www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THƠ VIỆT ÂM
Của Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 18:

 

南 中 雜 吟

Nam Trung Tạp Ngâm

 

 

 

Nỗi Buồn của Nguyễn Du


(Tiếp theo Kỳ 17)

 

9


Sau bốn năm ở Quảng B́nh, Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ và được cử làm chánh sứ sang triều đ́nh nhà Thanh. Chuyến đi sứ kéo dài hai năm và trong thời gian đó ông hoàn thành tập Bắc Hành Tạp Lục và cuốn truyện thơ Đoạn Trường Tân Thanh.


Bắc Hành Tạp Lục bắt đầu bằng áng thơ dài năm mươi câu, kèm theo tiểu dẫn ghi lại cuộc tái ngộ giữa ông và một tay đàn nguyệt nổi danh trong đội nữ nhạc dưới triều vua Lê, mà ông đă có dịp gặp nàng ngoài hai mươi năm về trước, tại nhà một người anh ông. Không ai biết tên thật của nàng, nhưng nguời Thăng Long gọi nàng là cô Cầm.
Giới nghiên cứu có nhiều người coi áng thơ này tương tự như khúc Tỳ Bà Hành của nhà thơ Đường Bạch Cư Di. Khúc Tỳ Bà Hành rất nổi tiếng trong thi ca Việt Nam với bản dịch của Phan Huy Vịnh kể lại cuộc gặp gỡ giữa tác giả là Bạch Cư Di, lúc đó giữ chức Tư Mă đất Giang Châu, bị biếm từ kinh đô về vùng Tầm Dương và một tay đàn tỳ bà, gốc người Hà Mô gần kinh đô, nay đă luống tuổi lưu lạc tới bến Tầm Dương. Cảm thương số phận người chơi đàn tỳ bà và nghĩ thương thân ḿnh Bạch Cư Dị đă sáng tác áng thơ dài đó tặng nàng.


Bài Long Thành Cầm giả Ca cũng thuật lại cuộc tái ngộ giữa cô Cầm và Nguyễn Du trong bữa tiệc do tổng trấn Bắc Thành khoản đăi sứ bộ nhân dịp ghé qua Thăng Long. Khác với Tỳ Bà Hành, Long Thành Cầm Giả Ca không nói tới số phận của tác giả và cô Cầm, mà dường
như tŕnh bày cuộc chuyển biến của Đại Hóa trong hai chục năm vừa qua. Trong hai chuc năm đó, không chỉ riêng cô Cầm và Nguyễn Du từ tuổi thanh niên bước sang tuổi trung niên, gian khổ triền miên mà triều chính thay đổi ba bốn lần: vua Lê chúa Trịnh chẳng c̣n, giặc kiêu binh cũng đă yên, triều Tây Sơn bạo phát bạo tàn, thành siêu quách đổ ... Duy chỉ c̣n có tiếng đàn của cô Cầm vẫn như xưa; ḷng ngưỡng mộ tiếng đàn đó của Nguyễn Du vẫn như xưa. Trong mối thông cảm đó Nguyễn Du viết bài ca dài riêng tặng cô Cầm. Người đọc thơ dường như thấy Nguyễn Du cho hay là mọi sự đều vô thường trong đại hóa, riêng dường như nghệ thuật và t́nh người c̣n khi loài người c̣n.


Xuôi ḍng thơ đó, Nguyễn Du viết hai bài về Thăng Long, cho thấy sông Lô núi Tản không thay đổi; nhiều ngôi nhà cũ đă thành đường đi; cố cung cũng xây lại; bạn cũ đă thành ông nội ông ngoại; khiến ông thao thức nằm nghe tiếng sáo dưới bóng trăng, thương cho con nguời vẫn bon chen chạy theo danh lợi đua đ̣i phú qúy. Cũng trong dịp đó ông gặp lại người nàng hầu của em ông, nàng đă đi lấy chồng đă có ba con, nhưng c̣n mặc tấm áo năm xưa em ông tặng nàng, dầu bát nước đổ không sao vớt vát lại được, nhưng cuống sen dầu gẫy vẫn c̣n tơ vương.


Trên đường sang Trung Quốc, ông đi qua miếu thờ Mă Viện. Mă Viện là một vị tướng Trung Quốc, nổi tiếng tại Việt Nam về việc ông đem quân sang đất Giao Chỉ đánh bại quân Hai Bà Trưng. Trên đường hành quân, Mă Việt đă khai sông đắp đường, ḷng người biết ơn lập nhiều miếu thờ. Mỗi lần Nguyễn Du đi qua những miếu thờ đó, thường có thơ đề vịnh.


Ông không nhắc đến truyện Mă Viện đem quân sang xâm chiếm nước nhà, mà chỉ nói tới truyện Mă Viện tuổi đă cao, trước sân rồng vua Hán c̣n mặc áo giáp thắng yên cương nhẩy lên lưng ngựa tỏ ra ḿnh c̣n cường tráng, không để ư tới ḷi can ngăn của anh em, kết cuộc cột đồng Mă Viện trồng nay không ai t́m thấy ở đâu, và Mă Viện chết không được chôn cất tại quê nhà. Tên tuổi không đưọc ghi trong Vân Đài thờ công thần nhà Hán. Người đọc hiểu là Nguyễn Du coi thường ư chí đeo đuổi công danh của Mă Viện.


Đây là lần thứ hai Nguyễn Du dùng cuộc tranh luận giữa Mă Viện và người em họ là Mă Thế Du làm thi liệu. Lần thứ nhất là lần ông viết câu kết bài Mạn Hứng Kỳ Một, trong Thanh Hiên Thi Tập:


澤 車 段 馬 愧 東 鄰
Trạch xa đoạn mă qúi đông lân


dịch là


Ngựa gầy xe nhỏ thẹn người xóm đông

 

Mă Viện chủ trương làm tướng tài dẫu chết lấy da ngựa bọc thây cũng không màng. Theo sách Hậu Hán Thư, Mă Thiếu Du, em họ Mă Viện không đồng ư nói: “Kẻ sĩ sinh ra ở đời chỉ cần đủ cơm ăn áo mặc, ngồi xe nhỏ cỡi ngựa gầy, làm viên lại ở quận, giữ mồ mả ông cha ở làng, được khen là người tốt là đủ”. Nhắc lại lời Mă Thiếu Du Nguyễn Du tụ cười ḿnh trong cảnh khốn cùng vẫn c̣n ước mơ truyện công danh.


