www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
Nguyễn Đức Tường

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 


GS
Nguyễn Đc Tường
Tiến sĩ Vật Lư Nguyên Tử
Đại học
GEORGIA Institute of Technology, HOA KỲ

Nguyên Giáo Sư Toán
Trường Đại Học OTTAWA, CANADA

 

 

 

 

Richard Feynman và Vật lư đương đại

 

 

                                         

Bài viết đă được đăng trong Kỷ yếu Hạt Higgs và Mô h́nh Chuẩn. Giáo sư Higgs được giải Nobel Vật lư 2013 do công tŕnh nghiên cứu, tiên đoán sự hiện hữu của hạt cơ bản này cách đây 50 năm. CERN Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Âu châu đă khám phá ra hạt Higgs, kết quả công bố ngày 07-04-2012. Xin đọc bài Giới thiệu Kỷ yếu Hạt Higgs tại:

 

http://www.diendan.org/Doc-sach/gioi-thieu-ky-yeu-hat-higgs

  

 Richard Phillips Feynman

1918 – 1988

 

 PHẦN 3:

 

Sau chiến tranh, có ba hội nghị về vật lư rất quan trọng mà hai hội nghị đầu do chính các nhà vật lư bỏ tiền túi trang trải chi phí tổ chức. Đó là các Hội nghị Shelter Island, Pocono và, sau cùng, Oldstone. Mỗi hội nghị chỉ có vài chục người, được mời riêng, trực tiếp.

Tháng 4 năm 1947, Lamb làm một khám phá quan trọng, chứng minh mức năng lượng trong nguyên tử khinh khí thực sự là hai mức năng lượng hơi khác nhau, tương ứng với hai trạng thái lượng tử, hiện tượng được gọi là dịch chuyển Lamb. Tŕnh bày khám phá của ḿnh trong Hội nghị Shelter Island, Lamb đă gây xúc động mạnh trong cử tọa (gồm 24 người); Feynman cũng nói về cách tiếp cận không-thời gian trong cơ học lượng tử và tích phân quỹ đạo nhưng không gây mấy ấn tượng.

Trên đường về nhà, Bethe lập tức tính dịch chuyển Lamb cho trường hợp phi tương đối. Rồi Feynman, lần đầu tiên, dùng phương pháp của ḿnh, lúc này sẵn chứa ở trong những đ̣i hỏi của thuyết tương đối để tính năng lượng riêng của electron cùng dịch chuyển Lamb.

Nhận ra ưu thế của ḿnh, Feynman bèn tính đủ mọi thứ, như moment từ của electron. Năm 1948, tại Hội nghị Pocono, Schwinger sáng chói giải thích lư thuyết QED, không dễ nhưng tương đối quen thuộc, không ai than phiền, c̣n thuyết tŕnh của Feynman tựa đề Alternative Formulation of Quantum Electrodynamics là một tai họa nhỏ. Nếu Schwinger không dễ, nhưng cử tọa c̣n thoải mái, theo được, th́ Feynman rất lạ, cử tọa nhiều người không theo được. Nào là electron chuyển động theo chiều thời gian, ngược chiều thời gian, nhiều người chóng mặt.

Feynman quyết định chỉ c̣n một cách là viết để xuất bản những nghiên cứu của ḿnh, giấy trắng mực đen, mọi người có thể có th́ giờ ngồi suy ngẫm. Những bài viết của ông được xuất bản trọn vẹn vào năm 1949, có tầm ảnh hưởng hết sức sâu rộng trong vật đương đại, chẳng những tiện lợi cho QED mà c̣n được sử dụng trong những khảo cứu khác. Nhưng để phổ biến, cần có th́ giờ. Như transistor trong những năm gần đây, giản đồ Feynman đem tính toán xuống cho đại chúng,” một lần Schwinger có dịp b́nh phẩm về giản đồ Feynman, và câu đó không hàm ư một lời khen.

