www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 TVI & PHONG THỦY

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 

 
Main Menu

 
 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt


 

 

 

 

TẢN MẠN VỀ
TỬ VI VÀ PHONG THỦY

 

 

BÀI 4

 

NĂM XUNG THÁNG HẠN

 

Phần III

Các  GIAI THOẠI về NĂM XUNG THÁNG HẠN


 

Các Đại Vận 10 năm

 

Đại Vận 32- 41 tuổi 

Vua thường nói với mọi người rằng: «Làm Trai sinh ở trên đời, nên giúp nạn lớn, lập công to , để tiếng tăm muôn đời, chứ sao lại bo bo làm đầy tớ người» hay là: «Ta dấy quân đánh giặc không phải v́ tham phú quư, mà v́ muốn cho ngàn đời về sau biết rằng ta không chịu thần phục quân giặc tàn ngược» đă chứng tỏ Mệnh Thân đồng cung + Tứ Linh (Long Phượng Hổ Cái) hay Thái Tuế Quan Phù Bạch Hổ + bản chất của Tử Tướng. Với ư chí đó + Hào Trưởng một vùng Lam Sơn (nằm trong cánh đồng ph́ nhiêu - lương thực đầy đủ - cạnh núi rừng trùng điệp dăy Trường Sơn - rất tiện lợi cho những họat động bí mật và chiến tranh du kích nên sau khi đă chiêu mộ nhân tài gây lực lượng (bà con nội ngoại và bạn bè quanh vùng) nên Lê Lợi đă mời được 18 vị Tuấn Kiệt lập Hội Thề Lũng Nhai năm  Bính Thân 1416 khi Vua lúc đó 32 tuổi đi vào Đại Vận 32 - 41 ở Cung Tử Tức: Sát Phá Tham + Tam Minh + Thiên Không + Triệt (ảnh hưởng của Triệt đă yếu), tiểu hạn tại Nô Bộc, lưu Thái Tuế tại Huynh Đệ (Tử Phủ Vũ Tướng) để chuẩn bị khởi nghiă.

Mồng 2 Tết năm Mậu Tuất 1418 Lê Lợi tự xưng làm B́nh Định Vương truyền hịch phất cờ khởi nghiă ở Lam Sơn.

Trận đầu tiên với 1000 quân bị quân Minh phản ứng mau lẹ với quân số hùng hậu hơn do Đô Đốc Chu Quảng ở Tây Đô  tiến vào Lam Sơn nên phải rút quân lên núi Chí Linh để bảo toàn lực lượng. Tháng 5 năm Mậu Tuất 1418 Vương tập hợp quân trở về Lam Sơn bị Mă Kỳ kéo tới đánh. Quân Minh bị Vương mai phục ở Lạc Thủy bị giết hơn 3 ngàn. Nhưng chỉ 3 hôm sau bị 1 bề tôi tên Ái làm phản dẫn quân Minh bất ngờ đánh úp nên quân ta tổn thất nặng và tàn quân chỉ kịp chạy trở lên núi Chí Linh (đó là trận Lam Sơn thứ 2, Vương mất vợ và con gái). Trở về Lam Sơn lần thứ 3, dù chỉ c̣n hơn 100 quân, Vương chiêu mộ thêm quân sĩ, chỉnh đốn khí giới, sửa sang thành lũy bị Tổng binh Lư Bân đem quân từ Đông Quan vào tấn công Lam Sơn nhưng quân Minh bị Vương mai phục quân ở Mường Mọt đánh tan phải rút về. Tháng 5 năm Kỷ Hợi 1419 (tức là 8 tháng sau trận Mường Mọt) Lư Bân sai Đô Đốc Phương Chính ở Đồng Quan cùng Đô Chỉ Huy Sư Hựu ở Tây Đô dốc toàn lực tiến vào Lam Sơn; đó là trận Lam Sơn thứ 3, trận này quân địch rất mạnh nên Vương phải rút về Chí Linh.  Phương Chính xua quân đuổi theo bao vây Chí Linh rất gắt. Lực lượng Lam Sơn bị hao ṃn, lại cạn hết lương thực, hơn 10 ngày chỉ ăn củ nâu và mật ong, người ngựa đều khốn đốn. Vương bèn hỏi chư tướng: «Ai có thể thay mặc áo vàng bào của Trẫm, lĩnh 500 quân, 2 thớt voi xông vào Trại giặc; thấy giặc ra đối địch th́ tự xưng tên: Ta là chúa Lam Sơn đây  để cho giặc bắt ? Như vậy ta sẽ ẩn ḿnh, nghỉ binh, thu họp quân sĩ để mưu tính việc về sau.  Các tướng đều  lặng thinh, duy chỉ có Lê Lai t́nh nguyện, thưa rằng: «Tôi bằng ḷng xin thay mặc áo Nhà Vua. Ngày sau Bệ Hạ gây nên Đế Nghiệp, có được thiên hạ, thương đến công tôi, cho con cháu muôn đời chịu ơn nước. Đó là điều tôi mong mỏi !