Lần thứ ba Nguyễn Du nhắc đến cuộc đối thoại giữa Mă Viện và Mă Thiếu Du là lần thuyền sứ bộ đi ngang miếu thờ Phục Ba Tướng Quân ở Đại Than. Ông dùng h́nh ảnh Mă Viện mở đường Ngũ Lĩnh, xuống Giao Chỉ để lại công danh trong sử sách, và đối lại ông dùng lời Mă Thiếu Du chê Mă Viện tuổi đă về già c̣n khoe sức mạnh lảm tṛ cười cho vua Hán, và đoan quyết rằng ở đời ngoài truyện áo cơm mọi truyện khác thẩy là thừa. Ông nhắc lại lời Mă Viện than ở đầm Dâm Đàm, theo Hậu Hán Thư, là nơi quân Mă Viện vây quân của Trưng Trắc tại thành Tây Vu, không phân thắng bại, lại gặp khí trời oi bức, khí độc từ hồ bốc lên khiến diều hâu đang bay cũng rớt xuống hồ, và Phục Ba tướng quân nhớ lại lời Mă Thiếu Du mà lấy làm hối tiếc dă không nghe theo lời can gián của Mă Thiếu Du. Người đọc thấy rơ ư Nguyễn Du coi nhẹ những kẻ liều thân đeo đuổi công danh.


Lần thứ tư, Nguyễn Du nhắc đến Phục Ba tướng quân là lần thuyền sứ xuống ghềng Đại Than, ông mở đầu bài Hạ Than Hỷ Phú bằng câu:


心 香 拜 禱 將 軍 祠
Tâm hương bái đảo tướng quân từ


Người đọc thấy rơ là Nguyễn Du thành tâm dâng hương tạ ơn Phục Ba tướng quân đă phù hộ cho thuyền sứ xuống ghềnh b́nh yên.


Đối chiếu bài Hạ Than Hỷ Phú trên đây với bài Lam Giang, người đọc thấy trong cả hai bài, tác giả cùng đứng trước sức mạnh của thiên nhiên, nhưng tâm cảnh của Nguyễn Du trong mỗi cảnh một khác.


Đứng trên bờ sông Lam, nh́n cảnh nước lũ mùa thu ông viết:


我 望 藍 江 頭
Ngă vọng Lam Giang đầu
寸 心 常 惴 惴
Thốn tâm thường chúy chúy


nghĩa là:


Ta nh́n ḍng sông Lam
Tấc ḷng lo ngơm ngớp
Nhưng rồi ông kết bắng hai câu:
擬 驅 千 仞 山
Nghĩ khu Thiên Nhân sơn
填 平 五 百 里
Điền b́nh ngũ bách lư.


nghĩa là:

 

Muốn bạt núi Thiên Nhân
Lấp năm trăm dặm sông Lam.


Bài thơ cho người đọc thấy ư chí muốn bạt núi lấp sông, chiến thắng thiên nhiên của Nguyễn Du, ngày ông ở tuổi ba mươi.
Rồi hai chục năm sau, tâm cảnh Nguyễn Du đổi khác: khi xuống hết ghềnh Đại Than, ông thành tâm tạ ơn Phục Ba tướng quân đă phù hộ cho thuyền sứ thoát hiểm. Người đọc dường như thấy hoặc là năm tháng chồng chất trên vai, hoặc là phen này Nguyễn Du không an ninh đứng trên bờ mà ở trên thuyền đang xuống ghềnh, đứng trong cảnh nguy hiểm, đă khiến Nguyễn Du không c̣n ư muốn chiến thắng thiên nhiên mà quay về thần quyền kiếm điểm tựa.
Tiếp tục cuộc giang hành, thuyền sứ tới khúc sông Ninh Minh, lại một lần nữa phải đương đầu với truyện nguy hiểm lên thác xuống ghềnh. Trong bài Ninh Minh Giang Chu Hành, Nguyễn Du viết câu 25:


危 亡 傾 覆 皆 天 意
Nguy vong khuynh phúc giai thiên ư


nghĩa là:


Nguy vong nghiêng đổ thẩy ư trời


Người đọc thơ thấy rơ là lần gặp nguy hiểm này, Nguyễn Du, không tự tin ở ḿnh, như ngày đứng trên bờ sông Lam, không t́m về thần quyền như khi xuống ghềnh Đại Than mà hướng về số mệnh do ông Trời định sẵn để t́m nguồn an ủi, đúng như lời Arthur Schopenhauer 54:


Le consolateur, c’est le fatalisme.


Nguyễn Du ghi lại những gian nan lên thác xuống ghềnh trong những bài thơ dài trích dẫn trên đây phải chăng là v́ do số mệnh nên chưa thoát ra khỏi cái lồng danh lợi.