Việc Dyson đến học ở Cornell và gặp Feynman là một t́nh cờ may mắn. Dyson sớm nhận biết những nghiên cứu của Feynman quan trọng và rất cơ bản nên quyết định t́m hiểu thật cặn kẽ. V́ chỉ c̣n vài tháng ở Cornell nên khi được Feynman rủ cùng đi Albuquerque, New Mexico, Dyson vui mừng quá đỗi. Bốn ngày đi đường với Feynman cho Dyson những kinh nghiệm khó quên, như ông đă kể lại trong Disturbing the Universe, nghiên  cứu của Feynman “có tinh thần của một Einstein trẻ”. Trở về, Dyson có dịp đàm đạo nhiều và theo học một lớp dài 5 tuần với Schwinger ở Ann Arbor về lư thuyết QED. Dyson khoe ḿnh hiểu lư thuyết của Schwinger như bất cứ một ai, có lẽ chỉ trừ Schwinger! Kết quả là bài viết “The Radiation Theories of Tomonaga, Schwinger and Feynman”. Bài viết chứng minh sự tương đương của 3 lư thuyết về điện động lực lượng tử, đă khiến Dyson trở nên rất nổi tiếng, giúp phổ biến những phương pháp mới, và nhất là phương pháp của Feynman. 

Tháng Tư 1949, tại Hội nghị Oldstone, QED của Feynman chiếm khán đài chính và Feynman là ngôi sao sáng; một tháng trước ngày sinh nhật thứ 31, Feynman được xem như nhà vật lư hàng đầu của Hoa Kỳ và thế giới.

Khi đă quá tuổi 30, không c̣n mấy người có những sáng kiến đột phá; Feynman là một trường hợp ngoại lệ. QED mang lại cho Feynman giải Nobel, nhưng theo những người am hiểu vật lư, có ít nhất 3 trong những thành tựu sau này của ông cũng xứng đáng được như vậy: nghiên cứu về tính siêu lỏng (superfluidity) như đặc tính của Helium lỏng, lư thuyết tương tác yếu (theory of weak interactions) trong hiện tượng phóng xạ và lư thuyết partons (theory of partons) bao gồm cấu trúc của những hạt bên trong hạt nhân nguyên tử.

Những nhà khoa học, như một tập thể, không khác thành phần của những tập thể khác bao nhiêu; họ cũng đau buồn thương ghét như chúng ta, cũng gồm đủ mọi hạng người: keo bẩn, ti tiện, cao thượng, tội phạm, si mê... Đặc điểm sau cùng gán cho một vài người, có lẽ hơi nặng quá; như Hamilton, mà tên tuổi đáng lẽ phải được nhắc đến nhiều lần ở mấy đoạn trên, ở tuổi 14, đă biết 14 thứ tiếng; si t́nh, tất nhiên anh ta làm thơ tặng người đẹp và, cũng tất nhiên, người đẹp đi lấy một anh chàng dung tục khác. Hamilton đau khổ, định quyên sinh bằng cách tự trầm. Rất may cho khoa học khi tôn giáo cấm kỵ tự tử, nhưng cũng có thể anh ta đă thoát chết v́ bơi giỏi. Sau đó, có lẽ Hamilton lọt bẫy một cuộc hôn nhân không may, cưới phải bà vợ phó mặc việc nhà cho người làm, anh ta trở nên nghiện rượu. Khi qua đời ở tuổi 60, pḥng làm việc bừa bộn, giấy má lẫn lộn với bát đĩa c̣n cả thức ăn; người ta nói số bát đĩa này có thể đủ dùng cho một gia đ́nh khác.

Thời đại mới, ta có Richard (Dick) Feynman. Feynman không nói nhiều thứ tiếng, nhưng học tạm đủ tiếng Bồ để đi dạy học ở Brazil. C̣n cuộc đời riêng? Feynman điển trai, lắm tài và dung tục nên rất thành công với phái nữ. Nói vậy không có nghĩa là cuộc đời của ông ít sóng gió.

