www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 TVI & PHONG THỦY

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

 

 
Main Menu

 
 

 

 

GS PHẠM  KẾ VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt


 

 

 

Đại Thi Hào NGUYỄN DU

Dưới Lăng Kính  Tử Vi
 

 

PHẦN 1:

 

 

I - Ḍng dơi và Gia Đ́nh

 

 

Nguyễn Du ( 1766- 1820 ) tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên sinh buổi sáng ngày 3/1/1766 tính theo Âm Lịch là Giờ Măo ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu tại Phường Bích Câu, Thăng Long. Quê Nội ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Du xuất thân trong một Gia Đ́nh Đại Qúy Tộc nhiều Đời có người làm Quan to ( Công Hầu Khanh Tướng ) đồng thời là Danh Sĩ một Thời - dưới Triều Vua Lê Chúa Trịnh. Cha của Thi Hào là Cụ Nguyễn Nghiễm sinh tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đậu Nhị Giáp Tiến Sĩ làm quan đến chức Đại Tư Đồ ( Tể Tướng ). Mẹ là bà Trần Thị Tần ( 1740-1778 ), con gái thứ 3 của một vị quan nhỏ coi việc sổ sách Kế Toán ( Câu Kế ) dưới trướng Nguyễn Nghiễm, người Xă Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh ( nay thuộc Xă Hương Mạc, huyện Từ Sơn ). Bà Trần thị Tần thuộc ḍng dơi Trần Phi Chiêu ( 1549-1623 ), ông đậu Tiến sĩ năm Kỷ Sửu 1589 làm quan đến chức Thượng Thư bộ Hộ, kiêm Đô Ngự Sử, tước Diên Quận Công. Bà là 1 phụ nữ nết na, xinh đẹp nổi tiếng, có tài hát xướng, năng khiếu Nghệ Thuật cao, lại sinh ra ở vùng Kinh Bắc – nôi của Vùng Quê Hát Quan Họ nổi danh - điều đó đều ảnh hưởng tốt đến Hồn Thơ Nguyễn Du từ những ngày c̣n bé !.

 

1) Thân Thế và Sự Nghiệp của Nguyễn Nghiễm ( 1708-1776 )

 

Nguyễn Nghiễm sinh ngày 14 tháng 3 năm Mậu Tư ( 14/4/1708 ) tại làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngư Cư Sĩ. Quê Tổ ở làng Canh Họach, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam ( nay thuộc Hanoi ). Vào đầu Thế Kỷ 17, Tổ 6 đời của ông là Nguyễn Nhiệm ( cháu Nguyễn Thiến đời Nhà Mạc ) lánh nạn đem Gia Đ́nh vào sinh cơ lập Nghiệp ở Tiên Điền !. Năm Giáp Th́n 1724 đời Vua Lê Dụ Tông – Chúa Trịnh Cương đỗ Thi Hương ( Tú Tài ) khi mới 16t. Năm Tân Hợi 1731 đời Lê Duy Phương – Chúa Trịnh Giang, ông đỗ Ḥang Giáp ( Nhị giáp Tiến Sĩ ). Ngoài ra anh em Họ ( Nguyễn Huệ, Nguyễn Trương ) cùng đỗ Tiến Sĩ.

 

a) Tướng Vơ

 