 

10

 

Ở thời Nguyễn Du, ngoài đường khoa hoạn, kẻ sĩ không c̣n cách nào khác để tiến thân, để thoát ra khỏi cảnh nghèo khổ. Nên dường như rất hiếm người không bị lùa vào cái lồng khoa hoạn. Trong bài Tống Nguyễn Sĩ Hữu Nam Quy, ông viết ngày chưa ra làm quan với triều Nguyễn:

生 平 文 彩 殘 籠 鳳
Sinh b́nh văn thái tàn lung phượng
浮 世 功 名 走 壑 蛇
Phù thế công danh tẩu hắc xà


nghĩa là:

Thơ văn một kiếp phượng lồng nát
Phù thế công danh rắn ẩn hang


Sau Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ cũng có nói tới cái lồng khoa hoạn này trong bài Ngất Ngưởng:


Ông Hy Văn tài bộ đă vào lồng
Khi thủ khoa khi tham tán khi tổng đốc Đông


Muốn ra thoát cái lồng đó kẻ sĩ không có cách nào khác là buông bỏ danh lợi. Có người đă nhận xét rằng, khi không c̣n bị cảnh đói rách đe dọa, buông bỏ lợi đă khó nhưng dường không khó khăn bằng buông bỏ danh.
Có buông bỏ được cả danh cả lợi mới có thể trút bỏ được cái khổ làm người, mới mong t́m đưọc niềm an lạc, ataraxie, cho tâm thân trong cuộc sống.


Trong ba tập thơ Việt Âm Nguyễn Du có nhiều bài ông viết về các danh nhân liệt sĩ Trung Quốc với chủ ư là chạy theo danh lợi, là lao đầu vào ṿng chết thảm. Thế nên, người đọc không khỏi nghĩ là Nguyễn Du tự nhắn nhủ ḿnh buông bỏ danh lợi để t́m niềm an lạc cho tâm thân chính ông.
 

Trong ḍng thơ đó, Nguyễn Du có sáu bài nhắc tới Khuất Nguyên. Hai bài chính là hai bài dưới cùng một đầu đề: Tương Đàm Điếu Tam Lư Đải Phu, mà ông sáng tác khi qua huyện Tương Đàm, tỉnh Hà Nam. Tam Lư Đại Phu là chức tước của Khuất Nguyên. Theo sách Sử Kư của Tư Mă Thiên 55 Khuất Nguyên làm chức tả đô đời vua Sở Hoài Vương, học rộng, nhớ lâu, thấy rơ lẽ trị loạn, thạo việc giấy tờ. Nhà vua rất tin dùng, nhưng bị đồng liêu là Đại Phu Thượng Quan ghen ghét. Hoài Vương sai Khuất Nguyên thảo pháp lệnh. Thượng Quan gièm với vua: “Bệ hạ sai Khuất Nguyên làm pháp lệnh, mỗi khi ban lệnh, Khuất Nguyên thường khoe công, nói: ‘ngoài ta ra, chẳng ai làm nổi’” Nhà vua giận, bỏ rơi Khuất Nguyên. Khuất Nguyên lo buồn viết thành áng thơ Ly Tao. Tư Mă Thiên ca tụng ánh thơ này, viết: “Chí ông trong sạch nên nói tới các hoa thơm. Nết ông cao cho nên dù chết cũng không được dung nạp. Ông thoát khỏi cái thế giới bùn lầy như con ve bỏ lốt, để cất ḿnh ra khỏi cơi trần dơ bẩn. Suy cái chí ấy th́ ông có thề sánh với mặt trăng mặt trời vậy.” Sau khi Khuất Nguyên bị truất, nước Sở chinh chiến với nhiều nước chư hầu, rốt cuộc Hoài Vương trúng độc kế của nước Tần, chết ở nước Tần, con là Khoảnh Tương Vương lên nối ngôi. Khuát Nguyên đă được trở lại kinh đô nước Sở, không có chức vụ quan trọng trong triều, nhưng tiếp tục dâng biểu can vua mới. Một lần nữa Thượng Quan gièm Khuất Nguyên với Khoảnh Tương Vương, Khoảnh Tương Vương đem đầy Khuất Nguyên đi xa.


Một ngày kia Khuất Nguyên gặp một ông già đánh cá hỏi ông:
- Ông là quan Tam Lư đại phu phải không? V́ sao đến nông nỗi này.
Khuất Nguyên nói:
- Tất cả đời đều nhơ đục, chỉ một ḿnh ta trong, tất cả mọi người đều say, riêng ḿnh ta tỉnh, nên bị đuổi.
Ông già đánh cá nói:
- Tất cả đều nhơ dục sao ông không xuôi theo ḍng làm cho sóng lên cao? Tất cả đều say sao ông không nhai bă rượu và húp rượu.
Khuất Nguyên nói:
- Ta thà gieo ḿnh xuống sông Tương, chôn ḿnh trong bụng cá, lẽ nào để cái bản chất trắng ngần của ta chịu bụi bậm của đời.
Bèn làm bài phú Hoài Sa, đoạn ôm đá gieo ḿnh xuống sông Mịch La mà chết.


Trở lại bài Tương Đàm Điếu Tam Lư Đại Phu, kỳ I, Nguyễn Du thương tiếc cho Khuất Nguyên chết uổng từ hai ngàn năm trước, chí khí của ông chẳng c̣n, hương hoa lan vẫn c̣n. Ba năm lưu đầy giúp Khuất Nguyên mở đường cho ḍng Sở Từ. Xương tàn nay tiêu tan, cḥm đỗ nhược bên sông vẫn thơm hơn ngàn hoa khác. Đau ḷng v́ vết cũ chằng c̣n, chỉ thấy lá rụng qua sông Nguyên Tương.


Sang bài thứ hai, giữa ḍng sông, Nguyễn Du muốn t́m oan hồn Khuất Nguyên chỉ thấy khói sóng mênh mông. Ông đặt câu hỏi, nếu hiến lệnh được dùng để b́nh thiên hạ, th́ đâu có Ly Tao nối ḍng thơ Quốc Phong. Từ xưa tới nay không ai thương kẻ tự coi riêng ḿnh là tỉnh mọi người đều say, th́ khắp thiên hạ có chốn nào để kẻ đó giăi tỏ mối cô trung. Thói tục đă đổi thay, người đời nay chuộng những loại hoa lan khác hẳn hoa lan của Khuất Nguyên.