Dick Feynman và Arline Greenbaum gặp và yêu nhau từ thời học trung học. Họ hứa hôn khi Dick c̣n là sinh viên ở MIT và dự định sẽ lấy nhau khi Dick học xong. Dick tốt nghiệp Princeton nhưng khi họ sửa soạn làm đám cưới th́ Arline ngă bệnh, bị lao, một căn bệnh thời ấy không chữa được. Mặc mọi khó khăn, Dick vẫn cố sửa chữa...

Chúng ta hăy đọc lại nguyên văn câu trích trong bài diễn văn Nobel (đă dịch ở trên, trang 7, đoạn bắt đầu bằng: “Feynman viết say sưa,...”):

That was the beginning, and the idea seemed so obvious to me and so elegant that I fell deeply in love with it. And, like falling in love with a woman, it is only possible if you do not know much about her, so you cannot see her faults. The faults will become apparent later, but after the love is strong enough to hold you to her. So, I was held to this theory, in spite of all difficulties, by my youthful enthusiasm.

Feynman đang nói về QED hay đang nói về mối t́nh của đời ḿnh? Có lẽ cả hai. Câu chuyện về QED và Arline phát triển song song từ khởi đầu cho đến hồi kết cục: bắt đầu là vẻ đẹp và thanh lịch, một ư tưởng hay một cô gái, có thể có những khiếm khuyết nhưng ta không biết, rồi t́nh yêu nảy nở và đồng thời ta cũng nh́n thấy khiếm khuyết. Khiếm khuyết hay không, t́nh yêu sâu đậm đủ, ta sẽ không bỏ mà cố t́m cách sửa chữa. Feynman thành công trong khoa học, sửa chữa cho QED có một happy ending nhưng với Arline th́ đó là định mệnh.

Như một bi kịch cổ Hy Lạp, ngày 3 tháng 6 năm 1942 Feynman thi xong vấn đáp cho bằng Tiến sĩ, sẽ được chính thức trao vào mùa Hè. Ngày 29 tháng 6 năm 1942, Feynman làm lễ cưới Arline. Mượn được của bạn chiếc xe stationwagon, Feynman bỏ đệm giường vào sau xe, làm như xe cứu thương. Ngay sau lễ cưới, chú rể đặt cô dâu vào stationwagon, chở thẳng đến nhà thương làm phúc Deborah Hospital ở New Jersey, để cô ở đó và sẽ đến thăm cô mỗi cuối tuần. Rồi khi Dick đi Los Alamos, Arline được chuyển thẳng từ nhà thương Deborah, New Jersey, đến một viện dưỡng bệnh ở Albuquerque, New Mexico, do Giáo sư Oppenheimer, Giám đốc của Manhattan Project đă thu xếp cho. Arline sống trong viện dưỡng bệnh này c̣n Dick th́ về Los Alamos. Mỗi cuối tuần, Dick xoay xở t́m cách đến thăm Arline, quăng đường dài 150km một lượt đi/về.

Họ sống như vậy, sức khỏe của Arline không khá hơn. Trong t́nh trạng tuyệt vọng, Arline muốn để lại cho Dick một đứa con. Họ đă có với  nhau một tối tân hôn muộn màng. Rồi họ vui mừng, tưởng Arline đă thụ thai nhưng tiếc thay, đó chỉ là một triệu chứng khác của căn bệnh.

Cuối tháng 5 năm 1946, bố của Arline từ New York đến thăm con, có thể là lần cuối cùng. Một ngày tháng 6, ông gọi điện thoại cho Dick ở Los Alamos bảo đến ngay, chính ông cũng kiệt sức. Dick đến kịp chỉ để ngồi bên, nghe được hơi thở yếu ớt lịm tắt dần của vợ. Cô y tá trực vào buồng xem và nói rằng Arline đă mất.

Hôm ấy là 16 tháng 6 năm 1945. Một tháng sau, Hoa Kỳ thử quả bom nguyên tử đầu tiên.