Lúc đầu vào Triều làm Quan giữ chức Đốc Suất quân Nhung, Hiệp đồng tán nhiệm với các Tướng Vơ khác có công lao. Năm Tân Dậu 1741 nhờ phế bỏ Trịnh Giang v́ chơi bời làm hỏng Chính Sự, lập Trịnh Doanh nên được thăng làm Tham Chính Sơn Nam, ít lâu sau đổi làm Tế Tửu Quốc Tử Giám. Năm Qúy Hợi 1743 ông được thăng làm Thừa Chi Viện Hàn Lâm, tước Xuân Lĩnh Bá. Ba năm sau nhờ có công lao được thăng làm Hữu Thị Lang Bộ Công, thăng lên tước Hầu và được đặc cách dự chức Bồi Tụng trong Tướng Phủ !. Năm Mậu Th́n 1748 được làm Tuyên Phủ Sứ Tán Lư Quân Vụ, quản cơ Trấn Nội, chức Tam Lĩnh, tước Lệ Quận Công vào Nghệ An dẹp lọan. Thắng Trận trở về ông được thăng làm Thị Lang Bộ H́nh. Ít lâu sau, quân nổi dậy ở vùng núi Thanh Hóa lại ra, ông được sai làm Hiệp Đồng đến đánh thành lũy quân địch. Ông đánh đâu thắng đó. Quân nổi dậy bèn đi theo đường tắt đánh vào trị Sở Thanh Hóa, quân Triều Đ́nh thua chạy ; ông lại mang quân về cứu, chiếm lại được Dinh. Đầu năm Canh Ngọ 1750, Triều Đ́nh quy cho ông trách nhiệm để thất thủ Thanh Hóa, nên ông bị giáng làm Đại Học Sĩ Đông Các ( Hạn Kế Đô 43t+Ḱnh Đà ). Cuối năm đó Trịnh Doanh đem quân đi dẹp quân khởi nghĩa của Thủ Lĩnh Tương ở Sơn Tây sai ông làm Tán Lư giữ trách nhiệm hộ giá. Ông cùng tham gia dẹp được quân của Tương, nên được thăng làm Thiêm Đô Ngự Sử. Đầu năm Nhâm Thân 1752, ông được lệnh ra 4 đạo Sơn Tây, Hưng Hóa đánh ḥang thân Lê Duy Mật. Thắng trận trở về, ông được khôi phục lại chức cũ ( Vận Thái Tuế ). Sang năm Qúy Dậu 1753 có công trạng, ông lại được thăng làm Phó Đô Ngự Sử, đến cuối năm Trịnh Doanh giao cho ông làm Đốc Lĩnh ở Thanh Hóa để dẹp các lực lượng nổi dậy trong vùng Núi. Năm Ất Hợi 1755 ông được cử làm Hiệp Trấn Nghệ An. Năm Bính Tư 1756 ông được gọi về Triều thăng Vực Quận Công đi dẹp quân nổi dậy ở Kinh Bắc, ông thắng trận !.

 

b) Quan Văn

 

 Trước đó giữa năm Giáp Tuất 1754, Triều Đ́nh mở Khoa Thi Hội, Trịnh Doanh đă cử ông làm Tả Giám Thị. Cuối năm Đinh Sửu 1757, ông được thăng làm Tả Thị Lang bộ H́nh. Đầu năm Tân Tỵ 1761, Triều Đ́nh xét công lao đánh thắng quân nổi dậy, ông được thăng làm Ngự Sử, rồi Thượng Thư bộ Công vào Phủ làm Tham Tụng ( Tể Tướng ) ; từ đó thôi không giữ việc quân mà phụ trách đội Nghiêm Hữu thuộc Vệ Quan Thị Hậu. Mùa Hạ năm Giáp Thân 1764 ông được thăng hàm Thiếu Phó. Năm Đinh Hợi 1767 Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên thay, thăng ông làm Thái Tử Thái Bảo, tước Xuân Quận Công, Đại Tư Không. Cuối năm Tân Măo 1771 ở lứa tuổi 64t, ông xin về hưu ở làng Tiên Điền, được thăng Đại Tư Đồ. Nhưng tháng 3 năm sau ( 1772 ) Trịnh Sâm lại mời ông ra làm Tể Tướng , rồi Thượng Thư bộ Hộ.

