www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THÚ ĐỌC SÁCH:
 
ĐỌC THƠ CHỮ Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

 

PHẦN 9:

 

 

 

北  行  雜  錄

Bắc  Hành Tạp Lục

 

 

Gom Ư

 

Tập sách này tŕnh bày trên đây bản dịch sang vần lục bát, 248 bài thơ Việt Âm của Nguyễn Du, và đồng thời trả lời câu hỏi tại sao thơ Nguyễn Du đượm một nét sầu cảm.

 

Bản dịch mới nối dài công tŕnh của những người đi trước trong việc dịch thơ chữ của Nguyển Du. Dịch sang vần sáu tám người dịch chủ ư mang thơ Nguyễn Du tới người đọc, khác với việc dẫn người đọc tới thơ Nguyễn Du như các bản dịch  theo thể thơ Đường đă xuất bản trước đây.

 

Phân tích toàn bộ thơ chữ của Nguyễn Du, người đọc không t́m thấy một bài hay một câu cho thấy ư hoài Lê của Nguyễn Du trong thơ. Đồng thời người đọc thơ nhận thấy cả ba tập thơ của Nguyễn Du dường như một tập nhật kư sâu kín của tác giả. Viết nhật kư sâu kín là thói quen của những ngựi sầu cảm đối mặt với nỗi khổ làm ngụi. 

 

Ba tập thơ chữ của Nguyễn Du lần lượt cho thấy công tŕnh của Nguyễn Du đi t́m một chỗ đứng ở tuổi ba mươi, trên nẻo đường thoát ra khỏi cái cuộc sống khổ v́ nạn nước trong binh lửa, qua Thanh Hiên Thi Tập; đồng thời tiến tới mức không c̣n nghi ngờ  lựa chọn của ḿnh đối mặt với cuộc sống lúc ở mức trung ẩn, lúc ở mức đại ẩn, vào tuổi bốn mươi, trong Nam Trung Tạp Ngâm; và  sau cùng là nh́n rơ được mệnh trời ở tuổi năm mươi trong Bắc Hành Tạp Lục. 

 

Đọc ba tập thơ chữ của Nguyễn Du như đọc ba tập nhật kư sâu kín, người đọc thấy theo chiều dài trong ngoài hai chục năm, Nguyễn Du đă ghi lại những cái chật hẹp g̣ bó ông trong cuộc sống, kèm theo những nét thăng hoa, đưa  ông tới những giây phút an lạc hiếm hoi. 

 

Một cách tổng quát, người đọc nhận thấy ba cuốn thơ Việt Âm của Nguyễn Du như ghi lại những kinh nghiệm của tác giả trong việc tương nhượng và thỏa hiệp với chính ông, đứng trước nỗi khổ làm người. Đó là kinh nghiệm của một người đă đạt được an lạc trong đời sống, đối mặt với nỗi khổ làm ngụi. Đó cũng là kinh nghiệm của một người đă khéo liệu cho ḿnh một cái chết an lạc bằng cái khéo sống một cuộc sống an lạc.

 

Cái giá của cuộc sống an lạc cùng cái chết an lạc đó là cố công suốt một đời tu thân theo nề nếp lạc thiên an đạo của nhà Nho,  một người suốt đời sửa ḿnh buông danh bỏ lợi theo phép kiệm túc của Lăo và Thiền học, cụ thể là sống theo mẫu mực của một trung ẩn sĩ của Bạch Cư Dị. Dựng như đó là môt chọn lựa của Nguyễn Du thuận theo căn bản của Đạo Lăo Trang. Thật vậy, Phùng Hữu Lan viết: [1]:

 

Thiên tài ở đời đều làm những ǵ mà họ không thể không làm và dừng lại ở những chỗ mà họ không thể không dừng. Đó đều là vô vi.