Người đọc dường như thấy Nguyễn Du khóc thương Khuất Nguyên, chẳng khác ǵ ông khóc con chó trong bài Điệu Khuyển:

凡 生 負 奇 氣
Phàm sinh phụ kỳ khí
天 地 非 所 容
Thiên địa phi sở dung

nghĩa là:

Phàm sinh chí khác đời
Trời đất không chỗ dung


Khuất Nguyên muốn ḿnh khác người: đời đục cả riêng ḿnh ta trong, đời say cả riêng ḿnh ta tỉnh, nên có đi khắp mọi nước chư hầu cũng không có chỗ giăi bày ḷng cô trung của ông.


Ngoài ra Nguyễn Du khóc con chó:


貪 進 不 知 止
Tham tiến bất tri chỉ

nghĩa là:

Ham tiến chẳng biết lùi
Thế nên chó phải chết thảm.


Sách Luận Ngữ 56 có câu:


子 曰: 忠 告 而 善 道 之;
Tử viết: Trung cáo nhi thiện đạo chi
不 可 則 止, 毌 自 辱 焉
bất khả tắc chỉ vô tự nhục yên .

nghĩa là:


Khổng Tử nói: Bạn có điều lầm lỗi, phải hết ḷng khuyên bảo. Bạn không nghe th́ thôi, nói nhiều chỉ mang nhục.
Đối với bạn đă như vậy, thế mà Khuất Nguyên can vua không nghe, không biết ngừng, tránh sao khỏi chết thảm.
Nguyễn Du c̣n hai bài thơ dài nhắc tới Khuất Nguyên. Bài thứ nhất là bài Phản Chiêu Hồn.
Nguyên v́ bài Chiêu Hồn là một bài từ của Tống Ngọc, làm để viếng vong hồn Khuất Nguyên.
Trong bài tựa, Tống Ngọc, một đại phu trẻ trong triều vua Sở, cho hay v́ thương tiếc Khuất Nguyên viết bài này để gọi hồn Khuất Nguyên. Nguyễn Du viết bài Phản Chiêu Hồn, nói ngược lại bài của Tống Ngọc, khuyên hồn Khuất Nguyên không nên trở về trần gian đầy kẻ gian ác này. Trong sáu câu cuối ông viết như sau:


早 斂 精 神 返 太 極
Tảo liễm tinh thần phản thái cực
慎 勿 再 返 命 人 嗤
Thận vật tái phản linh nhân xi
後 世 人 人 皆 上 官
Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan
大 地 處 處 皆 汨 羅
Đại địa xứ xứ giai Mịch La
魚 龍 不 食 豺 虎 食
Ngư long bất thực sài hổ thực
魂 兮 魂 兮 奈 魂 何
Hồn hề hồn hề nại hồn hà.


nghĩa là:


Tinh thần khá sớm về thái cực
Đừng về đây nữa người mỉa mai
Người nay thẩy là Thượng Quan
Đất này đâu cũng sông Mịch La
Rồng cá không rỉa hùm sói nuốt
Hồn ơi hồn ớ biết làm sao.


Người đọc dường thấy như Nguyễn Du khuyên hồn Khuất Nguyên đừng về đất này v́ đâu đâu cũng đầy kẻ nham hiểm, đồng thời dường như ông tự nói với ông phải luôn luôn thủ thế, chốn triều chính đầy những con công mang mật độc, như ông viết trong bài Khổng Tước Vũ.


Trong bài Bác Giả, Nguyễn Du bác bỏ ư kiến của Giả Nghị, viết trong bài phú viếng Khuất Nguyên, như muốn hỏi Khuất Nguyên sao không đi khắp chín châu mà t́m vua, hà tất cứ phải bám lấy cố đô nước Sở. Người đọc dường như thấy Nguyễn Du thương hại cho Khuất Nguyên chết thảm v́ lẽ trai trung một chúa gái trinh một chồng, và ông cũng thương hại cho Giả Nghị đi t́m đươc vua mới mà thờ nhưng rồi cũng chết thảm chẳng khác ǵ Khuất Nguyên. Phải chăng cả hai Khuất Nguyên và Giả Nghị cùng chết thảm v́ danh vọng?


Bài thứ năm Nguyễn Du nhắc tới Khuất Nguyên là bài Ngũ Nguyệt Quan Cạnh Độ, chủ ư nói về truyện người Trung Quốc tổ chức đua thuyền ngày mùng năm tháng năm hàng năm để làm giỗ Khuất Nguyên, mà thật ra chỉ làm rộn vong hồn Khuất Nguyên. Bài thứ sáu Nguyễn Du nhắc tới Khuất Nguyên là bài Tương Âm Dạ, làm trong đêm ông ghé Tương Âm, gần nơi xưa kia Khuất Nguyên đi đầy, ông tỏ ư kính trọng không cả muốn ngâm thơ, sợ làm rộn vong hồn Khuất Nguyên.


Theo Đào Duy Anh 57 chính do mối cô trung của Nguyễn Du với nhà Lê khiến ông viết sáu bài trên đây về Khuất Nguyên, người cô trung nước Sở ngoài hai ngàn năm về trước. Ư kiến này xin để ngưới đọc xét đoán.


11


Để tôn vinh danh nhân Trung Quốc, Nguyễn Du đă chọn một người ít được ai nói tới.
Đó là Triệu Vũ Đế, tức Triệu Đà.


Theo Sử Kư của Tư Mă Thiên 58 vua Nam Việt họ Triệu, tên Đà, người huyện Chân Định, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đă chiếm cả thiên hạ, đến đời Nhị Thế quận úy Nam Hải là Nhâm Ngao ốm sắp chết mời Triệu Đà đến nói:
- Nhà Tần làm điều vô đạo, thiên hạ khổ cực. Bọn Hạng Vũ, Lưu Qúy, Ngô Quang dấy binh tập quân tranh giành thiên hạ. Nam Hải ở nơi xa lánh, tôi sợ quân giặc xâm lấn đến đây, nên định dấy binh chặn đường để pḥng bị, đợi chư hầu có sự thay đổi. Nay gặp lúc ốm nặng nên mời ông đến đề nói kế pḥng giặc.