 

c) Tham dự Nam Tiến

 

Năm Giáp Ngọ 1774, trấn thủ Nghệ An là Bùi Thế Đạt được biết Đàng Trong có nội biến do anh em Tây Sơn nổi dậy, bèn viết thư tŕnh báo về Triều, thời cơ có thể đánh chiếm Thuận Hóa. Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm bèn quyết định ra quân sai Quận Việp Ḥang Ngũ Phúc làm Đại Tướng và Nguyễn Nghiễm được sung chức Tả Tướng cùng Bùi Thế Đạt thống lănh 36000 quân với nhiều Tướng tài như Quận Huy Ḥang Đ́nh Bảo, Ḥang đ́nh Thể, thêm tùy tướng của Quận Việp là Nguyễn Hữu Chỉnh đi đánh Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Quân Trịnh liên tiếp thắng trận v́ nhiều quan lại trong Nam bỏ thành hoặc ra hàng v́ chán ghét Trương Phúc Loan chuyên quyền làm bậy ! . Ngày Mồng 3 Tết năm Ất Mùi ( 3/2/1775 ) Quận Việp chiếm xong Phú Xuân, giao Bùi Thế Đạt ở lại trấn thủ Phú Xuân c̣n các tướng trong đó có Nguyễn Nghiễm theo Ḥang Ngũ Phúc tiếp tục đuổi theo Chúa Nguyễn vào Qủang Nam. Chúa Nguyễn Định Vương bỏ chạy vào Gia Định. Quân Trịnh tiếp tục giao tranh với quân Tây Sơn của Nguyễn Nhạc và đánh bại Tây Sơn ở Cẩm Sa khiến Nguyễn Nhạc phải xin hàng !. Tuy nhiên sau trận Cẩm Sa từ tháng 7 năm 1775 quân Trịnh bị bệnh Dịch lan tràn bản thân ông và Quận Việp đều nhiễm bệnh nặng. Tiến đến đóng ở Chu Ô thuộc địa đầu của Quảng Ngăi th́ dừng lại v́ bệnh Dịch càng ngày càng nhiều – t́nh cảnh rất thê thảm ( hơn 3000 nhiễm bệnh trong đó 600 người chết ). Hoàng Ngũ Phúc và Nguyễn Nghiễm đều trở về Bắc dưỡng bệnh !.

 

Tháng 11 âm lịch năm Ất Mùi 1775 Nguyễn Nghiễm về Quê Nhà ở Tiên Điền trong t́nh trạnh gầy yếu, không lâu ông mất ngày 17 tháng 11 nhuận năm Ất Mùi ( 07/1/1776 ) khi Vận Số đi vào Hạn Thái Bạch 67t+Ḱnh Đà+Thiên khắc Địa xung.

 

d) Tác Phẩm

 

Ông cùng Ngô Th́ Sĩ có làm lời chú và lời bàn trong Bộ Đại Việt Sử Kư bản kí tục biên, ng̣ai ra, ông c̣n soạn các tác phẩm sau : Xuân Trung liên vịnh - Xuân Đ́nh tạp vinh- Việt Sử bị lăm- Lạng Sơn đoàn thành đồ chí- Cổ Lễ nhạc chương thi văn tập - Khổng Tử mộng Chu Công.

 

2) Gia Đ́nh của Nguyễn Nghiễm

 

Nguyễn Nghiễm có tất cả 8 người vợ trong đó có 6 bà quê ở Kinh Bắc và 21 người con, trong đó nổi danh nhất ( về Quan Chức và Văn Thi Nghiệp ) có 3 người :

a- Con Trưởng Nguyễn Khản làm đến Tham Tụng Triều Lê - Trịnh. Đương thời 2 bố con đều làm Đại quan cùng Triều, đều được Vua Lê và Chúa Trịnh tín nhiệm trọng dụng với nhiều đặc ân !.

b- Nguyễn Đề cùng mẹ với Nguyễn Du làm quan dưới Triều Tây Sơn giữ chức Tả đồng nghị Trung Thư sảnh, đă từng đi Sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của Vua Càn Long nhà Thanh, xướng họa thơ cùng với các Sứ Thần Triều Tiên.

c- Đại Thi Hào Nguyễn Du là con thứ 7 của ông và bà vợ Ba ( Trần Thị Tần ), riêng Bà Tần sinh được 4 trai 1 gái (Nguyễn Trụ, Nguyễn Đề, Nguyễn thị Diên « vợ Vũ Trinh », Nguyễn Du, Nguyễn Ức ).

