www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 TVI & PHONG THỦY

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
Main Menu

 
 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt


 

 

 

 

TẢN MẠN VỀ
TỬ VI VÀ PHONG THỦY

Tử Vi Bản Chất và Cuộc Đời

 

Bài 1:       Bố Cục của 14 Sao Chính

 

1)      Vị trí của Sao TỬ VI :

 

Mười bốn (14) Sao chính trong Tử Vi đều phụ thuộc vào vị trí của Sao Tử Vi. Muốn t́m vị trí của Sao Tử Vi - theo sách Cổ th́ dựa vào hàng Can của Tuổi và Cung an Mệnh để lập Cục- theo Bảng ghi Cục dựa vào ngày sinh ta t́m được Vị Trí của sao Tử Vi (sách Tử Vi nào cũng có những Bảng này). Không dùng Bảng ta có thể dùng Quy Tắc sau :

 

Sau khi an Cung MỆNH ( theo tháng và giờ sinh) ta lấy Ngày Sinh chia cho Cục - nếu phép chia đúng (nghĩa là không có Dư Số), tính từ Cung Dần là 1 đếm theo Thương Số q của phép chia trên, ngừng tại cung nào an Tử Vi tại Cung đó -Trường hợp không chia đúng ta phải thêm vào 1 số nguyên n để thực hiện Phép chia đúng, có 2 trường hợp:

 

Nếu n lẻ : tính từ cung Dần là 1 đếm thương số q, ngừng lại tại Cung đó, từ cung đó kể là 0 đếm theo chiều  nghịch đến số n : đó là vị trí của Sao Tử Vi.

Nếu n chẵn : cũng làm như trên, từ Cung có thương số q kể là 0, đếm theo chiều thuận dến số n.

 

Ta có thể dùng CÔNG THỨC sau :

 

     Công thức t́m Sao Tử Vi :

                               

 k = N+(1+ec)n/c

 

N là ngày sinh : 1 N30.

c chỉ số cục : Thủy Nhị Cục c=2, Môc Tam Cục c=3, Kim Tứ Cục c=4, Thổ Ngũ Cục c=5, Hỏa Lục Cục c=6.

n là số nguyên thêm vào bao giờ cũng nhỏ hơn c : 

0 n5 để thực hiện Phép Chia đúng.

 

Có 2 trường hợp :

a)      N là bội số của c th́ n=e=0.

b)      N không là bội số của c :

          -   Nếu n lẻ (1, 3, 5) th́ e=-1

          -   Nếu n chẵn ( 2,4 ) th́ e=+1

Các sao thuộc Ṿng Tử Vi : Liêm Trinh ( L= k+4 hay k - 8 ), Thiên Đồng ( Đ = k +7 hay k- 5), Vũ Khúc ( V = k+8 hay k - 4 ), Thái Dương ( D = k +9 hay k -3 ), Thiên Cơ ( C =k+11  hay  k - 1) 

 

2)      Vị trí của Sao Thiên Phủ

Gọi k là vị trí của Sao Tử Vi, h là vị trí  của Sao Thiên Phủ bao giờ ta cũng có Công Thức :

                 k + h = 2    ( modulo 12)

Lưu ư : k=1 ( mod 12,  cung Dần - đồng nghĩa với tháng Giêng), k=2 ( mod 12, cung Măo), cung Th́n k= 3 ( mod 12)... cung Sửu k =12 ( c̣n có thể coi như có vị trí 0).

Từ Công thức trên Ta có thể t́m vị trí của 2 Sao Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung. Thật vậy khi k = h  ta có : 2k =2h =12 suy ra k=h =1  ( mod 6) chứng tỏ 2 Sao Tử Vi và Thiên Phủ chỉ đồng cung  tại 2 cung Dần (k=1, 13, 25...) và cung Thân ( k=7, 19...).

Các sao thuộc Ṿng Thiên Phủ : Thái Âm ( Â = h+1), Tham Lang ( t =h+2), Cự Môn ( C = h+3), Thiên Tướng ( T = h+4), Thiên Lương ( L =h+ 5), Thất Sát ( s = h+6), Phá quân ( p =h+ 10).

