www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 TVI & PHONG THỦY

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 

 
Main Menu

 
 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt


 

 

 

 

TẢN MẠN VỀ
TỬ VI VÀ PHONG THỦY

 

 

BÀI 4

 

NĂM XUNG THÁNG HẠN

 

Phần III

Các  GIAI THOẠI về NĂM XUNG THÁNG HẠN


 

Lá Số Tử Vi của Vua Quang Trung


Vua Quang Trung sinh giờ Tuất ngày 5 tháng 5 năm Nhâm Thân (1752). Mệnh đóng tại cung Thân (kim) có Thất Sát (kim phù Mệnh Kim đắc cách: Thất Sát triều đẩu - Thất Sát Dần Thân nhất sinh tước lộc vinh xương: phú quư tột bực) hội Thái Tuế, Khoa Quyền Tả Hữu. THÂN cư Tài Bạch tại Th́n (thổ sinh kim) có Tham Lang miếu vượng phùng Bạch Hổ, Ḱnh (đắc địa) hội Hỏa Linh (danh trấn chư bang - uy quyền lừng lẫy). Cung Quan Lộc tại Tư có Phá Quân (Phá Quân Tư Ngọ gia quan tiến lộc: phú quư song toàn, ngộ Ḱnh: uy vũ bất khuất). Đó là lá số Sát Phá Tham cách (cả 3 sao đều  miếu vượng hội Ḱnh H́nh Linh Hỏa đắc địa) hội Tử Phủ + Trung Tinh đắc cách (Long Phượng Hổ Cái Khoa Quyền Tả Hữu Xương Khúc). Mệnh Thái Tuế + Sát Phá Tham + Khoa Quyền: Văn vơ song toàn, tự cho ḿnh có sứ mạng chính danh v́ Dân v́ Nước mà hành động; Thất Sát + Bạch Hổ + Ḱnh = Bạo Hổ băng hà (hổ dữ qua sông) nhưng Thất Sát tại Mệnh (yểu tử: vua chết lúc 40 tuổi),  Phá Tham + Ḱnh Hỏa Linh = bách chiến bách thắng, không có đối thủ (độc cô cầu bại). Hóa Khoa tại Mệnh (đi với Cơ Nguyệt Đồng Lương hay Cự Nhật + Xương Khúc: số đại khoa, thông minh làm bất cứ việc ǵ cũng thành công, đi với Sát Phá Tham đắc cách: có tài Đại Tướng bài binh bố trận, cầm quân như Napoléon đánh đâu thắng đó). Sát Phá Tham Đắc cách hội Tử Phủ Tứ Linh Khoa Quyền như  ta đă thấy tài dụng binh thần tốc chỉ trong 15 ngày từ Phú Xuân ra Thăng Long, trong 6 ngày đă phá tan 20 vạn quân Thanh với chiến công rực rỡ Mùa Xuân Kỷ Dậu 1789, một Vơ công oanh liệt bậc nhất trên Hoàn Cầu. Vua không những giỏi về bài binh bố trận, mà c̣n biết quư trọng Hiền Sĩ, với La Sơn Phu Tử là một trường hợp điển h́nh. Biết xử dụng người tài như Ngô Thời Nhiệm, không câu nệ người của Triều Đ́nh cũ; xử dụng Chữ Nôm để không lệ thuộc vào chữ Hán. Truyền thuyết nói Vua có cặp mắt Thư Hùng (mắt to mắt nhỏ v́ cung Giải Ách có Thái Âm ngộ Triệt, Thái Dương chiếu ngộ Tuần). Bản chất độ lượng từ tâm, quân tử, không hẹp ḥi, tàn nhẫn dù đối  với kẻ thù (cho Vương táng đối với Trịnh Khải).
 