 

Điều không thể không làm của Nguyễn Du là ra làm quan với triều Nguyễn, để chấm dứt cảnh sống nghèo khổ của gia đ́nh ông; chỗ mà Nguyễn Du không thể không ngừng là việc ông đứng lại ở mức tú tài, không tiếp tục lều trơng đi thi hương; và thái độ làm quan của ông: ông từ bỏ sự chen đua giữa các đồng liêu, cũng như đứng ngoài  cảnh trên đe dưói búa giữa thượng cấp và nho lại giúp việc ông, như ông đă ghi lại trong nhiều bài trong suốt ba tập thơ Việt Âm của ông. Chọn lựa nếp sống trung ẩn, Nguyễn Du dường như đă nghe  lời Trang Tử báo động trong chương Nhân Thế Gian [2] sách Nam Hoa Kinh:

 

福  輕  乎  羽 , 莫  知  之  載

phúc khinh hồ vũ, mạc tri chi tải

禍  重  乎  地 , 莫  知  之  避

họa trọng hồ địa, mạc tri chi tị

 

nghĩa là:

 

phúc nhẹ như lông, mà chẳng biết mang

họa nặng như đất, mà chẳng biết tránh.

 

và sống thuận theo lời chú thích hai câu trên trong sách Trang Tử Chú của Hướng Tú và Quách Tượng:

 

[...] đừng cố làm cái ǵ ta không thể làm được; [...] hăy làm cái ḿnh tự làm được. Hăy làm thoải mái những ǵ trong bản tính của ḿnh; chớ t́m một chút ǵ ở ngoài phận ḿnh. Đó là cực dễ của vô vi. Vô vi mà tính mệnh không toàn vẹn; điều đó chưa hề có. Tính mệnh toàn vẹn mà chẳng là phúc; cái lư lẽ đó chưa hề nghe nói. Cho nên phúc là nhắm cái mà ta gọi là toàn vẹn [...] Hành động theo bản tính mà không vượt quá phận ḿnh; đó là sự cực dễ của thiên hạ vậy. Cứ nâng cái ǵ ḿnh tự nâng được; cứ chở cái ǵ ḿnh tự chở được; đó là sức cực nhẹ của thiên hạ vậy. Nâng vật trong phạm vi bản tính, th́ dù vác vạn cân ta cũng không cảm thấy nó nặng. Gởi thêm ngoại vật vào, dù chỉ nặng chút xíu thôi nhưng ta cũng không thể chịu nổi. Làm trong phạm vi bản tính là phúc; cho nên phúc cực nhẹ. Làm ngoài phạm vi bản tính là họa; cho nên họa cực nặng.  

 

Trong thơ Nguyễn Du, mượn lời Trang Tử: không cắt ngắn chân hạc, không nối dài chân vịt, phải chăng là ông không muốn sông trái với tính trời của ḿnh, không t́m một chút ǵ ở ngoài phận ḿnh? Cái nặng vạn cân trên vai ông phải chăng là cái nghiệp văn thơ đeo  đuổi ông suốt đời, khiến có lúc ông tự hỏi là không biết trời có chuộng thơ văn hay không? Nhưng, phải chăng sống với văn thơ là thuận với bản tính của ông, khiến cái nặng vạn cân đó hóa nhẹ như lông hồng trên vai ông? Phải chăng v́ vậy mà ngày nay chúng ta có ba tập thơ Việt Âm, chúng ta có Truyện Kiều? Cái hạt bụi nặng như đá đè trên vai Nguyễn Du, phải chăng là cảnh sống tâu bẩm nơi sân rồng cho thuận ư vua cho vừa ḷng bạn đồng liêu, không hợp với bẩm tính của ông, khiến ông phải tự khoá miệng, đễ giữ vẹn mệnh ông,  đến nỗi bị vua quở trách?  Sau hết, làm hết sức ḿnh trong phạm vi bản tính để vác vạn cân không thấy nặng; tránh không đèo thêm ngoại vật, dầu chỉ là một hạt bụi, để khỏi mang họa phải chăng là ông đă tương nhượng thỏa hiệp được với chính ḿnh, để thoát khỏi nỗi khổ làm người, ở chính tại cơi bụi hồng hiện tại này? 