Do vị trí 14 Sao Chính từ Định Nghiă ta thấy các Sao tạo thành Bộ 4, Bộ 3, Bộ 2 như sau :

 

A)     Bộ Tử Phủ Vũ Tướng :

Khi 2 sao Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung ( k =h) hay ở vị trí Đối Xung th́ vị trí của Tử Vi (hay Thiên Phủ), Thiên Tướng (T =h+4), Vũ Khúc (V =h+8) tạo thành 1 Cấp Số Cộng có công sai bằng 4 nên 4 sao này nằm trên đỉnh của Tam Giác (vị trí Tam Hợp) tạo thành Bộ Tử Phủ Vũ Tướng (đôi khi kèm thêm Liêm Trinh v́ bộ 3 Tử Vũ Liêm cũng tạo thành 1 Cấp Số Cộng có công sai bằng 4 từ đó ta suy ra 2 sao Liêm Trinh và Thiên Tướng đồng cung tại Ngọ và Tư).

Tử Vi đồng cung với Thiên Phủ ở Dần Thân ( Mẫu Tử Phủ).

 Tử Vi đồng cung với Thiên Tướng : Vị trí của Tử Vi là k, Thiên Tướng T =h+4 với k+h = 2 (mod12) do đó k và T liên lạc bởi công thức : k+T = 6 ( mod 12). Hai sao này đồng cung khi k = T=3 ( mod 6), đó là vị trí của 2 cung Th́n và Tuất ( Mẫu Tử Tướng ). 

  Tử Vi đồng cung với Tham Lang : Vị Trí của Tử Vi là k, Tham Lang t = h+2 với k +h =2 do đó k+t =4 (mod 12). Hai sao này đồng cung khi k=t nên 2k =2t = 4 suy ra k = t =2 ( mod 6), đó làvị trí của  hai cung Măo và Dậu ( Mẫu Tử Tham).

 Tử Vi đồng cung với Thất Sát : Vị trí k của Tử Vi và Thất Sát s liên lạc với nhau bởi công thức : k +s = 8 ( mod 12). Hai sao này đồng cung khi k=s nên 2k = 2s =8 ( mod12), suy ra k=s =4 ( mod 6), đó là  vị trí của 2 cung Tỵ và Hợi ( Mẫu Tử Sát).

Tử Vi đồng cung với Phá Quân : Vị trí k của Tử Vi và p của Phá Quân định bởi công thức : k+p = 12 ( mod 12). Hai sao này đồng cung khi k=p =6 ( mod 6), đó là vị trí của 2 cung Mùi và Sửu ( Mẫu Tử Phá).

Thiên Phủ đồng cung với Liêm Trinh : Vị trí h của Thiên Phủ và k của Tử Vi định bởi k+h =2 ( mod 12), Liêm Trinh L = k+4, do đó h+L = 6 (mod12) suy ra h =L =3 ( mod6), đó là vị trí của 2 cung Th́n và Tuất.

Thiên Phủ đồng cung với Vũ Khúc : V=k+8, h+k =2 nên h+V=10 ( mod 12 ) suy ra V=h =5 ( mod 6), đó là vị trí của 2 cung Ngọ và Tư.

 

B)      Bộ Sát Phá Tham

Bộ Sát Phá Tham thuộc ṿng Thiên Phủ, nên nếu h là vị trí của Sao Thiên Phủ th́ vị trí của Tham Lang, Thất Sát, Phá Quân  theo thứ tự là :

            t = h+2 ;   s= h+ 6 ; p = h +10

Vị trí của Bộ Ba ( Sát Phá Tham)  theo thứ tự tạo thành  một  Cấp Số Cộng có công sai là 4. Đó là Vị Trí Tam Hợp ( nằm trên 3 đỉnh của 1 Tam Giác ). Đôi khi bộ này có thêm sao Liêm Trinh  v́ Liêm Trinh có thể đồng cung với 3 sao này( nên nhớ sự đồng cung chỉ sảy ra giữa 1 sao của Ṿng Tử Vi với 1 sao của Ṿng Thiên Phủ. Hai Sao cùng 1 ṿng không thể đồng cung).

Liêm Trinh đồng cung với Thất Sát : Vị trí của Liêm Trinh L=k+4, Thất Sát s = h+6, v́ k+h = 2 ( mod 12) nên L+s = 12 ( mod 12). Hai sao này đồng cung khi L =s , do đó L=s = 6 ( mod6) ; đó là vị trí của cung Mùi và cung Sửu.

Liêm Trinh đồng cung với Phá Quân : Vị trí của Liêm Trinh L= k+4, Phá Quân p = h +10, v́ k+h =2 (mod12) nên L+p = 4 (mod 12), cũng lư luận như trên Liêm Trinh và Phá Quân đồng cung khi L=p= 2 ( mod 6) ; đó là vị trí của 2 cung Măo và Dậu.

Liêm Trinh đồng cung với Tham Lang : Vị trí của Liêm Trinh L = k+4, Tham Lang t =h +2, v́ k+h =2 ( mod 12) nên L+t = 8 (mod 12), cùng 1 lư luận, 2 sao này đồng cung khi L=t = 4 ( mod 6) ; đó là vị trí của 2 cung Tỵ và Hợi.