Ḍng dơi của Vua Quang Trung
 

Ba anh em Tây Sơn : Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ thực sự là họ Hồ, có cùng một ông Tổ với Hồ Quư Ly (tên thật là Lê Quư Ly có con gái là Hoàng Hậu của vua Trần Thuận Tông, sau bị Ly giết lên ngôi đổi lại họ Hồ niên hiệu Thanh Nguyên, quốc hiệu là Đại Ngu, xây kinh thành Tây Đô tại An Tôn tỉnh Thanh Hóa - làm vua được 7 năm. Năm Đinh Hợi 1407 bị Quân nhà Minh bắt cả 2 cha con cùng với Nguyễn Phi Khanh, bố của Nguyễn Trăi, đem về Tàu) là ông Hồ Hưng Bật gốc ở tỉnh Chiết Giang bên Tàu. Bật được nhà  Nam  Hán cử sang làm Thái Thú Diễn Châu năm Canh Dần 930. Về sau Bật ở lại huyện Quỳnh Lưu (Diễn Châu) biến thành Trại Chủ. Về sau phần lớn  hậu duệ của họ Hồ định  cư  tại Nghi Xuân (Nghệ An). Hồi Trịnh Nguyễn phân tranh, năm Ất Mùi 1655, Chúa Nguyễn Hiền Vương sai tướng ra đánh Trịnh tại Nghệ An chiếm được 7 huyện trong đó có Huyện Nghi Xuân. Trong 5 năm chiếm đóng Chúa Hiền ra lệnh bắt nhiều gia đ́nh của 7 huyện phải dời cư vào những vùng mới chiếm được của Chiêm Thành tại Phú Yên, Diên Khánh (B́nh Định ngày nay)  để khẩn hoang. Đa số bị định cư tại ấp Tây Sơn, trong đó có gia đ́nh họ Hồ. Đến đời thứ ba là Hồ Phi Phúc (1690 – 1760) sinh được 3 con trai là Nhạc, Lữ, Huệ.

Năm Tân Măo 1771 Nhạc thấy Trương Phúc Loan chuyên quyền, ḷng dân oán giận, bèn rủ 2 em là Lữ và Huệ đổi thành họ Nguyễn, dựng lên chiêu bài «diệt Trương Phúc Loan pḥ Chúa Nguyễn » để thu phục Nhân Tâm. Sau khi Vua Quang Trung đại phá quân Thanh (mùa xuân Kỷ Dậu 1789) tuy đóng đô ở Phú xuân (Huế hiện nay) vẫn không quên đất Tổ ở Nghệ An bèn cho xây ở vùng này một Kinh Đô mới gọi là Phượng Hoàng Trung Đô. 

Cung Phúc Đức: đóng tại Tuất (thổ sinh kim mệnh) có Vũ Tham đắc địa + Mă Khốc Khách (Tử Phủ Vũ Tướng) cho ta thấy Vương không phải là « Nông Dân Áo vải dựng cờ » cũng là ḍng dơi Quư Tộc « một thời vang bóng » v́ Tang Kỵ Tuần  nên ḍng họ ch́m nổi bị phân tán bốn phương. Đến cung Phụ Mẫu bị Phục Binh + Địa Kiếp, tuy 3 đời trước bị di dân từ Nghệ An vào khai khẩn đất hoang của Chiêm Thành, lúc đầu có khó khăn nhưng đến đời Cha là Hồ Phi Phúc cũng đă trở thành điền chủ giầu có. Cung Huynh Đệ có Song Lộc Hồng Hỉ Thanh Long Lưu Hà nên sự nghiệp của Vương bắt đầu từ sự kết hợp của Anh Em (Nhạc và Lữ). Nhạc giầu có nhờ Kinh Doanh, năm Quư Tỵ 1773 đă dùng mưu chiếm Quy Nhơn. Năm Bính Thân 1776 sau khi Lữ chiếm được Gia Định, Nhạc thấy thế đă mạnh tự xưng là Tây Sơn Vương, đến năm Mậu Tuất 1778 xưng Đế, đặt niên hiệu là Thái Đức đổi Kinh Đô Đồ Bàn làm Hoàng Đế Thành. 
 

Các Đại Vận 10 năm
 

Đại Vận 15 - 24 tuổi  tại cung Phụ Mẫu có Thiên Đồng ngộ Thiên Không, Đào Hỉ, Phục Binh, Địa Kiếp đă báo hiệu những Trận chiến tàn khốc (Sát Phá Tham ngộ Không Kiếp) nhờ Tam Minh đă có tiếng vang: năm Quư Tỵ 1771 tiểu hạn vào cung Huynh Đệ nên Anh Em đă dấy binh chiếm được Quy Nhơn, trong Đại Vận này vẫn trong ṿng kiềm tỏa của Anh Em và gia đ́nh (lúc đó Vương mới 20 tuổi).

