www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Tà Áo Văn Quân

Giáo Sư
Nguyễn Đức Tường

 

Lời Giới Thiệu  

Tà Áo Văn Quân

Bài Không Tên Không Tên Kỳ 1   Kỳ 2  

KIBBUTZ
 
Kỳ 1
  |  Kỳ 2  |  Kỳ 3 

  Kỳ 4    |   Kỳ 5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 



KIBBUTZ

GS Nguyễn Đc Tường
Tiến sĩ Vật Lư Nguyên Tử
Đại học
GEORGIA Institute of Technology, HOA KỲ

Nguyên Giáo Sư Toán
Trường Đại Học OTTAWA, CANADA


 

 

 

 

 

Kỳ 4:

 

Rời Israel, Tân ở Istanbul hai tuần lễ, dự một ít lớp thuyết tŕnh về Vật Lư. Chàng đến Canada vào giữa tháng Chín, sau hơn một tháng lang thang ở Âu Châu. Cần hai tháng nữa tại Canada đời sống mới của chàng mới tạm ổn định. Trong khi đi du lịch hay những tháng đầu ồ ạt, bận rộn tại Canada chàng vẫn trao đổi postcards hay thư từ với Carmen đều đều nên không cảm thấy buồn. Khi cuộc sống ổn định, trở thành thói quen chàng bắt đầu cảm thấy đời trống rỗng.

 

Đă đành ban ngày luôn luôn bận, nhưng đến chiều vẫn phải đi ăn cơm tiệm. Ngồi ăn một ḿnh, vừa ăn vừa đọc báo hay ngắm mấy con cá vàng bơi lội trong ḍng suối nhỏ nhân tạo, càng ngày Tân càng luyến tiếc tiểu gia đ́nh của chàng với Carmen và Rivka.

 

Tuy liên hệ t́nh cảm của chàng với Carmen sâu đậm, khi rời Israel Tân không thật tin rằng liên hệ đó có thể vững bền được quá nửa năm. Xa mặt cách ḷng. Vậy mà bây giờ đă quá nửa năm, sau vài mối t́nh hờ không tên, không bến chàng càng cảm thấy rất thiếu Carmen. Chàng thiếu tấm thân mềm mại, sống động cũng như tâm hồn sắc bén, cách ăn nói dí dỏm của nàng. Qua thư từ chàng ngạc nhiên và mừng thầm thấy Carmen vẫn c̣n chia xẻ những t́nh cảm ấy.

 

Carmen đă lấy thêm một cours, và như vậy sẽ học xong cuối niên học này. Nàng thường viết thư kể đủ thứ chuyện linh tinh: kibbutz, đại học, bạn bè, Rivka, gợi lại những kỷ niệm xưa cũ. Tân cũng nhớ những kỷ niệm cũ đó, và cả những xích mích nhỏ luôn luôn có giữa bất cứ hai người nào. Tân muốn có Carmen, chàng nghĩ đến nhiều trở ngại. Những xích mích nhỏ không phải là trở ngại. Trở ngại là câu hỏi thầm hiểu nhưng không ai muốn đề cập tới một cách rơ ràng, thuần lư. Câu hỏi chàng có thể đọc được trên mặt mẹ Carmen khi bà gặp chàng lần đầu tiên: “Rồi sẽ đi đến đâu?” Nếu chỉ có hai người thôi th́ vấn đề sẽ được giải quyết dễ dàng. Nhưng c̣n xă hội chung quanh?

 

Với gia đ́nh Carmen, Do Thái là một truyền thống hơn là một tôn giáo, do đó tôn giáo không quan trọng cho lắm. Vấn đề chủng tộc, tập quán phiền toái hơn nhiều. Trong phạm vi gia đ́nh Carmen, ai cũng nói tiếng Anh và tiếng Pháp, nhưng như khi ở kibbutz lúc mọi người ào ào nói chuyện bằng tiếng Do Thái, phần Tân có thể đóng góp được là câu “Shalom!”

 

Tân biết Carmen không phải là một cô gái an phận, ngồi vê tà áo trong môi trường của chàng, nhưng chàng cũng tưởng tượng được khi mọi người kể chuyện khôi hài bằng tiếng Việt, khó khăn của nàng không nhỏ. Mặc dầu hăy c̣n phân vân như vậy, Tân vẫn viết thư cho Carmen hỏi nàng c̣n muốn xem Expo 67 ở Montréal như hai người đă bàn tính trước kia không. Chàng đọc lại thư Carmen.

