www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Tà Áo Văn Quân

Giáo Sư
Nguyễn Đức Tường

 

Lời Giới Thiệu  

Tà Áo Văn Quân

Bài Không Tên Không Tên Kỳ 1   Kỳ 2  

KIBBUTZ
 
Kỳ 1
  |  Kỳ 2  |  Kỳ 3 

  Kỳ 4    |   Kỳ 5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 



 
BÀI KHÔNG TÊN KHÔNG TÊN

GS Nguyễn Đc Tường
Tiến sĩ Vật Lư Nguyên Tử
Đại học
GEORGIA Institute of Technology, HOA KỲ

Nguyên Giáo Sư Toán
Trường Đại Học OTTAWA, CANADA


 

 

 

 

 Lời Tác giả: Đă từ lâu tôi rất hâm mộ những bài hát rung động, đầy t́nh cảm của nhạc sĩ Vũ Thành An. Ông có nhiều bài hát không tên thường được đánh số, thí dụ Bài Không Tên Số 1, Bài Không Tên Số 2... Tôi nghĩ măi. Mấy bài hát đó không thể gọi là không tên, đó là bài không tên Số 1, bài không tên Số 2, v.v. Do đấy tôi quyết định viết một bài thực, thực không tên. V́ vậy, Bài không tên không tên. Và để tặng C.H., người bạn xa xưa của những ngày lộng gió.
 

 

Kỳ 2:

 

 

Lễ Giáng Sinh năm đó Tuân đến sống với gia đ́nh Penny ở Tennessee. Penny và bố nàng, bác sĩ Crawford, đón Tuân ở bến xe buưt. Trên Greyhound bước xuống, Tuân bắt tay vừa nói câu xă giao: “Rất hân hạnh được gặp ông, bác sĩ Crawford,” th́ ông đă ngắt lời: “Anh có thể cứ gọi tôi là Peter cho tiện.”

 

Hoạt bát, có tài giúp người khác giữ được tự nhiên, ông khiến Tuân quên bản tính e dè thường lệ của ḿnh và gọi ông bằng tên tục. Được vài lần, điều mà Tuân không làm nổi với mẹ của Penny (Penny kể mẹ nàng hỏi tại sao chàng bỏ cái routine “Peter and Mrs. Crawford” mà bà rất thích.)

 

Bác sĩ Crawford nguyên là một bác sĩ hành nghề ở Atlanta. Ông là một bác sĩ hiếm có ở chỗ ông không đồng ư với lập trường của nghiệp đoàn bác sĩ Hoa Kỳ. Ông nghĩ họ tham lam quá. Ông muốn về hưu nên dọn về một tỉnh nhỏ tại Tennessee, quê hương ông. Bây giờ ông làm việc ba ngày một tuần, “đại khái cho đủ tiền giữ nhà và chi tiêu hàng tháng,” ông nói. Th́ giờ c̣n lại, ông hoặc giúp không công cơ quan hành chính cho mấy reserves của người da đỏ, hoặc đọc sách, nghe nhạc hay làm những thứ linh tinh định làm từ khi c̣n trẻ.

 

Khi bác sĩ Crawford ra trường th́ những sư đoàn Panzer của Đức tiến vào Ba Lan. Hành nghề được ít lâu, khi Hoa Kỳ sắp nhảy vào ṿng chiến, ông t́nh nguyện vào quân lực Mỹ. Đại chiến thứ hai đem bác sĩ Crawford đi khắp chốn ở châu Âu. Những cảnh chiến tranh, chết chóc, tàn phá, đói khổ đă ghi lại một vết thương khó hàn gắn trong tâm năo người thanh niên Crawford giản dị và nhạy cảm. Có lẽ đó là điều khiến ông muốn về hưu trước tuổi để yên hưởng đời sống riêng tư của ḿnh và làm ít việc nghĩa (“tôi muốn tự ḿnh làm những ǵ ḿnh có thể làm,” ông nói).

 

Đại chiến thứ hai chấm dứt, bác sĩ trung tá Crawford thấy ḿnh đang ở Vienna. Ông giải ngũ ít lâu sau đó, và ở lại Vienna thêm một thời gian nữa. Tại đây ông gặp Anne-Marie, bà Crawford tương lai.