Bộ 3 ( Tử Vũ Liêm) tam hợp cũng như bộ 3 ( Sát Phá Tham) ; nên khi 1 trong các sao của 2 ṿng đồng cung th́ 6 sao đó nằm trên đỉnh của Tam Giác ( vị trí Tam Hợp) đó là bộ 6 :Tử Vũ Liêm Sát Phá Tham nằm trong 3 mẫu Tử Sát, Tử Phá và Tử Tham ( mà ngày xưa có người gọi là cách Sát Phá Liêm Tham ).

 

C)      Bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương

Bộ 4 ( Cơ Nguyệt Đồng Lương) là do viết tắt của 4 sao : Thiên Cơ, Thái Âm ( Nguyệt = mặt trăng), Thiên Đồng và Thiên Lương. Thiên Cơ và Thiên Đồng là 2 sao thuộc ṿng Tử Vi, nếu k là vị trí của Tử Vi th́ vị trí của Thiên Cơ là k -1 hay k+11 ( mod 12) và Thiên Đồng là k - 5 hay k+7 ( mod 12), đó là Vị trí Tam hợp ( vị trí của 2 số hạng của Cấp Số Cộng có công sai là 4).

Thái Âm và Thiên Lương là 2 sao thuộc ṿng Thiên Phủ, nếu vị trí của Thiên Phủ là h th́ vị trí cuả Thái Âm  = h+1, Thiên Lương L= h+ 5 ; đó cũng là Vị Trí Tam Hợp. Do đó khi 4 sao Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng và Thiên Lương ở Vị Trí Tam Hợp trên thiên bàn nghĩa là 4 sao trên nằm trên đỉnh của 1 Tam Giác th́ chúng tạo thành Bộ 4 gọi tắt là Cơ Nguyệt Đồng Lương. Do định nghiă ta thấy 4 sao đó chỉ Tam Hợp khi 1 trong 2 sao Cơ, Đồng thuộc ṿng Tử Vi trùng với 1 trong 2 sao Nguyệt, Lương của ṿng Thiên Phủ. Như vậy chỉ có các trường hợp sau :

a)  Cơ Lương đồng cung tại Th́n Tuất ( mẫu Tử Sát).

b)  Cơ Âm đồng cung tại Dần Thân ( mẫu Tử Tham ).

c)  Đồng Lương đồng cung tại Dần Thân ( mẫu Tử Phá).

d)  Đồng Âm đồng cung tại Tư Ngọ ( mẫu Tử Sát).

 

a)  Cơ Lương đồng cung : cùng 1 lư luận như trên ta thấy C=k-1, L = h+5, v́ k+h = 2 ( mod 12) nên C+L = 6 ( mod 12). Cơ Lương đồng cung khi C=L nghiă là C=L= 3 ( mod 6). Đó là vị trí của 2 cung Th́n và Tuất.

b) Cơ Âm đồng cung : C= k  - 1, Â = h+1, v́  k+ h =2 ( mod 12 ) nên C+Â=2 ( mod12). Giống như Tử Phủ 2 sao Thiên Cơ và Thái Âm đồng cung tại Dần và Thân.

c) Đồng Lương đồng cung : Đ = k - 5, L = h + 5, v́ k+h =2 ( mod 12 ) nên Đ+L =2 ( mod12) giống như Tử Phủ, hai sao Đồng Lương đồng cung tại Dần và Thân.

d) Đồng Âm đồng cung : Đ = k - 5, Â = h+1 v́  k+h = 2 ( mod 12 ) nên Đ + Â = 10 ( mod 12) Đ =Â khi Đ=Â = 5 ( mod 6) ; đó là vị trí của 2 cung Ngọ và Tư.

 

D)     Bộ Nhật Nguyệt

 

Thái Dương ( hay Nhật) thuộc ṿng Tử Vi có vị trí D = k - 3 hay k+9 ( mod12), Thái Âm ( hay Nguyệt ) thuộc ṿng Thiên Phủ có vị trí Â = h+1. Từ công thức k+h =2 ( mod 12 ) ta có D+Â = 0 hay 12 ( mod 12 ) nên Nhật Nguyệt đồng cung khi 2D = 2Â= 12 hay D=Â= 6 ( mod 6) ; đó là vị trí 2 cung Mùi và Sửu.

Cũng lư luận tương tự ta thấy Thái Dương đồng cung với Thiên Lương ( cách Dương Lương ) ở Măo, Dậu và Thái Dương vớiù Cự Môn đồng cung tại Dần, Thân ( cách Cự Nhật).