 

a) Thân Thế và Sự Nghiệp của Nguyễn Khản (1734-1787)

 

Sinh ngày mồng 3 tháng 3 năm Giáp Dần ( 16/4/1734 ) tại Tiên Điền ( Hà Tĩnh ) là con Trưởng của Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm với Bà Chính Thất Đặng Thị Dương ( bà là con gái thứ 2 của Tri Phủ Đặng Sỹ Vinh, thông minh, xinh đẹp, nết na, lầu thông Kinh Sử, lấy chồng năm 16t ). Năm Qúy Dậu 1753 Nguyễn Khản đỗ đầu Bảng Thi Hương. Nhân có lệ bổ dụng các con quan nên ông nhận được chức Viên Ngoại bộ Lại, sau đó v́ có tiếng học giỏi được sung chức Thị Giảng ở Phủ Chúa dạy học cho Thế Tử Trịnh Sâm. Năm Canh Th́n 1760 vào tuổi 27 ông thi đỗ Tiến Sĩ Nho Học. Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên nối ngôi, v́ có công dạy Chúa lúc c̣n là Thế Tử nên ông được thăng chức Đại Học Sĩ kiêm Quốc Tử Giám Tế Tửu. Năm Mậu Tư 1768 ông được kiêm luôn chức Nghiêm Hữu Đội. Với cương vị đó Nguyễn Khản vừa là Quan văn kiêm cả Vơ trong Phủ Chúa + hai cha con đều là Đại Quan cùng Triều nên các quan trong Triều Đ́nh hết sức trọng vọng. Năm Mậu Tuất 1778 ( Vận Thái Tuế ) ông được gia thăng H́nh Bộ Tả Thị Lang và làm Hiệp Trấn xứ Sơn Tây – Hưng Hóa kiêm chức Thống Lĩnh các Đạo quân dẹp loạn ở ngoài vùng Biên Ải. Chính sự được yên ổn đem lại b́nh yên cho dân bản xứ làm uy thế của ông ngày càng một lớn, nên được Trịnh Sâm giao nhiều trọng trách của Triều Đ́nh. Ngoài quan hệ Chúa Thượng - Bề Tôi giữa Trịnh Sâm và Nguyễn Khản c̣n có mối quan hệ bạn bè thân thiết. Ông thường được Chúa ban ân theo Ngự giá đi săn, đi câu, tắm sông, thưởng nguyệt, ngồi cùng mâm với Vợ Chồng Chúa. Mỗi khi Chúa làm thơ đều đọc cho ông nghe để góp ư sửa chữa, nếu thấy ông chưa góp ư sửa chữa th́ Chúa coi bài thơ đó chưa ḥan chỉnh. Ông là bậc Thầy về thơ Quốc Âm, đă dịch Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm – là Danh Sĩ trong nhóm Cúc Lâm Cư Sĩ ; rất tiếc ngày nay, hầu hết tác phẩm của ông đều bị thất lạc !.

 