 

Tel Aviv le 9 mars 1967

 

Anh yêu quư,

 

Nhân dịp Purim[1] bố mẹ và em đi thăm chú ở kibbutz. Bố mẹ đưa em về Tel Aviv rồi lái xe về Jerusalem chiều nay. Ông bà có gửi lời thăm anh. Cả chú em nữa. Chú tỏ vẻ ngạc nhiên thấy em vẫn liên lạc thường xuyên với anh.

 

Đi với bố mẹ, em ngồi một ḿnh ở ghế sau. Tất nhiên dễ chịu hơn xe buưt. Tuy nhiên trên con đường quen thuộc này em thấy vắng anh. Em nhớ đến lần đầu tiên em đưa anh đi kibbutz, rồi Noel...

 

Chuyện mới ở kibbutz. Mọi người quyết định nuôi gà vừa để có thịt ăn vừa để sản xuất trứng. Thử thôi, hiện tại chỉ sản xuất đủ cho kibbutz dùng; nếu thấy làm ăn được th́ sẽ khuếch trương rộng lớn để bán.

 

Em rất mừng thấy anh nói đời sống đă phần nào ổn định, và anh đă bắt đầu làm việc lại đàng hoàng. Nghe anh tả cảnh ngồi ăn tiệm, ngắm cá vàng bơi em thấy tội nghiệp quá. Anh thiếu tiểu gia đ́nh của anh ở đây?

 

Từ ngày anh đi, cả em lẫn Rivka đều lười, cơm tối chỉ nấu một món. Ít khi Rivka chịu làm gourmet. Như vậy cũng có thể nói là mọi người ở đây thiếu anh! Coi bộ từ giờ đến cuối năm, nếu c̣n ở đây em sẽ phải t́m người thuê chung appartement mới. Em có cảm tưởng Rivka và David một hai sẽ làm đám cưới. Em hỏi, Rivka cứ úp mở không chịu nói. Nó nói đùa là nếu có th́ vẫn có thể ménage à trois như trước. Cô nàng cũng hỏi thăm anh luôn.

 

Bây giờ đến chuyện em. Một tuần lễ vẫn làm mươi giờ tại tiệm sách. Em học bù đầu, lấy thêm cours để cho xong năm nay. Em không than phiền, em có cái thú đọc sách từ khi c̣n nhỏ. C̣n chuyện Expo 67? Anh muốn biết em có c̣n muốn đi xem Expo nữa không, em muốn lắm chứ. Em lấy thêm cours một phần cũng v́ chuyện này, để khỏi phải học trong mùa hè. C̣n chuyện anh sẵn sàng gửi cho cô hàng bán sách nghèo vé máy bay đến Montréal?

 

Présomptueux! Anh quên cô hàng bán sách là nhà con một. Hơn nữa chỉ có vé máy bay cho đến Montréal thôi, ngộ bơ vơ ở Montréal th́ sao? Nói đùa vậy thôi, cảm ơn ḷng tốt của anh. Về chuyện đi Montréal này có lẽ em cũng làm được một ngạc nhiên. Em sẽ nói cho anh nghe trong một thư tới.

 

Bữa trước gặp Aaron. Aaron khoe là bài anh và Aaron viết chung đă được nhận đăng. Aaron nói là cũng sẽ xong tiến sĩ trong năm nay, và đang kiếm việc. Anh ta muốn qua Thụy Sĩ.

 

À, em gặp cả Mathilda, bà thư kư. Bà ta hỏi em có tin tức ǵ của anh không. Khi em đáp vẫn nhận được thư anh đều đều, bà toe toét cười nói potion gia truyền bí mật của anh thực là tốt. Anh có biết em trả lời bà ta thế nào không? Em nói: “Bà muốn nói potion gia truyền bí mật của tôi thực là tốt! “

 

Thôi em ngừng ở đây. Hôn anh nhiều.

 

Carmen

 

Và như vậy hai người tiếp tục trao đổi thư từ, cùng sửa soạn cho mùa hè tới đi chơi Expo, Terre des Hommes. Cho đến tháng Sáu, một hôm ở đại học về, ngoài thư đ̣i tiền điện và điện thoại hàng tháng, Tân nhận được thư của Rivka và Carmen. Thư Carmen đóng dấu bưu điện của kibbutz. Chàng hớn hở bóc thư Carmen.

 

 

 

Tel Aviv le 3 juin 1967
 

 Anh yêu quư,

 

Em đếm từng ngày. Chỉ c̣n không đầy ba tuần lễ nữa ḿnh sẽ lại gặp nhau. Em biết trong quá khứ anh đă “chạy Tây” thoát, nhưng chuyến này chắc anh “chạy Đầm” không nổi, nhất là v́ “Đầm Do Thái” dữ lắm. Ồ, có bao nhiêu điều em muốn kể đang nhẩy múa trong đầu em.