 

Anne-Marie có đôi mắt trong xanh, sâu thẳm, đượm chút u hoài, có lẽ v́ đói lâu ngày. Tuy vậy, những thiếu thốn, bần cùng của chiến tranh không xóa bỏ được hơn hai mươi năm chăm nom, hun đúc của một gia đ́nh quư phái Vienna rất cũ, nhưng không thật sung túc. Trong bộ y phục không mấy sang trọng, nàng hăy c̣n giữ được vẻ đài các, thanh lịch, từ cách đi đứng cho đến cách ăn nói, chậm chạp, nhẹ nhàng với từ ngữ được chọn lựa cẩn thận.

 

Ṭa lâu đài nhỏ bên bờ sông Danube, nơi nàng sinh trưởng, nay tiều tụy v́ không tiền săn sóc. Về nhiều phương diện, nàng rất may mắn được chàng thanh niên Crawford chiếu cố, một chàng thanh niên không quư phái, nhưng có học, sinh trưởng trong một gia đ́nh nề nếp Mỹ.

 

Nàng không bị làm nhục bởi đề nghị biếu một đôi stocking mới hay một hộp phó mát xà pḥng nhà binh, thứ tín dụng đúng tiêu chuẩn của GI, như nhiều người nàng biết. Peter Crawford mời nàng đi nghe nhạc và uống cà phê. Với Anne-Marie, nàng như cá vào lại nước. Không kẻ chiến thắng hay chiến bại, mối t́nh chân thực nẩy nở giữa hai người. Trước lễ Giáng Sinh năm đó, với một hôn lễ giản dị, Anne-Marie trở thành bà Crawford. Peter mang cô dâu trẻ mới của chàng về Mỹ, hai người lập nghiệp tại Atlanta.

 

Penny ra đời cuối năm sau. Pḥng mạch của bác sĩ Crawford phát đạt, vợ ông không phải đi làm. Xuất xứ của bà cũng như giáo dục của gia đ́nh bà thật lư tưởng trong những trường hợp như thế này.

 

Bà Crawford không có nhiều th́ giờ rỗi răi. Mấy năm đầu ngoài việc chăm lo cho Penny và gia đ́nh, bà t́nh nguyện giúp việc các hội thiện. Về sau, có lẽ bà là người đắc lực nhất của hội phụ nữ trong việc giúp đỡ dàn nhạc giao hưởng của thành phố, lúc nào cũng thiếu tiền. Tổ chức những buổi diễn thuyết, hoặc kỷ niệm một trăm năm sinh nhật nhạc sĩ này, hai trăm năm ngày chết nhạc sĩ kia không phải là việc làm xa lạ đối với một cựu công dân trưởng giả của Vienna.

 

Bà thành công nhiều do một hiểu biết rộng răi về âm nhạc, và do sự giao dịch bặt thiệp, dễ dàng và tự nhiên với đám captains của kỹ nghệ trong thành phố hay với đám “bạn” của thống đốc tiểu bang hoặc của tổng thống ở Hoa Thịnh Đốn xa xôi. Về điểm này bà được sự trợ giúp của mấy cột báo, nhỏ to về “nữ bá tước”. Có người hỏi, bà chỉ mỉm cười, không nói đúng hay sai, do đấy càng tăng thêm vẻ huyền bí. Sống ở Mỹ đă lâu năm, bà biết nước Mỹ cộng ḥa dành một chỗ rất đặc biệt trong tim cho các công chúa, bá tước... Chuyện này chắc chắn không gây thiệt hại ǵ cho dàn nhạc giao hưởng.

 

“Nghe nói anh cũng là nhạc sĩ?” bác sĩ Crawford vừa lái xe vừa nói.

 

“Dạ, chữ “cũng” trong câu hỏi của ông có lẽ là câu trả lời chính xác nhất,” Tuân trả lời.

 

Bác sĩ Crawford cười to thông cảm. Trên đường về ông kể cho chàng nghe lịch sử thành phố bé nhỏ này. Bây giờ nó bắt đầu lớn, đă lan đến trại của ông. Nhà ông vốn là nhà một nông trại, ngoài thành phố, được truyền lại đến ông là ba đời. Lúc đầu trại có mấy trăm mẫu đất, qua mỗi đời nó nhỏ đi một chút, bây giờ chỉ c̣n chừng mươi mẫu, hobby farm.