Ngao chết, Đà truyền hịch bảo các cữa quan Hoành Phố, Dương Sơn, Hoàng Khê rằng:
- Quân giặc sắp đến; phải chặn đường, tụ tập quân sĩ để tự bảo vệ.
Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập kế đánh chiếm Quế Lâm, Tượng Quận tự lập làm Nam Việt Vũ Vương. Sau khi Hán Cao Đế b́nh được thiên hạ, không trị tội Đà mà c̣n sai Lục Giả sang phong Đà làm Nam Việt Vương. Đà nhân đó mở mang bờ cơi, đi xe mui lụa mầu vàng cắm cờ ta đạo, chẳng kém ǵ “đế” Trung Quốc.


Đến đời Hiếu Văn Đế, vua Hán lại sai Lục Giả sang Nam Việt trách Đà về tội tự xưng“đế”, mà không hề phái sứ giả sang Trung Quốc báo tin. Lục Giả đến nơi, Nam Việt Vương Triệu Đà sợ hăi, làm biểu tạ tội rằng: “Thần tên là Đà, là một kẻ già nua ở cơi man di. Ngày trước Cao Hậu phong cho làm Nam Việt Vương. [...] Lăo thần trộm dùng bậy danh hiệu “đế” chỉ để tự vui, chứ đâu dám nói tới tai bệ hạ.” Đà dập đầu xuống tạ tội, xin măi măi làm phiên thần dâng lễ cống. Rồi ra lệnh cho trong nước:
- Ta nghe nói ‘hai anh hùng không cùng sống, hai người hiền không cùng ở một đời’. Đức hoàng đế là bậc thiên tử hiền tài. Từ nay về sau bỏ xe mui lụa vàng và cờ tả đạo.
Lục Giả về báo tin, Hiếu Văn Đế bằng ḷng lắm.


Từ lúc úy Đà được phong vương đến sau là năm đời, cộng chín mươi ba năm.
Trong bốn câu đầu bài Triệu Vũ Đế Cố Cảnh, Nguyễn Du nhắc lại việc Sở và Tần tiêu diệt lẫn nhau, ở giữa Triệu Đà được phong vương rồi tự xưng hoàng đế, nhưng nghe lời Lục Giả mà lùi xuống hàng vương. Trong đại hóa đài Lĩnh Biểu không c̣n, mộ cổ ở Phiên Ngung cũng mất từ lâu, nhưng triều đại kế tiếp nhau không một ai bằng ông lăo Triệu Đà xưng là man di mà tinh hơn đời.


So sánh với h́nh ảnh Khuất Nguyên, Triệu Đà là h́nh ảnh đối nghịch. Khuất Nguyên chỉ biết tiến mà không biết lùi mà chết thảm. Triệu Đà tiến không được th́ lùi, giữ tṛn mạng cho ḿnh truyền ngôi cho con cháu được tới năm đời.
Đối chiếu bài Triệu Vũ Đế cố cảnh với đoạn Sử Kư của Tư Mă Thiên về mối tương quan giữa Nam Việt Vương Triệu Đà và sứ thần nhà Hán gợi cho người đọc đoạn đối thoại giữa Tề Tuyên Vương và Mạnh Tử : 59
 

Tuyên Vương nước Tề hỏi: “Giao thiệp với nước láng giềng có đạo ǵ không?” Thầy Mạnh thưa: “Có, chỉ người nhân là biết cái đạo đem nước lớn vỗ về nước nhỏ, thế nên vua Thang vỗ về nước Cát, vua Văn vỗ về rợ Côn Di. Chỉ người trí là biết cái đạo đem nước nhỏ thờ phụng nước lớn, cho nên vua Thái Vương thờ phụng rợ Huân Dục, vua Câu Tiễn thờ phụng nước Ngô. Đem nước lớn vỗ về nước nhỏ, đó là vui lẽ trời vậy; đem nước nhỏ thờ phụng nước lớn, đó là sợ lẽ trời vậy. Người vui lẽ trời ấy có cái khí tượng bao hàm được cả thiên hạ; người sợ lẽ trời ấy có cái quy mô giữ ǵn được nước ḿnh.


Đồng thời cũng gợi cho người đọc câu cuối chương LXI sách Đạo Đức Kinh của Lăo Tử 60:


故 大 國 以 下 小 國 則 取 小 國
Cố đại quốc dĩ hạ tiểu quốc tắc thủ tiểu quốc
小 國 以 下 大 國 則 取 大 國
Tiểu quốc dĩ hạ đại quốc tắc thủ đại quốc
故 或 下 以 取 或 下 而 取
Cố hoặc hạ dĩ thủ hoặc hạ nhi thủ.


R. L. Wing dịch là:


Thus if a large organization is lower than a small organisation, it can receive the small organisation.
And if a small organization stays lower than a large organization, it can receive the large organization.
Therefore one receives by becomming low; another receive by being low.


Lăo Tử Đạo Đức Kinh là cuốn sách để vua chúa học để trị nước và kẻ sĩ học để sửa ḿnh, nên song song với chương LXI trên đây, có chương VIII dậy cách sửa ḿnh như sau:61


上 善 若 水 [...]
Thượng thiện nhược thuỷ
處 眾 人 之 所 惡
xử chúng nhân chi sở ố
故 幾 於 道
cố cơ ư đạo

R. L. Wing dịch là:


The highest value is like water [...]
It stays in places that other disdain
And therefore is close to the Tao.