 

Trước hết em đă thi xong hết. Xong cử nhân năm hăm hai tuổi vài tháng; không thật là giỏi, nhưng chắc chắn là không dốt. Em c̣n làm được cái này hay hơn thế nữa: em xin được việc làm trong Pavillon Israel ở Expo 67. Hay không? Như vậy là em được xem Expo mà không phải tính toán ǵ về khoản xê dịch và ăn ở tại Montréal trong cả tháng. Em nghe nói nhà cửa, khách sạn ở Montréal đă bắt đầu rất đắt và khó kiếm.

 

Đó là chuyện xa. Chuyện gần hơn, em thấy mây thật đen u ám ở chân trời. Chắc anh đọc báo có thấy t́nh h́nh đang căng thẳng ở đây. Bọn em trong trừ bị cũng bị báo động luôn luôn. Quân đội các nước Ả Rập tập trung tứ phía. Nasser đe dọa phong tỏa eo biển Tiran ở Vịnh Aqaba, và nếu điều đó xẩy ra em biết chắc chắn là sẽ đánh nhau. Điều đó anh cũng biết: eo biển Tiran là đường độc nhất của Israel thông ra Hồng Hải và Ấn Độ Dương.

 

Bữa trước em gặp Zvi, bạn anh. Zvi gửi lời thăm anh. Anh ta cũng vừa xong trường thuốc năm nay, đang trở về đơn vị. Em hỏi với tư cách y sĩ, anh đáp không, vẫn là tay súng của chiến xa ba mươi lăm tấn. Em thấy tục tĩu, bàn tay thanh và mềm của Zvi không phải là bàn tay xạ thủ của chiến xa ba mươi lăm tấn. Anh c̣n nhớ lần ḿnh đi nghe buổi tŕnh diễn của Zvi ở Jerusalem?

 

Sinh viên trường thuốc kiêm nhạc sĩ violoncelle ngoại hạng, ngoại hạng đủ để khiến thính đường đầy nứt như quả trứng. Em c̣n nhớ khi Zvi ôm đàn bước ra sân khấu, trang trọng như bước vào một đền đài; khi ngón tay Zvi khẽ phẩy mấy hạt phấn nhựa tưởng tượng trên mặt đàn, như để bảo cho đèn tắt. Rồi khi Zvi cho thính đường tràn ngập bởi một nốt nhạc, một nốt nhạc rất lâu và chậm của Bach như với một cung kéo đàn kỳ diệu, dài vô tận...

 

Em run sợ. Đừng hiểu nhầm. Thanh niên nam nữ thế hệ em cáng đáng mọi việc ở nước này. Em sẽ làm hết bổn phận không khó khăn ǵ. Israel không có cái xa xỉ của nhiều nước khác, như Việt Nam, có dịp chữa lại lỗi lầm của ḿnh. Em không có cái may mắn – hay cái không may mắn – của anh bạn Syria của anh: ḷng căm hờn uất hận. Như em đă kể, gia đ́nh em sống ở Algérie nhiều thế hệ, em không thành colon, làm sao qua đêm em có thể căm hờn dân Ả Rập ở đây?

 

Anh c̣n nhớ một lần ngồi trên xe buưt, anh chỉ cho em một bà già có số của trại tập trung chàm trên cánh tay, nét mặt xa xăm buồn vô hạn, đôi mắt mờ mờ nh́n tận đâu đâu? Thế hệ em không có quyền để chuyện này xảy ra lần nữa, đó cũng là chuyện sống c̣n của Israel và đồng thời tránh cho nhân loại một ô nhục mới.

 

Em – và em nghĩ đa số bạn học của em, có lẽ cả Zvi – đi đánh nhau, ḷng không hận thù. Điều đó làm em run sợ. Trước hết nó làm những người như em đôi lúc cảm thấy giống bọn mercenaire ghê tởm. Thứ hai, như Don Camillo nói với Christ trong cuốn Thế Giới Bé Nhỏ của Don Camillo[2], ḷng tin thuộc về tinh thần c̣n sợ hăi thuộc về thể xác. “Lạy Chúa, v́ yêu Chúa con sẵn sàng chịu đựng ngàn điều run sợ như thế này. Nhưng con vẫn run sợ. Chúa khinh bỉ con?” Christ mỉm cười đáp không.