 

Ông nhớ ngày xưa, c̣n nhỏ, vào những buổi b́nh minh, khi sương hăy c̣n đọng ướt trên cành lá, ông hay đi thăm tổ mấy con chim đỏ cổ trong bụi rậm bí mật. Ông thường cưỡi ngựa chạy quanh vùng. Bây giờ ông hăy c̣n một con ngựa, nhưng chắc không c̣n giữ được bao lâu nữa. Ông nói nếu thích cưỡi ngựa, chàng có thể trở lại vào mùa hè, “tôi sẽ chỉ cho anh cách cưỡi ngựa không thua ǵ một kỵ sĩ Anh.”

 

Tuân lễ phép cảm ơn, từ chối, nói chàng có một anh bạn người Pakistan, một lần chỉ cho chàng cách cưỡi ngựa như “một kỵ sĩ Anh”. Chàng không thành một kỵ sĩ Anh v́ hơn một ngày sau mà thấy hai bên đùi hăy c̣n rát bỏng. Ông cười ngất.

 

Chỗ đất trại c̣n lại của bác sĩ Crawford là một quả đồi thấp. Căn nhà xây trên đỉnh đồi, vẻ thôn dă vẫn c̣n giữ nguyên được ở cả bên trong lẫn bên ngoài, như cách đây đă hơn bẩy mươi năm, tuy bên trong nhà trang bị hiện đại. Khó mà đoán được gia đ́nh Crawford qua mấy thế hệ đă tốn biết bao nhiêu công của. Nhà hai tầng, buồng khách rộng, cao vút cả hai tầng, có ống khói lớn của ḷ sưởi lên đến trần. Chiếc quạt trần treo dưới rui gỗ lớn, bóng loáng, quay chầm chậm để hơi nóng lưu thông. Ḷ sưởi ở cuối buồng, lớn đủ để cung cấp sức nóng cho cả nhà, trên mặt gang xám của ḷ là ấm đun nước và nồi nấu súp cũ kỹ của nhà nông.

 

Buồng của Tuân, buồng dành cho khách, ở ngay cạnh thư viện. Tuân và bác sĩ Crawford tiêu nhiều giờ trong buồng thư viện này, nói chuyện thu thập sách. Ông kiêu hănh khoe chàng những cuốn sách rất cũ, một vài cuốn từ thời nội chiến.

 

“Này đây Gone With The Wind, xuất bản lần thứ nhất, anh để ư gáy cuốn sách đóng rất công phu.”

 

Chàng lật giở cuốn sách, giấy đă hơi vàng nhưng sách c̣n đẹp nguyên. Trang đầu có bút tích “John C” viết bằng mực, cũng đă mờ.

 

“Đấy là chữ ông thân sinh ra tôi,” ông nói.

 

Đêm Giáng Sinh qua đi một cách thanh b́nh. Bữa cơm gia đ́nh truyền thống ḥa hợp cả châu Mỹ lẫn châu Âu. Đáng nhẽ dùng gà tây bà Crawford đặt mua một con ngỗng to nặng như những gia đ́nh Đức-Áo. Thịt ngỗng đậm đà, không khô như gà tây, nước sauce béo ngậy, mầu nâu thẫm đặc sệt. Bà kể ngày xưa, c̣n nhỏ, trong những bữa cơm gia đ́nh nhà bà như thế này, bà hay nằn ń xin mẹ thêm nước sauce để chấm bánh ḿ. Mắt đôi chút mơ màng, đó là một trong ít lần bà nhắc đến chuyện quá khứ.

 

Rồi đến sinh nhật của Penny. Bà giúp việc da đen giúp bà làm cơm và làm bánh sinh nhật, một việc bà rất thích. Sinh nhật của Penny vào giữa Giáng Sinh và Tết dương lịch, bao giờ nàng cũng ăn sinh nhật ở nhà.

 

Nàng mời mấy người bạn cũ từ thời trung học, Liz và Matt, từ trường về nghỉ lễ. Liz hoạt bát, khoe đang date ông thầy dậy tiếng Anh, c̣n Matt trầm tĩnh, sắp học xong. Penny dậy Tuân chơi bridge. Ban đêm không lạnh, tuyết rơi nhiều, họ rủ nhau lấy toboggan ra trượt tuyết. Đồi dốc hẻo lánh ngay ngoài nhà, những “đứa trẻ” tuổi trên hai mươi la ḥ ầm ỹ. Lúc quá nửa đêm, Matt và Liz cáo biệt.

