Bảo.

V́ hầu hết Hung Sát Tinh chiếu Cung Thê và cung Tử nên vợ con Vua đều chết thảm dưới sự trả thù tàn độc của vua Gia Long.

 Tháng 8 năm Nhâm Tuất 1802 vua Gia Long về Kinh Đô Phú Xuân đem vua tôi Tây Sơn về làm « lễ hiến phù ».

 

Quang Toản, Quang Thiệu và các tướng Tây Sơn bị đưa ra pháp trường xử tử. Theo lời kể của Cố Đạo Lemonnier de la Bissachère do một giáo dân được mục kích cuộc hành h́nh :

Họ đào mả Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc và Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đem 2 bộ xương khô tới pháp trường vứt bừa băi xuống đất, sai lính đái vào 2 đầu lâu, để Quang Toản nh́n thấy mà đau khổ. Rồi đập nát những bộ xương ấy. Xong rồi họ cho các phạm nhân một bữa cơm ngon, nhưng chỉ có ḿnh Quang Toản ăn c̣n Quang Thiệu không chịu ăn. Đao phủ căng dây 4 chân tay của Toản rồi cho 4 con voi xé ra làm 4 mảnh, đầu chặt sau. Thiệu cùng tướng Trần Quang Diệu bị chém đầu. Nữ tướng Bùi thị Xuân vợ Diệu cùng con gái 13 tuổi bị voi xé xác. (Quang Thùy tự vẫn khi bị bắt tháng 7 /1802)

 

Bắc Cung Hoàng Hậu đem 2 con thơ Quang Đức 14 tuổi và Ngọc Bảo 12 tuổi trốn xuống Quảng Nam; sau bị bắt, bà bị ép uống thuốc độc tự tử c̣n 2 con bị thắt cổ chết, chấm dứt  30 năm của triều đại Tây Sơn (1773-1802).

 

Ấp Tây Sơn nằm trong rừng đồi An Khê là nơi có nhiều tài nguyên về người, voi, ngựa, sắt, gỗ. Địa thế lại hiểm trở, từ Quy Nhơn đến An Khê chỉ có độc nhất con đường «sạn đạo» hẹp nằm giữa rừng cao nhiều thú dữ (nay là Quốc lộ 19). Đó là địa lợi cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

 

Truyền thuyết nói Mả của Ông Tổ của ḍng họ Tây Sơn được táng vào ngôi huyệt quư trên núi vùng Tây Sơn. Những tay Long Hổ Án Sa đều h́nh tṛn (nên gọi là con Kim). V́ mạch Sơn Cước khi kết phát th́ phát vơ tuy Anh hùng cường liệt, phát nhanh và không bền, v́ trên núi, nên Minh Đường thiếu Thủy Tụ nên Đa sát (không những cho Thiên hạ mà c̣n con cháu của ḍng Họ). Vua Quang Trung tuổi Nhâm Thân  mạng Kim (can Nhâm thủy, chi Thân kim) được hưởng trọn của ngôi Mộ kết phát (Nhạc tuổi Kỷ Tỵ mạng Mộc, Lữ tuổi Tân Mùi mạng Thổ). Như trên ta đă thấy Anh hùng cường liệt ở 2 trận Xoài Mút và Đống Đa. Không bền : Vua chết năm 40 tuổi, sự nghiệp nửa đường đứt gánh (bỏ tục lệ cống phẩm sang Tàu bằng người vàng; thay chữ Nôm làm văn tự chính thức của Quốc Gia; chuẩn bị đánh nhà Thanh). Đa sát: vợ con chết thảm dưới sự trả thù của Gia Long.

 

 Đón Xem PHẦN 29:

 

 

 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt
 

 


 

 

   

 

www.ninh-hoa.com