 

Chú Thích : Về sự đồng cung của 1 trong các sao của ṿng Tử Vi với 1 sao của ṿng Thiên Phủ như ta đă thấy, đó là những Bộ Đôi ( Bô 2) : Tử Phủ, Tử Tướng, Tử Sát, Tử Tham, Tử Phá, Vũ Phủ, Vũ Tướng, Vũ Sát, Vũ Tham, Vũ Phá, Liêm Phủ, Liêm Tướng, Liêm Sát, Liêm Tham, Liêm Phá, Cơ Âm, Cơ Cự, Cơ Lương, Nhật Nguyệt, Cự Nhật, Dương Lương, Đồng Âm, Đồng Lương, Cự Đồng.

 

Một thí dụ không thể đồng cung : Thiên Cơ C=k -1 của ṿng Tử Vi không thể đồng cung với Tham Lang t = h +2 của ṿng Thiên Phủ : Cùng cách lư luận trên từ công thức k+h =2 ( mod 12) của cặp Tử Phủ ta có : C+t =3 ( mod 12), nếu Cơ Tham đồng cung th́ 2C =2t = 3 như vậy C = t = 3/2, điều này không thể chấp nhận v́ vị trí sao phải là Số Nguyên. Do đó ta chỉ có thể có  những bộ Đôi như  ở trên trong phần chú thích.  

 

3)  Vai tṛ Nhị Hợp

Công thức của Nhị Hợp : x+y =11 ( mod 12)

x  là vị trí của sao ; y là vị trí của sao nhị hợp.

a)      Nhị hợp của Thiên Phủ : ta có k + h = 2 ( mod 12), nếu x =h th́ y =11 - x = 11 - ( 2 -k) = k+ 9 ; đó là vị trí của sao Thái Dương.

b)      Nhị hợp của Vũ Khúc : V = k + 8 , nếu x = k+8 th́ y = 11 - x = 11 - ( k +8 ) = 3 -k = 3 - ( 2 - h) = h+1 ( mod 12 ) ; đó là vị trí của sao Thái Âm.

c)      Nhị hợp của Thiên Đồng : Đ = k - 5 = k+ 7 ( mod 12) Tham Lang t = h + 2 ta thấy :  Đ + t = k+7 + h +2 = k+h +9 ( mod 12 ) v́ k+ h = 2 nên Đ + t = 11 ( mod 12).

d)      Nhị hợp của Thiên Cơ : C = k - 1, Phá Quân p = h+10, ta thấy C+p = k +h + 9 = 11.

 

4)  Vai tṛ Chính chiếu hay đối xung.

Công thức của chính chiếu : y = x + 6 ( mod 12)

Từ công thức trên ta chỉ thấy trường hợp chính chiếu chỉ sảy ra khi 2 sao cùng 1 ṿng. Điều này chỉ sảy ra cho 2 cặp ( Thiên Phủ và Thất Sát ) và ( Thiên Tướng và Phá Quân ) v́ s = h+6 và T = p +6 ( mod 12).  

 

5)  Một Bố Cục Mẫu của 14 Sao Chính ( chính diệu)- Mẫu TỬ PHỦ

a)  Nếu Mệnh đóng tại Tam Giác ( Thân Tư Th́n) : Tử Phủ Vũ Tướng cách.

b)  Nếu Mệnh đóng tại Tam Giác ( Dần Ngọ Tuất) : Sát Phá Tham cách.

c)  Nếu Mệnh đóng tại Tam Giác ( Hợi Măo Mùi) :

    - Mệnh ở Măo : Đồng Âm Cơ Cự cách.

    - Mệnh ở Mùi : Cơ Lương Cự Đồng cách.

    - Mệnh ở Dậu : Âm Đồng Dương Lương cách.

Cơ Nguyệt Đồng Lương cách chỉ có ở trong mẫu Tử Tham và Tử Phá khi Mệnh nằm trên đỉnh của Tam Giác ( Dần Ngọ Tuất).

d) Nếu Mệnh đóng tại Tỵ Hợi : Cự Nhật cách hội Nguyệt Lương.

Cự Nhật cách nằm trong mẫu Tử Sát khi Mệnh đóng tại Dần Thân.

 

 

 

Xem Bài 2

 

Viết tại Trại Tù Suối Máu Biên Ḥa năm 1975-78, hiệu đính tại Paris Mùa Xuân Tân Măo 2011.

 

 

 

 

GS PHẠM  K VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt


 

 

   

 

www.ninh-hoa.com