 

Anh thấy hay không, đứa con gái Do Thái trích dẫn tác giả Cơ Đốc và ông cố đạo, dẫu ông cố đạo ngoại hạng. Em đă bảo anh văn hóa thật nguy hiểm. Nhưng không sao, em không quá khích như một thiểu số ở đây. Ḿnh chẳng đồng ư với nhau rồi sao? Nếu có một đấng toàn năng th́ đấng toàn năng đó, hăy tạm gọi là Thượng Đế, chỉ có một và chung cho tất cả. V́ vậy em thấy hoàn toàn yên ổn h́nh dung được ông cha Don Camillo và ông thị trưởng cộng sản Peppone, cả hai căn bản tốt và nồng nhiệt, chụm đầu tô tượng cho crèche Giáng Sinh, không một chút mâu thuẫn. Một h́nh ảnh em thấy đẹp và hài hước đến chảy nước mắt.

 

C̣n tin Thượng Đế có hay không là chuyện khác, nó thuộc về phạm vi tôn giáo. Lư luận của em tiện ở chỗ không có một người hay một thực thể nào là đấng toàn năng và không có một chủ nghĩa nào là tôn giáo. V́ nếu muốn được tin như một tôn giáo, nó sẽ bị đổ vỡ từ đầu v́ mâu thuẫn nội tại. Anh yên trí chưa? Anh đă chịu sự nhất trí và chặt chẽ trong lập luận của cô cử mới chưa?

 

Nhân nói chuyện cộng sản và tôn giáo, gần đây em kiếm được mấy cuốn lịch sử Việt Nam, cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh. Em đọc kỹ lắm. Em thấy chiến tranh hiện tại man rợ. Tất cả những cuộc chiến tranh từ bao nhiêu thế kỷ nay, mà một bên bắt Thượng Đế đầu quân cho ḿnh, đều man rợ. Thượng Đế thực không thể chấp nhận những mạo danh đó. Chiến tranh hiện tại ở Việt Nam c̣n tệ hơn thế. Em không biết thiện ư của người Mỹ lúc đầu như thế nào, nhưng em thấy những phương tiện họ dùng so với mục tiêu định đạt đă đi quá xa, rất quá xa, đến độ vô luân.

 

Đọc kỹ lịch sử Việt Nam, em thấy nếu ḿnh có một “time machine” làm lùi lại hai ba trăm năm, em tin chắc chiến tranh hiện tại ở Việt Nam vẫn xẩy ra. Có điều chiến tranh đó không có cái phiền phức phải dính dáng đến cộng sản, tư bản lôi thôi. Chắc chắn là nó không đẫm máu như hiện nay.

 

C̣n ǵ nữa, Israel hay Việt Nam, bao nhiêu người tài hoa của cả hai bên đă chết. Thật phí phạm! Rồi sẽ thêm bao nhiêu người nữa, như Zvi? Sáng mai em phải đi kibbutz sớm.

 

Đă quá nửa đêm. Rivka đang than phiền là em để nhạc to quá nó không ngủ được. Bài ǵ anh biết không? Bài Pièce en forme de habanera và bài Tzigane của Ravel. Tiếng vĩ cầm của Ginette Neveu nồng nàn và bỏng lửa như ngưng đọng trong pḥng, vượt hẳn lên trên mấy tiếng lạch cạch của đĩa cũ. Ồ, Ginette Neveu, trông tay cầm cung kéo đàn của cô sao mà thanh lịch. Một người tài ba như cô sao phải chết ở tuổi ba mươi?

 

Anh yêu quư, tại sao em viết cho anh lôi thôi, u tối như thế này? Có lẽ tại em thấy đời sống mênh mông và đêm dài cô độc. Hay tại tiếng vĩ cầm của Ginette Neveu.

 

Đêm nay em thật thiếu anh. Đêm nay em chỉ muốn anh ôm em thật chặt, em chỉ muốn sống với anh một cuộc đời thật b́nh dị, cơ bản, không chia xẻ, không lư tưởng, không không ǵ hết... cho đến quá tuổi ba mươi. C̣n thêm ra được bao nhiêu là ngoại bổng.

 

Em sốt ruột trông ngóng từng ngày. Mặc dầu t́nh h́nh đen tối trong ít ngày tới, em hy vọng chương tŕnh của em không có ǵ thay đổi. Em sẽ đến Montréal vào ngày 22 tháng 6. Em sẽ đánh giây thép cho anh trước khi đi.

 

Em hôn anh nhiều nhiều.

 

Carmen

 

 

 

GHI C:

 

[1] Purim: Lễ Do Thái rất vui nhộn vào mùa xuân.

[2] Giovanni Guareschi, Le petit monde de Don Camillo (bản dịch tiếng Pháp, nguyên

tác tiếng Ư).

 

 

 

Đón xem kỳ 5

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Đc Tường

Tiến sĩ Vật Lư Nguyên Tử
Đại học
GEORGIA Institute of Technology, HOA KỲ

Nguyên Giáo Sư Toán
Trường Đại Học OTTAWA, CANADA

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com