Trong suốt đời khoa học của Feynman trải dài ngót 50 năm, non nửa thời gian này luôn luôn đầy rối loạn. Bắt đầu là đời sống vợ chồng với Arline. Con người có thể làm một cử chỉ rất anh hùng trong khoảnh khắc, nhưng nếu bảo lặp lại những cử chỉ ấy trong 3 năm liền, có lẽ trên đời không có nhiều Feynman. Những giấy tờ Feynman để lại, không có dấu hiệu nào chứng tỏ ông nản chí.

Sau khi Arline mất, trong suốt 10 năm, đời sống vật chất và nội tâm của Feynman hầu như luôn luôn bị giày ṿ, dằn vặt; nhất là mấy năm cuối cùng, Feynman sống một cuộc đời hết sức buông thả, phóng đăng. Ngày 28 tháng 6 năm 1952, Feynman cưới Mary Louise Bell (Mary Lou); một ngày đáng chú ư: đúng một ngày trước kỷ niệm 10 năm ngày cưới Arline. Có lẽ Feynman muốn lấy lại thăng bằng cho đời ḿnh. Mary Lou là sinh viên mỹ thuật, tóc vàng nảy lửa. Feynman thường ḥ hẹn cô ở Cornell; lúc này, cô đang dạy học ở Michigan State University. Cuộc hôn nhân tiến hành vội vă tuy cũng kéo dài được 4 năm cho đến mùa hè năm 1956, rồi đưa đến ly dị v́ hai người không hợp tính nhau.

Chỉ đến đầu thập niên 1960, đời sống nghề nghiệp và gia đ́nh của Feynman mới ổn định. Mùa Thu năm 1959, Feynman được bổ vào ghế giáo sư Richard Chase Tolman Professor of Theoretical Physics, với mức lương giáo sư cao nhất Caltech. May mắn hơn Hamilton rất nhiều, tháng 9 năm 1960, ở tuổi 42, Feynman cưới người vợ thứ ba, Gweneth Howarth, cô gái người Anh 26 tuổi mà ông gặp ở Genève. Gweneth là người dịu dàng, hiền thục, khả ái. Mọi người xung quanh đều công nhận là sau khi lấy Gweneth, Feynman trở thành một người tính t́nh dễ chịu. Hai người sống với nhau trọn đời, gần 30 năm, có một con trai chung, Carl sinh năm 1962, và Michelle, dưỡng nữ, được họ nhận làm con nuôi năm 1968.

Feynman là một người hào phóng, có nội tâm nhạy cảm và nồng nhiệt. Ông để lại một tập hợp thư từ rất phong phú. Michelle Feynman đă sưu tầm, cho xuất bản một cuốn sách gần 500 trang, có tựa là Perfectly Reasonable Deviations from the Beaten Track. Mở cầu may, thấy thư của một ông giáo trung học ở một tỉnh nhỏ hẻo lánh, đề nghị Feynman nói chuyện và trả lời cho cả lớp học bằng điện thoại. Feynman nhận lời, ân cần hỏi liệu có tốn quá không?  

Feynman mất ngày 15 tháng 2 năm 1988, v́ ung thư.  

Sau khi Feynman qua đời, người ta t́m thấy trong giấy tờ của ông một thư đề ngày 17 tháng 10 năm 1946 viết cho Arline. Lời thư nồng nàn, giấy nhàu, chứng tỏ Feynman đă đọc lại nhiều lần. Cuối thư thêm ḍng:

T.B. Xin thứ lỗi v́ thư này không gửi đi anh không biết địa chỉ mới của em.

 01/2014

 

oOo

 

HẾT

 

 

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Đc Tường

Tiến sĩ Vật Lư Nguyên Tử
Đại học
GEORGIA Institute of Technology, HOA KỲ

Nguyên Giáo Sư Toán
Trường Đại Học OTTAWA, CANADA

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com