Giới b́nh Đạo Đức Kinh giảng rằng người thượng thiện giống như nước, ở chỗ thấp hèn mọi người đều không ưa, nên gần với đạo. Ở chỗ thấp hèn có nghĩa là nhún ḿnh, không đua tranh. H́nh ảnh của người thượng thiện này là h́nh ảnh của Nguyễn Du qua suốt ba tập thơ Việt Âm của ông. Đó là h́nh ảnh con người đă buông bỏ được chữ danh.
Điều kiện thuận tiện cho việc ngoại giao giữa hai nước láng giềng của Mạnh Tử, cũng như của Lăo Tử, thường không được thoả măn trong nhiều trường hợp thực tế. Người Việt Nam có câu:


Ngoảnh mặt về Tần e Sở giận
Quay đầu sang Sở sợ Tần ghen.


mô tả cái khó khăn của một nước nhỏ đứng giữa hai nước lớn.
Suy rộng điều kiện trên sang việc tương quan giữa vua và quần thần, nếu coi nước lớn là một minh quân, nếu coi nước nhỏ là một anh hùng, khi kẻ biết sợ trời gặp kẻ biết lẽ trời, thời đó là cảnh vua sáng gặp tôi hiền, tỷ như truyện Dự Nhượng trả thù cho Trí Bá chủ đề của bài Dự Nhượng Chủy Thủ Hành; Cũng như truyện Kinh Kha sang Tần liều thân v́ nghĩa bẩy nước, chết cho tri kỷ là Thái Tử Đan, như Nguyễn Du đă viết rơ trong bài Kinh Kha Cô Lư.
Nhưng trong cả hai truyện trên đây Dự Nhượng cũng như Kinh Kha đều chết anh dũng nhưng đều đáng thương.

Người Việt Nam lại có câu:


Một đời được mấy anh hùng
Một nước được mấy đức ông trị v́.


Thế nên hoạn lộ nhiều khi thành tử lộ. Hán Cao Tổ không phải không là một minh quân, Hàn tín không phải không anh hùng, nhưng cuối cùng Hàn Tín vẫn bị Hán Cao tổ hại, đó cũng là ư chính của bài Hàn Tín Giảng Binh Xứ.
Trong thơ Nguyễn Du, hoạn lộ không những chỉ nguy nan trong mối tương quan giũa vua và quần thần mà c̣n nguy nan gấp bội trong mối tương quan giữa các đống liêu với nhau.
Ngày mới bước chân vào hoạn lộ, Nguyễn Du đă sợ những Khổng Tước Vũ, tức nhưng con công muá đẹp mắt nhưng trong ḷng chứa chất độc,. Người đọc có thể cơi đó tiêu biểu cho những đồng liêu thâm hiểm mà ông đă gặp và phải giũ ǵn lời ăn tiếng nói để khỏi lộ cánh lông.
Trong bài Nhạn Tương Như Cố Lư, Nguyễn Du nhắc tới truyên xích mích giữa Lạn Tương Như và Liêm Pha. Lạn Tương Như hai lần lập công to với vua nước Triệu, được vua Triệu thăng chức Thượng Khanh cao hơn chức Đại Tướng của Liêm Pha. Liêm Pha liền có ư t́m gặp để làm nhục Lạn Tương Như. May cho nước Triệu là Nhạn Tương Như biết truyện tim cách tránh mặt Liêm Pha. Có người hỏi th́ Lạn Tương Như cho hay là v́ nuớc Triệu mà Lạn Tương Như đành phải làm như vậy, chứ không hề sợ Liêm Pha. Liêm Pha nghe câu nàu thân đến xin lỗi Lạn Tương Như.
Sự hiềm khích giữa đồng liêu là truyện thường, truyện nhún nhường v́ việc lớn như Lạn Tương Như là truyện hiếm, biết phục thiện như Liêm Pha lại càng hiếm hơn nữa.
Sự thường xẩy ra nơi triều chính là truyện Nhạc Vũ Mục tức Nhạc Phi và Tần Cối mà Nguyễn Du dùng làm thi liệu trong bài Yển Thành Nhạc Vũ Mục Ban Sư Xứ.
Nhạc Phi người đời Nam Tống, giỏi cả văn lẫn vơ, từng có công lón đánh giặc Kim, và được vua Tống Cao Tôn tự tay viết bốn chữ Tinh Trung Nhạc Phi trên cờ ban cho làm cờ lệnh. Bấy giờ trong triều Nam Tống Tần Cối làm tể tướng, lại chủ ḥa vói người Kim, muốn nhường cho nước Kim cả vùng đất Hoài Bắc. Tần cối giả lênh vua một ngày hạ 12 đạo kim bài triệu Nhạc Phi về Kinh đô.
Nhạc phi than: “Công khó mười năm bỏ đi một sớm”. Về tới kinh đô, Nhạc Phi bị Tần Cối hạ ngục rồi giết.


Trong triều đ́nh vua Gia Long, trước mắt Nguyễn Du, đă có nhiều vụ án chắc chắn làm ông phải suy nghĩ: tỷ như những vụ án Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường, theo Trần Trọng Kim 62, khiến hậu thế thở dài và thương tiếc cho những người ham mê hai chữ công danh.


Phải chăng v́ thế mà Nguyễn Du có hai câu kết bài thứ ba trong ba bài Ngẫu Thư Công Quán Bích:


平 生 已 絕 雲 霄 夢
B́nh sinh dĩ tuyệt vân tiêu mộng
怕 見 傍 人 問 羽 毛
Phạ kiến bàng nhân vấn vũ mao.

nghĩa là:


Công danh mộng hăo tiêu ṃn
E người gạn hỏi mất c̣n cánh lông.


mà ông viết vả treo trên vách nhà Công Quán ở Phú Xuân?