 

Đứng trên đỉnh đồi, chờ cho đèn xe đă khuất, hai người ôm hôn nhau rất lâu, mặc cho tuyết phủ kín đầu như pho tượng. Chợt cảm thấy có ǵ làm cộm túi, Tuân móc túi thấy chiếc pin của hội Sigma Pi Sigma [1], không nghĩ ngợi, chàng cài lên áo Penny.

 

Khi hai người vào đến trong nhà th́ thấy bà Crawford đang sửa soạn đi ngủ. Penny gọi mẹ,

 

“Mẹ trông này, Tuân pin con!”

 

Bà cầm chiếc pin vàng xem khen, hỏi về lai lịch nó, rồi mỉm cười dịu dàng nói,

 

“Tôi cứ tưởng mấy người đă hết tuổi pin từ lâu rồi.”

 

Tuân hơi đỏ mặt. C̣n lại một ḿnh, Tuân và Penny ngồi trên đi-văng nắm tay nhau, trước ḷ sưởi, không necking. Họ ngồi cạnh nhau trong im lặng, ngắm nh́n những đốm lửa đỏ nổ tung tóe, như để cảm nhận thấy và vui hưởng sự có mặt của nhau. Khẽ dụi đầu vào Tuân, Penny nói,

 

“Em yêu anh.”

 

Tuân cảm động. Lần đầu tiên trong đời, chàng nghe một người đàn bà nói với chàng như vậy một cách rành rọt, không hấp tấp qua hơi thở trong một phút say mê.  


 

Nhưng đó cũng là lần cuối Tuân gặp Penny. Mười năm đă qua đi. Chàng chỉ c̣n nhớ ngày đầu xuân năm đó, chàng nhận được một thư ngắn của Penny nói có lẽ điều tốt nhất cho cả hai là không nên gặp lại nhau nữa. Nàng viết tiếp,

 

“...nếu điều đó có nghĩa ǵ cho anh, em chỉ muốn nói thêm rằng em làm quyết định đă làm không phải v́ một người đàn ông khác đă quét chân em khỏi mặt đất.”

 

Tuân sống cơ cực mấy tháng tiếp đó. Chàng thầm trách Penny đă làm một quyết định quá phũ phàng, cold-blooded. Tuân nghĩ chàng hiểu Penny, nhưng có lẽ chàng mới chỉ hiểu Penny thuần lư. C̣n Penny đàn bà với tất cả những tế nhị, phức tạp, uyển chuyển chàng hoặc chỉ thoáng thấy hoặc không chịu nhận. Những phút sống bên nhau, chàng không mù quáng trước những ân cần, săn sóc của nàng. Như khi nàng từ chối không lấy việc làm với Thư viện Quốc hội, trong nhóm chuyên về Nga Sô Viết, v́ một trong những điều kiện phải nhận là cắt đứt mọi liên lạc với alien.

 

Một lần khác Penny hỏi: “Anh nghĩ sao nếu em đổi trường, dọn xuống đây, em có thể học trường ở đây?” Có lẽ Tuân đă trả lời quá nhanh: “Không nên, chương tŕnh ở đây không thể so sánh với Yale được.” Chàng thoáng thấy một gợn mây trong khóe mắt. Đó là một câu trả lời thuần lư. Điều chàng không chịu hiểu là những câu hỏi tương tự không chờ đợi câu trả lời thuần lư, dẫu thành thực, mà chờ đợi một khẳng định. Chuyện đổi trường thực sự hay không là một điều phụ, hoàn toàn khác biệt.

 

Mười năm đă qua đi. Mùa hè này Tuân có dịp trở lại Colorado, đi họp về Vật lư tại Denver. Anh bạn đồng nghiệp muốn khoe chàng tiểu bang, mang chàng đi chơi khắp chốn. Tuân không nói ǵ. Chàng muốn nh́n lại những nơi xưa cũ.

 

Đường lên núi ngày nay đă thương mại hóa quá nhiều, nhưng rừng thông già trên núi vẫn c̣n nguyên vẹn. Khi c̣n nhỏ Tuân có thói quen học nhập tâm những câu thơ hay những đoạn văn xuôi mà chàng thích. Chàng có thể t́m được dễ dàng một câu trích cho mỗi hoàn cảnh. Ở đây, nắng phớt vàng trên đỉnh núi, cây thông già vẫn dang cánh tay trơ trụi khẳng khiu, Tuân đọc trong đầu,

 

Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa, và linh hồn tôi vẫn là linh hồn năm trước”.