 Trịnh Sâm rất sủng ái tuyên phi Đặng Thị Huệ - khi Huệ sinh con trai, Trịnh Sâm có ư dành ngôi Thế Tử của Trịnh Khải cho Trịnh Cán !. Được tin Nguyễn Khản âm mưu đảo chính giúp Thế Tử Trịnh Khải ( biến cố năm Canh Tư 1780 ). Việc bại lộ những người chủ mưu đều bị hành h́nh, riêng ông được Trịnh Sâm tha tội chết !. Năm Nhâm Dần 1782 Trịnh Sâm mất, quân lính nổi dậy rước Trịnh Khải lên Ngôi Chúa, Trịnh Khải cho gọi Nguyễn Khản về Triều phong chức Thượng Thư Bộ Lại, tước Toán Quận Công. Năm sau được phong chức Thiếu Bảo, cùng năm được thăng Nhập Thị Tham Tụng ( Tể Tướng ). Sau 2 năm Trịnh Khải lên ngôi các quân lính cậy thế có công phù lập Trịnh Sâm, nên rất kiêu hănh kéo nhau vào Phủ Chúa đ̣i phong chức. Nguyễn Khản cùng dự mưu xin Chúa chém 7 tên cầm đầu nên bị Kiêu Binh đến đốt phá Dinh Thự tại Phường Bích Câu. Nguyễn Khản cùng em Nguyễn Điều trốn lên Sơn Tây gửi mật thư cho Trịnh Khải xin hội binh các Trấn để trừ họa Kiêu Binh, nhưng việc bị tiết lộ, ông cùng Nguyễn Điều xin nghỉ trở về Quê nhà. Trịnh Sâm thường viết thư thăm hỏi và ban thuốc men cùng tiền bạc lại cho phép thu Thuế 2 chiếc Tàu buôn để chi dùng. Năm Đinh Mùi 1787 quân Tây Sơn tiến ra Bắc, ông trở về Kinh Đô tập hợp Triều Thần bàn chuyện chống lại quân Tây Sơn, nhưng việc chưa thành th́ ông bị cảm Bệnh và mất tại Thăng Long ( Vận Số đi vào Hạn Thái Âm 53t+Ḱnh Đà sau Hạn Kế Đô 52t vài tháng . Thái Âm chủ về Tim Mạch ).

 

b) Thân Thế và Sự Nghiệp của Nguyễn Đề (1761-1805 )

 

 Nguyễn Đề tự Tiến Phú, hiệu Tinh Kiên, biệt hiệu Văn Thôn Cư Sĩ là nhà Thơ Việt Nam ở cuối Thế Kỷ 18 - đầu Thế Kỷ 19. Sinh ngày 13 tháng 2 năm Tân Tỵ ( 1761 ) tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là con thứ 6 của Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm và bà Trần Thị Tần và là anh cùng Mẹ với Thi Hào Nguyễn Du - cả 2 đều hưởng ḍng máu Thi Ca của Song Thân từ hồi c̣n nhỏ !. Nhờ cha làm Tể Tướng nên những năm tháng thiếu thời , ông sống khá yên vui cùng các anh em trong Dinh Thự bề thế ở phường Bích Câu trong Kinh Thành Thăng Long.

 

 Năm Mậu Tư 1768 mới 7 tuổi ông đă được Tập Ấm : Hoằng Tín đại Phu, Trung Thành Môn Vệ Úy, Khuê Nhạc Bá. Năm Canh Tư 1780 nhờ thông minh và chăm chỉ, ông đỗ đầu Kỳ khảo Khóa ở Quốc Tử Giám. Năm Qúy Măo 1783 ông đỗ đầu kỳ thi ở huyện Thọ Xương và huyện Đông Ngàn. Tháng 10 cùng năm ông đỗ Giải Nguyên lúc 23 tuổi khoa Thi Hương ở trường thi Phụng Thiên. Năm Bính Ngọ 1786 ông được bổ làm Thị Nội Văn Chức, giữ việc thường trực tại nhà học của con Chúa Trịnh ; rồi kiêm Phó Trí Thị Nội Tả Lại phiên ở Phủ Chúa. Sau nữa ông được thăng Xu Mật Viện sự Đức Phái Hầu. Cùng năm Tây Sơn ra Bắc, ông được giao chức Hiệp Tán Quân Cơ ở đạo quân Sơn Tây. Năm Kỷ Dậu 1789 Vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu, không theo kịp, ông phải lánh về Quê Mẹ ở Bắc Ninh ( Hạn La Hầu 28t+Ḱnh Đà ). Năm Canh Tuất 1790 ông được nhà Tây Sơn mời ra giúp - từ Hàn Lâm Viện Thị Thư rồi được cử làm Phó Sứ ( do Nguyễn Quang Hiển dẫn đầu ) đi Sứ đến Yên Kinh triều cống nhà Thanh. Về nước ông được thăng Đông Các Đại Học Sĩ, gia tăng Thái Sử, Thự Tả Thị Lang Nghi Thành Hầu. Năm Giáp Dần 1794 triều Cảnh Thịnh, ông được thăng Tả Phụng Nghi bộ Binh, vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp Tán Nhung Vụ cai quản tinh binh. Năm Ất Măo 1795, ông được cử sang Tàu lần 2 để chúc mừng Vua Càn Long làm Lễ nhường ngôi cho con là Gia Khánh. Tháng 2 năm sau về nước ông được phong chức Tả Đồng Nghị Trung Thư Sảnh. Năm Nhâm Tuất 1802 nhà Tây Sơn sụp đổ, Vua Gia Long lệnh cho ông theo Xe Vua ra Bắc và làm việc tại Bắc Thành dưới quyền quan Tổng Trấn. Năm Ất Sửu 1805 trong lần chịu tang người Thiếp, ông bị một Viên Tri Phủ truy bức nhân có 1 vụ việc tại làng ; rồi v́ qúa uất ức, ông đă qua đời khi Vận Số đi vào Hạn Thái Âm 44t+Tam Tai +Ḱnh Đà.