 

Ngoài ra, nh́n suốt ba tập thơ Việt Âm của Nguyễn Du  cho thấy ông không nghiêng về bất cứ một đạo nào trong Tam Giáo. Nguyễn Du là một nhà nho, nhưng khi ông chọn lối sống trung ẩn, ông đă vượt ra ngoài tư thế của kẻ sĩ sống chết với Đạo, theo mẫu mực [3]:

 

朝  聞  道  夕  死  可  矣

Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ

 

nghĩa là:

 

Sáng được nghe đạo,  tối chết cũng được.

 

Nhiều lần Nguyễn Du nhắc tới truyện trao đổi giữa anh em Mă Viện, rơ là ông đă đứng về phiá Mă Thiếu Du, ưa sống cảnh ngựa gầy xe nhỏ hơn là chết da ngựa bọc thây như Mă Viện. Tương tự, đối chiếu những bài ông viết về Khuất Nguyên với những bài ông viết về Triệu Đà cho thấy Nguyễn Du đă thỏa hiệp với chính ông: không cô trung đến mức tự vẫn như Khuất Nguyên mà tiến lui tùy mệnh trời như Triệu Đà. Ông không quyết tâm tu tiên theo đạo Lăo Trang đến thành chí nhân hay thánh nhân, ở chốn hang mây ngọn sóng mong luyện được thuốc trường sinh bất tử, mà chỉ muốn sống thuận theo thiên nhiên, vui cùng bầy hưou nai, thanh thản nơi xóm núi mai vàng. Ông cũng không xuống tóc, không ngồi thiền sớm chiều chuông mơ tụng niệm, mà chỉ muốn giữ sao cho tâm đưọc tĩnh lặng như ḷng giếng soi trăng, dẫu có người khuấy động cũng lại sớm trở lại tĩnh lặng.

 

Ông đứng vững vàng tại trọng tâm của Tam Giáo. Phải chăng như vậy, ông đă tưong nhượng và thoả hiệp được với chính ông khiến ông đạt được cái phúc mang nặng vạn cân mà thấy nhẹ như lông hồng bởi sống thuận với tính trời bẩm sinh và tránh đưọc cái họa ôm đồm  vật ngoài, dù chỉ là một một hạt bụi, để đạt đưọc những giây phút thân tâm an lạc giữa cuộc sống đầy khồ năo này?

 

Phải chăng đó là những kinh nghiệm sống Nguyễn Dư tự chọn cho ông, nhưng cũng là mẫu mực cho người đời sau muốn có một đời sống thân tâm an lạc, muốn thoát khỏi nỗi khổ làm người.

 

Trên một hướng khác, con người sầu cảm của Nguyễn Du trước nỗi khổ làm người, đúng như lời các nhà phê b́nh văn học tây phương, quả đă giúp Nguyễn Du tạo nên sự nghiệp văn chương hàng đầu. Đề tài của cả ba tập thơ chữ này là nỗi khổ làm ngựi,  chủ đề cốt cán của ba tác phẩm chính trong nền văn học chữ nôm của người Việt Nam. Phải chăng điều đó chứng tỏ là tư duy của Nguyễn Du dường như là một, khi ông làm thơ nôm cũng như khi ông làm thơ chữ. Coi tính duy nhất của tư duy Nguyễn Du như mặt trăng, người đọc thấy cuốn Đoạn Trường Tân Thanh chẳng khác ǵ nửa sáng của con trăng và ba tập thơ chữ: Thanh Hiên Thi Tâp, Nam Trung Tạp Ngâm và Bắc Hành Tạp Lục là nửa bên kia.

 


 

[1] Phùng Hữu Lan, sách đă dẫn, tập II, tr. 253

[2] Phùng hữu Lan, sách đă dẫn, tập II, tr. 253-255.

[3] Khổng Tử, Luận Ngữ, Lư Nhân, chương VIII, sách đă dẫn tr. 108

 

 

HẾT

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG

 


 

 

 

 

www.ninh-hoa.com