Đại Vận từ 25-34 tuổi  tại Cung Phúc Đức bắt đầu  từ Bính Thân 1776 (vận Thái Tuế: lưu Thái Tuế tại Mệnh) sự nghiệp của Huệ mới ló rạng! Chính năm này Nguyễn Nhạc xưng Vương phong cho Lữ làm Tiết Chế, Huệ (25 tuổi, vận Thái Tuế) làm Long Nhượng Tướng Quân.  Tuy chiếm được Gia Định từ năm 1776 nhưng 2 năm sau Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định, rồi lại tái chiếm. Năm Giáp Th́n 1784, Ánh cầu cứu quân Xiêm bị Huệ dùng phục binh trong Trận Rạch Gầm - Xoài Mút đă phá tan 300 chiến thuyền chỉ c̣n 2 ngàn tàn quân thoát lên Cao Miên rồi chạy về nước cùng với Ánh (tiểu hạn Ở Cung Thê, lưu Thái Tuế vào Thân ở Tài Bạch có Sát Phá Tham ngộ Ḱnh, Hỏa Linh). Nhà Tây Sơn lúc Nguyễn Nhạc xưng Đế  cũng chỉ giới hạn từ Quảng Ngăi gồm Quy Nhơn đến Phú Yên (dài chừng 150 km) tuy có chiếm được Gia Định nhưng Nguyễn Ánh lúc nhờ Giám Mục Bá Đa Lộc đi Pháp cầu viện, lúc cầu viện Xiêm La nên Tây Sơn vào Gia Định đến lần thứ 5 (Đinh Mùi 1787) miền bắc từ Thuận Hóa trở ra vẫn thuộc quyền Nhà Trịnh.

Đại Vận 35-44 tuổi   tại cung Điền Trạch tại Hợi bắt đầu từ Bính Ngọ 1786 (tiểu vận vào Mệnh - vận Thái Tuế) được Nhật Nguyệt ngộ Tuần hội Song Lộc, Khôi Việt, Tướng Ấn, sự nghiệp của Vương (đựơc tấn phong B́nh Định vương) bắt đầu sáng chói.

Sau khi đánh tan 2 vạn quân Xiêm trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút ngày 25-1-1785 (cuối năm Giáp Th́n) Huệ về Hoàng Đế thành nghỉ ngơi. Tháng 6 năm 1786 (Bính Ngọ) Nhạc sai Huệ chiếm Thuận Hóa. Tháng 7 năm 1786, nghe lời Quận Bằng Nguyễn Hửu Chỉnh, Huệ tự chuyên kéo quân ra Bắc mang danh nghĩa « Phù Lê diệt Trịnh ». Trong một cuộc hành quân chớp nhoáng Huệ đánh tan quân của tướng Trịnh là Đinh Tích Nhưỡng ở cửa Luộc, rồi Quận Thạc Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Tây. Chúa Đoan Nam Vương Trịnh Khải lúc đó 28 tuổi, mặc nhung y, cầm cờ lên voi thúc quân Kiêu Binh ra nghinh địch, nhưng Kiêu Binh bỏ chạy; Khải chạy lên phía Sơn Tây, đến làng Hạ Lôi huyện Yên Lăng bị Nguyễn Trang lừa bắt đem nộp cho Tây Sơn. Về tới làng Nhất Chiêu, vớ được con dao bên quán nước Khải đâm cổ tự tử, đó là ngày 27 tháng 6 năm Bính Ngọ 1786. Huệ cho lấy Vương Lễ để tống táng cho Trịnh Khải (Khải sinh năm Kỷ Măo1759 chết năm Bính Ngọ1796: 28 tuổi năm xung + hạn La Hầu +Tam Tai + Thiên Không, chấm dứt 241 năm gồm 11 đời Chúa kể từ Trịnh Kiểm 1545, giai đọan Vua Lê, chúa Trịnh). Đầu tháng 8 năm 1786 Nguyễn Huệ cùng Chỉnh  vào triều kiến vua Lê Hiển Tông dâng sổ quân sĩ và dân đinh Bắc Hà để tỏ rơ hành động diệt Trịnh Phù Lê. Vua Lê phong Nguyễn Huệ làm Nguyên Soái Uy Quốc Công và gả Công chuá Ngọc Hân (tiểu hạn vào Mệnh, lưu Thái Tuế ở cung Thê). Nhạc hay tin vội bay ra Bắc trả Bắc Hà cho Vua Lê rồi cùng Huệ âm thầm về Nam bỏ Cống Chỉnh ở lại. Chỉnh quá sợ - v́ dư đảng của Trịnh chỉ muốn moi gan mổ ruột ḿnh - nên sáng dậy vội vàng xuống thuyền buôn theo Tây Sơn vào Nghệ An. Nhạc thương hại cho Chỉnh ở lại Nghệ An giúp tướng Nguyễn Duệ.