 

 Gia Cảnh 

 Ông có 2 người Vợ : Vợ chính thất họ Trịnh không có con. Vợ thứ sinh 3 con trai tên Giai, Lịch và Vĩ.

 

 Tác Phẩm

Ông để lại 2 Tập Thơ chữ Hán : Quế Hiên Giáp Ất tập và Hoa tŕnh tiêu khiển Tập.

Có người nhận xét về Ông : Ông làm quan thời Vua Lê Chúa Trịnh ( Cha và Anh cùng là Đại Quan ) ; khi Triều Lê sụp đổ, Ông ra làm quan với Nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn với ḷng tự nguyện, không mặc cảm, ít vướng bận nghĩa « Trung quân », thậm chí có lúc ông c̣n chỉ trích những người bảo thủ, lánh Đời. V́ chuyện này ông đă phải hứng chịu không ít lời dèm pha !. Trên 300 bài thơ của ông đều là những bài thơ Vịnh Cảnh, Ngụ Hứng, Cảm Ḥai, Thù Tạc… Trong số đó có gần chục Bài Thơ viết cho Em Trai là Tố Như Nguyễn Du. Tuy viết bằng chữ Hán, nhưng thơ của Ông đều có giọng b́nh dị, ít Triết Lư và được thể hiện bằng thứ Ngôn Ngữ tinh tế mà không cầu kỳ và kiểu cách. Nguyễn Đề là nhà Thơ có tấm ḷng nhân nghĩa, vị tha, có tâm hồn sâu lắng và nhiều trăn trở. Ng̣i bút của ông b́nh dị, nhưng có nhiều bài hay, câu hay. Đặc biệt Ông có hàng chục bài thơ viết cho Nguyễn Du với tất cả t́nh cảm yêu thương của một người anh dành cho một đứa em trai có Số Phận khá vất vả, long đong. Lần Nguyễn Du nuôi chí chống Tây Sơn, việc bị bại lộ bị bắt giam. Nhờ ông thân quen với tướng Tây Sơn là Nguyễn Thận nên Nguyễn Du được thả. Tuy 2 anh em sống xa cách nhau và mỗi người một số phận ; song họ luôn nhớ nhau, đặc biệt là T́nh Cảm của Ông đối với Nguyễn Du ( và ngược lại ) vô cùng sâu sắc. Đây chính là thứ T́nh anh Em hiếm thấy trong Lịch sử Văn Học Việt Nam !.

 

Xem PHẦN 2:

 



 

 

 

 

 

 

GS PHẠM  KẾ VIÊM

nguyên Giáo Sư TOÁN
Sài G̣n & Đà Lạt
 

 


 

 

   

 

www.ninh-hoa.com