Quả nhiên khi Lê Lai mặc áo bào cùng 500 quân xông vào trại giặc. Quân giặc xúm lại vây bắt đem hết về Tây Đô xử tử bằng những h́nh phạt cực kỳ ác độc. Nhờ Lê Lai liều ḿnh cứu Chúa, Phương Chính tưởng đă bắt được Lê Lợi nên rút quân, kéo Đại Binh về Đông Quan. Nhờ vậy Vương cùng chư tướng và chủ lực quân lẻn trốn qua Đèo qua Núi lên trú ẩn tại Lô Sơn cách Chí Linh chừng 50 km, sau đó đến Mường Thôi tại thượng lưu sông Mă và ở lại vùng này trong 3 năm 8 tháng. Lê Lai tên thật là Nguyễn Lai được mang quốc tính họ Lê, được Vua Lê nhớ ơn cho làm giỗ trước 1 ngày khi Vua mất v́ thế mới có câu «21 Lê Lai 22 Lê Lợi».

Đại Vận 32-41 ở Cung Tử Tức tại Ngọ (hỏa): mất Thiên Thời - thế Kim của Mệnh đi vào thế Hỏa; về Địa Lợi: Mệnh Kim đóng tại cung Hỏa, về Nhân Hoà: Thất Sát đắc cách ngộ Triệt nên ta thấy Vương khốn đốn nhiều phen không những gặp giặc Minh c̣n có cả giặc Lào. Chỉ từ khi xây dựng lại lực lượng, nhờ quân Minh bận dẹp loạn ở ngoài Bắc, các hào kiệt kéo tới Lỗi Giang trong đó có Nguyễn Trăi và Trần Nguyên Hăn (đầu năm Canh Tư 1420). Cuối năm 1420 Nguyễn Chích đem quân bản bộ từ Đông Sơn (giữa Thanh Hoá và Nông Cống) hợp nhất với Lam Sơn. Lực lượng tuy mạnh, nhưng nhiều phen cũng phải trá hàng (năm Quư Măo 1423) để dưỡng sức.  

Đại Vận 42-51 tuổi  

Đại vận này đi vào Cung Tài Bạch ở Tỵ  được cả 3 yếu tố Thiên Địa Nhân : Vận Thái Tuế       

Quan Phù Bạch Hổ, Mệnh Kim đi vào Âm Hỏa, Dương Lương Đồng Âm hội Thanh Long Hóa kị (rồng mây gặp hội), Tam Hoá Liên Châu (áo gấm thêm hoa, uy quyền thực sự - Hóa Quyền).

Đại Vận này đă hé mở từ năm Ất Tỵ 1425 (khi Đại Vận 32-41 bị Triệt đi vào tiểu hạn có Tuần ở Cung Phúc) Vương bao vây thành Nghệ An (từ cuối tháng 1/1425 đến tháng 2/ 1427). Đại Vận 42-51 khởi từ năm Bính Ngọ 1426, tiểu hạn ở Điền Trạch tại Tư, lưu Thái Tuế tại Ngọ (Tử Phủ Vũ Tướng hội Khôi Việt, Ân Qúy, Xương Khúc, Tam Minh Đào Hồng Hỉ, Tứ Đức). Trong lúc bao vây lỏng thành Nghệ An, tháng 6/1425 Vương sai Đinh Liễn đem 2000 tinh binh + 2 thớt voi vây thành Diễn Châu, sau đó bao vây Tây Đô. Đầu tháng 9/1426  Vương cho 3 đạo Tiền Phong tiến ra Bắc. Vương Thông bị mai phục 2 trận ở cánh đồng Tụy Động và Chúc Động, tàn binh cùng Vương Thông và Mă Kỳ lui về cố thủ Đông Quan (Hà Nội ngày nay). Vương một mặt bao vây Đông Quan, một mặt tổ chức hành chánh ḍng dă 14 tháng (từ 9/11/1425 đến 3/1/1427). Viện binh Minh chia 2 đường sang cứu Đông Quan. Ngày 10-10-1427 (Đinh Mùi) Viện binh do Liễu Thăng chỉ huy bị quân ta mai phục chém tại ải Chi Lăng, ngày 21-10-1427 quân ta đại phá 5 vạn viện binh do Mộc Thạnh chỉ huy ở Lê Hoa. Vương Thông xin ḥa và rút về Tàu. Vương cấp phương tiện ngựa thuyền cho 86640 tù binh (trong đó có 280 viên tướng, 137 viên quan). Vương vào thành Đông Quan ngày 3- 1-1428 tức là ngày 17 tháng chạp năm Mậu Thân, chấm dứt 10 năm gian khổ kháng Minh.

Vua Lê Lợi tuổi Ất Sửu 1365, lên ngôi ngày 14 tháng 4 năm Mậu Thân (27-4-1428) năm 44 tuổi ta (Đại Vận Thái Tuế, tiểu vận: Tử Phủ Vũ Tướng hội Trung tinh đắc cách) miếu hiệu Lê Thái Tổ, băng hà ngày 22 tháng 8 nhuận năm Quư Sửu 1433 (thọ 49 tuổi: hạn năm tuổi + Thái Bạch + Hỏa, Tang, Không Kiếp).

 

Xem PHẦN 27:

 

 

 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt
 

 


 

 

   

 

www.ninh-hoa.com