 

Chàng âm thầm nghĩ, “Duy có điều linh hồn tôi không c̣n là linh hồn năm trước.”

 

Chiều nay, trên đường về, Tuân ngồi uống cà phê, đọc báo, đợi đổi máy bay ở phi trường O'Hare, Chicago. Tuy mắt đọc báo nhưng tâm tư chàng c̣n nặng trĩu sầu muộn của dĩ văng. Đột nhiên chàng nghe tiếng nói trong trẻo của một cậu bé,

 

“Mẹ coi con mua được cái này.”

 

Rồi tiếng nói nghiêm nghị, quen thuộc,

 

“Thomas, con biết con không được làm như vậy!”

 

Tuân bỏ báo nh́n lên, một thiếu phụ ăn mặc lịch sự, đang trách mắng con bỗng ngừng lại, khẽ nói: “Lạy Chúa tôi.” Rồi hai người nói cùng một lúc:

 

“Penny!”

 

“Tuân!”

 

Sau một phút ngỡ ngàng, Tuân đứng dậy ôm hôn nhẹ trên má Penny. Nhớ đến thực tại, chàng nh́n Penny ḍ hỏi, nàng hiểu ư bèn nói,

 

“Chỉ có em và Thomas.”

 

Rồi nàng giới thiệu Thomas. Cho Thomas chạy chơi, hai người ngồi nói chuyện. Penny đợi đổi máy bay đến nhiệm sở mới của nàng ở San Francisco.

 

“Trông em vẫn đẹp như xưa, đẫy đà ra,” Tuân bắt đầu.

 

“Anh muốn nói em béo!”

 

Penny nhanh miệng ngắt lời, vẫn là Penny của mười năm về trước. Thấy Tuân nh́n chiếc pin Sigma Pi Sigma trên ngực ḿnh, Penny cắt nghĩa,

 

“Chiếc pin đẹp, em có thói quen tuần lễ đeo một lần, hôm nay ngày của pin.”

 

“Không có ǵ quan trọng, tôi hiểu,” Tuân nói.

 

“Không, không phải như vậy,” nàng nheo mắt cười, “nếu anh muốn đ̣i, em sẽ trả.”

 

Cả một bầu trời đêm tuyết hiện lại trong đầu, chàng đáp,

 

“Không, em cứ giữ, gọi là một chút ân t́nh. Vả lại, như mẹ em nói, ḿnh đă hết tuổi pin từ lâu rồi.”

 

Chàng hỏi thăm ông bà Crawford. Ông bà vẫn mạnh. Rồi nàng kể chuyện nàng.

 

“Em đă làm một việc rất không tiêu biểu của người Mỹ, giải quyết một câu chuyện t́nh cảm bằng hôn nhân.”

 

Nàng kể bố của Thomas là một người tốt, theo đuổi nàng đă lâu, từ khi nàng mới đến Yale, nhưng nàng không để ư. Câu chuyện dài ḍng, cuối cùng là nàng bằng ḷng làm đám cưới. Sau khi Thomas ra đời ít lâu, cả hai đều thấy thực không có ǵ chung nhau, đồng ư ly dị trong t́nh bạn.

 

“Từ đó đến nay,” Penny nói tiếp, “một phần v́ Thomas, một phần v́ công việc, em không cảm thấy áp lực phải đi kiếm chồng.”

 

Sau khi ly dị, Penny đem con về ở với bố mẹ mùa hè năm đó. Ông bà Crawford hơi buồn nhưng nghĩ rằng đó là giải pháp tốt nhất. Ông hơi ân hận không khuyên ngăn việc làm đám cưới, ông cũng nghĩ bố của Thomas sẽ không hợp với Penny. Ông biết tính t́nh con ông. Ông nói nàng cần phải có một người đàn ông cần nàng. Về điểm đó Tuân hợp với nàng hơn, chàng cần có một bảo trợ. “Vulnerable”, nhớ lại từ ngữ của bố dùng để tả Tuân, Penny nói,

 

“Trông anh vẫn như xưa, không già đi chút nào! C̣n anh?”