Tháng 10 năm 1786 về đến Hoàng Đế thành, Nhạc đổi danh hiệu, tự xưng làm Trung ương Hoàng Đế, chia nước Tây Sơn làm 3: phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ngự trị đất Gia Định, Nguyễn Huệ làm Bắc B́nh Vương ngự trị từ Thuận Hoá đến hết Nghệ An. Năm Đinh Mùi 1787 tiểu hạn vào cung Phụ Mẫu (Thiên Không+ Địa Kiếp, Phục Binh), lưu Thái Tuế tại cung Huynh Đệ (H́nh, Địa Không, Cô Quả) đă sảy ra sự bất ḥa giữa anh em Tây Sơn: v́ Nhạc xử ép Huệ đ̣i Huệ nộp những báu vật lấy trong Phủ Chúa Trịnh cũng như chia đất không đều (đất xương xẩu Thuận Hóa nhỏ hẹp trong khi Lữ được vùng đất Gia Định ph́ nhiêu, đều do 1 tay của Huệ đầy công hăn mă). Huệ đem quân vây Hoàng Đế thành. Nhạc phải thân lên thành gọi Huệ, khóc mà nói rằng: « Nỡ ḷng nào lại nồi da nấu thịt như thế ! » Huệ mới động ḷng rút quân về Phú Xuân. 

Sau khi anh em Tây Sơn rút về Nam nhường đất Bắc Hà cho nhà Lê (Vua Lê Hiển Tông mất cuối tháng 8 năm Bính Ngọ 1786, v́ Thái Tử mất trước nên  Đích Tôn Lê Duy Kỳ sinh năm 1765 lên nối ngôi lấy niên hiệu là Chiêu Thống) th́ ḍng dơi Chúa Trịnh là Trịnh Bồng trở lại hiếp chế vua Chiêu Thống; vua bèn vời Cống Chỉnh từ Nghệ An về diệt Trịnh Bồng. Nguyễn Hữu Chỉnh đem 1 vạn quân từ Nghệ An về diệt được Trịnh Bồng được Vua  Lê phong chức Đại Tư Đồ Bằng Trung Công, nên từ đó dân chúng Bắc Hà gọi là Quận Bằng. Chỉnh ở lại Đông Kinh giúp Vua Lê, ỷ có công ra mặt hiếp chế Vua, lại xúi Vua Lê cho sứ giả vào Nam đ̣i lại đất Nghệ An (v́ quê của Chỉnh ở làng Đông Hải, huyện Chân Lộc tỉnh Nghệ An) v́ nghĩ rằng 2 anh em Tây Sơn đang có mối bất hoà.

Cuối năm Đinh Mùi 1787, Huệ sai tướng Vũ văn Nhậm, con rể của Nhạc ra Bắc trừng trị Cống Chỉnh về tội chuyên quyền hiếp chế Vua, lại vô ơn trở mặt đ̣i đất Nghệ An (đất Tổ của Tây Sơn). Chỉnh thua cùng Vua Lê rút lên Yên Thế, Nhậm đuổi theo bắt được Chỉnh đem về Đông Kinh xé xác đúng với câu thơ Vịnh Pháo của Chỉnh «càng kêu lắm lại càng tan xác lắm», c̣n Vua Lê Chiêu Thống trốn về Lạng Sơn, sau sang Tàu cầu cứu Nhà Thanh. Nhậm t́m vua Lê không được phải tôn Sùng Nhượng Công Lê Duy Cẩn lên làm Giám Quốc, nhưng Quyền hành nằm trong tay Nhậm. Nhậm giết Chỉnh lấy được Thăng Long (Đông Kinh) có ư cậy tài tỏ ra kiêu ngạo. Ngô văn Sở mật báo tin Nhậm muốn làm phản cho Bắc B́nh Vương. Vương truyền lệnh kéo quân kỵ, ngày đêm đi gấp ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Nhậm giết đi (đó cũng là một trong những nguyên nhân gây bất hoà giữa anh em Tây Sơn), rồi truyền gọi các quan văn vơ nhà Lê cho vào yết kiến, đặt các quan Lục Bộ và các quan Trấn Thủ, vẫn để Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc, dùng Ngô Thời Nhiệm làm Lại Bộ Thượng Thư, để bọn Ngô văn Sở ở lại giữ Bắc Hà, c̣n Vương dẫn quân trở về Nam.

 

Xem PHẦN 28:

 

 

 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt
 

 


 

 

   

 

www.ninh-hoa.com