 

Tuân trả lời chàng vẫn lang thang đi họp Vật lư. Và thật là một sự t́nh cờ, chàng vừa ở Denver về đây. Penny nh́n Tuân, nàng cảm thấy một niềm thương xót. Tuân kể chiều hôm trước bạn đồng nghiệp đưa đi chơi nhiều nơi ở Colorado khiến chàng có dịp nghĩ lại chuyện cũ. Ngắm nh́n Penny chàng bùi ngùi nói,

 

“Tôi rất ân hận đă khiến em buồn trong quá khứ.”

 

“Anh biết vậy, phải không anh?”

 

Penny nhẹ nhàng nói, đưa tay qua nắm tay Tuân trên mặt bàn, bàn tay kia khẽ đập lên mu bàn tay chàng như an ủi,

 

“Cũng là lỗi tại em. Mà có lẽ không là lỗi tại ai hết. Đă biết bao nhiêu nước chẩy dưới cầu. Ḿnh không c̣n vô tư như ngày xưa nữa.”

 

Hồi lâu, mắt mơ màng nàng tiếp,

 

“Ḿnh đă sống những giờ phút của ḿnh, thật không có điều ǵ đáng ân hận.”

 

Chiều phi trường! Một cặp không là t́nh nhân nhưng có lẽ vẫn yêu nhau. Họ đă tiêu gần hết hai tiếng đồng hồ. Tiếng động cơ máy bay, tiếng hành khách xào xạc, những tiếng động tạp nhạp khác, tất cả đều lùi lại thành tiếng động hậu trường. Hai người ngồi im lặng như đêm Giáng Sinh thủa nào, hai bàn tay vẫn nắm lấy nhau trên mặt bàn.

 

Tiếng loa phóng thanh yêu cầu hành khách đi San Francisco lên máy bay, Penny như giật ḿnh tỉnh giấc. Khẽ rút tay ra khỏi tay Tuân, nàng mở ví lấy tấm danh thiếp, xóa bỏ địa chỉ nhà rồi đưa cho chàng,

 

“Trong mấy tuần lễ tới em không có địa chỉ nhất định. Nếu anh muốn, anh có thể liên lạc với em qua sở chính.”

 

Tuân cũng viết cho nàng địa chỉ của ḿnh. Tiếng loa phóng thanh gọi hành khách lần thứ hai. Thomas hối hả chạy lại t́m mẹ, nàng giục con chào Tuân.

 

“Hy vọng sẽ gặp lại ông,” Thomas chững chạc nói, “một đôi lần mẹ nhắc, nói ông là một người bạn tốt.”

 

“Tôi cũng hy vọng sẽ gặp lại em,” bắt tay Thomas, Tuân nói tiếp, “tôi cũng muốn nói với em, mẹ em là một người mẹ tốt và một người bạn tốt.”

 

Penny ch́a má để Tuân hôn, lấy kính râm ra đeo rồi dắt tay con thoăn thoắt bước đi. Trước khi bước vào pḥng đợi lên máy bay nàng quay lại nh́n. Tuân hăy c̣n đứng trông theo tần ngần, tay cầm tấm thiếp, Penny dơ tay vẫy chào một lần nữa.

 

Aylmer 24-12-1997

 

GHI C:

 

[1] Chú thích này giải thích cả một vài đối thoại liên hệ về sau. Các trường đại học Hoa Kỳ có rất nhiều hội với tên bằng mẫu tự Hy Lạp, có mục đích phát triển t́nh thân ái và tương trợ giữa các sinh viên. Sigma Pi Sigma là một hội danh dự về Vật lư. Danh dự hay không, hội nào cũng phát một pin cho các hội viên.

 

“Pin” là một thứ trang sức bằng vàng có thể cài ở áo trước ngực hay luồn vào dây truyền đeo ở cổ. Các cậu sinh viên, thường là năm thứ nhất, date các cô, khi thật gắn bó với cô nào th́ hay pin cô đó, nghĩa là cho cô đó pin của ḿnh – tương tự như trẻ con nhà quê ta cắm que vào băi phân trâu xí phần. “Pin” không là chính thức đính hôn nhưng cũng rất quan trọng. Người viết chưa thấy các cô pin các cậu.

 

 

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Đc Tường

Tiến sĩ Vật Lư Nguyên Tử
Đại học
GEORGIA Institute of Technology, HOA KỲ

Nguyên Giáo Sư Toán
Trường Đại Học OTTAWA, CANADA

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com