Ngoài những nguy hiểm trên hoạn lộ do mối tương quan giũa nhà vua và quần thần hay giữa các quan cùng triều, Nguyễn Du đặc biệt lưu ư tới sự thịnh suy của các triều đại. Ông đă viết trong câu thứ naqam bài Vị Hoàng Doanh ngày ông c̣n đang tản cư lưu lạc:


古 今 未 見 千 年 國
Cổ kim vị kiến thiên niên quốc


nghĩa là từ ngàn xưa tới nay chưa thấy triều đại nào bền vững được một ngàn năm, để mô tả tính vô thụng của các triều đại.
Ư thơ này trở lại vói Nguyễn Du mỗi lần ông nh́n thấy những dấu tích lịch sử một thủa huy hoàng nay thành hoang phế, trong suốt chuyến đi xứ sang Trung Quốc. Người đọc tự hỏi, lập lại một ư thơ nhu vậy, phải chăng là ông muốn luôn luôn tự nhắc ḿnh phải buông bỏ chữ danh, một sự buông bỏ khó khăn gấp bội việc buông bỏ chữ lợi, để đánh đổi lấy niềm an lạc cho thân và nhất là niềm an lạc cho tâm của ông?


12


Tạm ngưng việc t́m h́nh ảnh sầu cảm của Nguyễn Du trong ba tập thơ Việt Âm, người đọc tự hỏi đứng trước cái khổ làm người con người sầu cảm phản ứng ra sao?
Giới nghiên cứu cho hay là người sầu cảm có ba thái độ. Một là sống theo trào lưu của cuộc sống đi t́m những thú vui tức th́; hai là tự cho đời sống của ḿnh một thiên chức để rồi khi đối mặt với cái vô nghĩa của thực tế thời thất vọng đến độ đi tới tự vẫn; ba là tự t́m lấy cho ḿnh một sự tương nhượng để tiếp tục nếp sống sầu cảm, chán nản, bi quan. Con người thường đồng thời có cả ba thái độ trên. Thái độ thứ ba là thái độ có nhiều mầu sác nhân bản và đó cũng là thái độ của nhiều tác giả văn học nghệ thuật tây phương.
Georges Minois đặt câu hỏi là, nếu rút bỏ những tác phẩm khởi hứng từ nỗi khổ làm người thời nền văn học tây phương không biết sẽ ra sao? 63
Trở lại ba tập thơ Việt Âm của Nguyễn Du, người đọc, không ngạc nhiên thấy qua h́nh ảnh giới người nữ trong thơ dường như có đủ ca ba thái độ nói trên. Ngoại trừ h́nh ảnh người đàn bà ăn xin trong bài Sở Kiến Hành là h́nh ảnh con người trong cảnh đói rách chưa nghĩ tới cái khổ làm người, mỗi người nữ trong thơ Nguyễn Du có một thái độ riêng.
Dương Qúy Phi, trong bài Dương Phi Cố Lư, và Vương Thị vợ Tần Cối trong hai bài Vương Thị Tượng là những người giữ thái độ thứ nhất đối mặt vói cái khổ làm người. Cả hai cùng xả thân chạy theo danh lợi, leo lên tới tột đỉnh vinh quang, nhưng rồi kết cuộc chết thảm hay bị người sau đời đời nguyền rủa.


Tiếp theo là hai bà phi Nga Hoàng và Nữ Anh, vợ vua Thuấn, trong bài Thương Ngô Tức Sự, nghe tin vua Thuấn chết tại núi Thương Ngô, đi t́m không thấy, khóc lóc, rồi trầm ḿnh ở sông Tương. Người đọc thấy như hai bà phi cho là thiên chức làm vợ thiên tử đă chấm dứt, đời sống trở nên vô nghĩa mà từ trầm. Người thứ ba là Dương Thái Hậu, trong bài Dao Vọng Càn Hải Từ, hoàng hậu của vua Tống Độ Tông, lúc nhà Tống thất thế, Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu hộ tống Dương Thái Hậu và thái tử Đế Bính chạy ra Qùynh Sơn, trên đảo Hải Nam. Trương Thế Kiệt đưa được Dương Thái Hậu lên thuyền, c̣n Lục Tú Phú và Đế Bính bị quân Nguyên đuổi gấp nhẩy xuống biển chết. Nghe tin, Dương Thái Hậu nói: “Ta v́ chịu gian nan tới nay chỉ cốt bảo vệ Đế Bính để ḍng họ Triệu Tống có người nối dơi, nay đến nỗi này ta c̣n mong ǵ?” Sau đó thuyền gặp băo đắm, Dương Thái Hậu cũng mất tích. Đó là những người nữ đối mặt với cái khổ làm người theo thái độ thứ ba.


Cô Cầm, tay đàn nguyệt trứ danh tại thành Thăng Long, trong bài Long Thành Cầm Giả Ca, cũng như người nàng hầu của ông em Nguyễn Du, trong bài Ngộ Gia Đệ Cựu Ca Cơ, là những người sống với nỗi khổ làm người, trong sầu cảm, trong bi quan, với ngón đàn tuyệt diệu, với sợi tơ mành trong cuống sen đă gẫy, và mặc cho số mệnh đưa đẩy.
Riêng nàng Tiểu Thanh, giỏi thơ phú, đă chọn thơ văn để tạm sống với cái khổ làm người, nhưng số mệnh nghiệt ngă khiến nàng cũng phải quyên sinh.
Nguyễn Du chọn nàng Tiểu Thanh làm tri kỷ, cũng lấy thơ văn để tương nhượng sống với cái khổ làm người.
Trong thực tế, đối mặt với cái khổ làm người, con người thường lấy rượu, lấy khói thuốc để phá thành sầu; đó là thái độ sống của những Lư Bạch, những Lưu Linh v.v... Những mgười lao đầu theo một chủ đích tự cho là cao cả, đến khi mộng lớn không thành, tự chấm dứt cuộc sống, đó là những anh hùng liệt nữ, cũng như nhưng cặp son trẻ tự tử v́ t́nh, những kẻ bất đắc chí đó là nhưng người có thái độ sống thú hai. Những người t́m đưọc cách tương nhượng vói cái khổ làm người, như Nguyển Du, là những người đối mặt với cái khổ làm người bằng thái độ thứ hai. Đó là những nhà văn học nhân bản tên tuổi, trên khắp thế giới, đặc biệt là tại Âu Châu suốt thế kỷ thứ XIX 64.
Riêng ở Việt Nam, trước Nguyễn Du phải kể đến Nguyễn Trăi, trong bài Oan Thán, viết khi ông bị vua Lê Thái Tổ nghi ông liên quan tới vụ Trần Nguyên Hăn tạo phản:


虛 名 寔 禍 殊 堪 笑
Hư danh thực họa thù kham tiếu
眾 謗 孤 忠 絕 可 憐
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên
數 有 難 逃 知 是 命
Số hữu nan đào tri thị mệnh
文 如 未 喪 也 關 天
Văn như vị táng dă quan thiên.

dịch là:


Gượng cười thực họa hư danh
Cô trung người ghét thương ḿnh lẻ loi
Trốn đâu cho khỏi số trời
Ḷng trời chưa dứt há vùi tu văn.


Rồi sau Nguyễn Du c̣n có Nguyễn Công Trứ than buồn:


Ngồi buồn muốn trách ông xanh

Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười


Lại có Đào Tấn 65 than:


Nghiến răng cười cười cũng khó khăn
Ôm ḷng chịu chịu càng vui sướng


và Tản Đà tự hỏi:


Đời đáng chán hay không đáng chán?
 

Trở lại trường họp Nguyễn Du, ba tập thơ Việt Âm của ông không những cho người đọc nhận ra tác giả là một người suốt đời đối mặt với cái khổ làm người mà c̣n cho người đọc biết rơ là ông đă có hai đường lối khác biệt để tương nhượng với cái khổ làm người. Một là t́m về tôn giáo, hai là đi vào ngả sáng tác văn học.
Lần đầu tiên Nguyễn Du tỏ ư muốn t́m đường về dưới bóng Phật là năm ông c̣n ở tuổi ba mươi, đang ở trong cảnh cùng quẫn, cả hai đường thư và kiếm cùng dỏ dang, ông viết trong câu kết bài Tự Thán, kỳ II:


何 能 落 髮 歸 林 去
Hà năng lạc phát quy lâm khứ
臥 聽 松 風 蠁 半 雲
Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân


Ông muốn xuống tóc, nhưng không phải để đi ở chùa mà vào rừng nghe thông reo ở nửa từng mây xanh.
Thanh Hiên Thi Tập chép bài Đề Nhị Thanh Động, Nguyễn Du viết năm ông 39 tuổi, đă ra làm quan vói nhà Nguyễn và nhân dịp lên Ải Chi Lăng nghênh tiếp sứ đoàn Trung Quốc sang phong vương cho vua Gia Long. Đây là lần thứ hai Nguyễn Du nói tới Phật pháp, ông viết:


此 心 常 定 不 離 禪


nghĩa là:

Tâm này thường định chẳng dời Thiền


cho thấy là Nguyễn Du ngồi thiền với chủ đích đoạt đưọc thường định, nôm na lả sự tĩnh lặng trong tâm mà không có tham vọng nói tới cơi ngộ.
Ông nói rơ ư thơ này trong bài Đạo Ư. Ông so sánh sự tĩnh lặng trong tâm ông với h́nh ảnh mặt trăng trong ḷng giếng cổ: có bị nguời khầy động thoáng gợn rồi cũng lấy lại được niềm tĩnh lặng.
Bài Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài là một trong những bài dài nhất trong Bắc Hành Tạp Lục, mang đậm mầu Thiền. Nguyễn Du dường như có ư muốn trách Lương Vơ Đế cùng Lương Chiêu Minh thái tử v́ quá sùng đạo Phật mà để nước mất nhà tan, bày đặt việc phân kinh không những gây thêm khó khăn cho thế nhân theo học Phật Pháp mà chỉ để cho người đời sau thi nhau luận bàn, trong khi Đệ Nhất tổ chủ trương bất lập văn tự, và riêng ông tới Phân Kinh Thạch Đài này mới vỡ nghĩa là chân kinh là kinh không viết thành chữ.
Lập trường phản đối Lương Vơ Đế và Lương Chiêu Minh Thái Tử của Nguyễn Du trong bài thơ dài trên đây, dường nhu tương đồng với lập trường của Thiên Thai Tông, tựa đề là Thích Môn Chính Thống, theo Suzuky, viết vào khoảng đầu thế kỷ thứ III, như sau 66:
Khi Phật pháp biến đổi, nó trở thành Thiền Tông; khi Thiền Tông tăng trưởng sai lầm, nó trở thành ma thuyết, [...] Cái nguy hiểm v́ quá nương tựa kinh và luận cũng gần như cái nguy hiểm không hiểu biết thiết thục - một thái độ có trỏ ngại lớn cho việc theo dơi nghiêm chỉnh đ̣i sống của đạo Phật.


Đằng khác, với kết luận là kinh không chữ mới thất là kinh, nhắc người đọc nhớ tới một đoạn văn của Huệ Hải, mà Suzuki trích dẫn như sau 67:
Ông hăy nghe cho kỷ đây. Trong kinh có nói rơ rằng: Những ǵ ta nói là nghĩa chứ không phải chỉ có văn; c̣n nhưng ǵ chúng sinh nói chỉ là văn chứ không có nghĩa. Ai hỏi ư sẽ vượt lên nhưng văn tự hời hợt; ai ngộ Lư sẽ vượt qua những văn tự. [...] Bỡi vậy kẻ phát Bồ Đề th́ được ư mà quên lời, ngộ ư mà ảo giáo. Như người đưọc cá th́ quên nơm, được thỏ th́ quên đó.
Trong cả ba tập thơ Việt Âm của Nguyễn Du, có một số bài mang sắc Đạo. Trong những bài đó, Nguyễn Du thường dùng những h́nh ảnh trong sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử làm thi liệu.

Tỷ như câu thứ ba bài Tự Thán I ông viết:


性 成 鶴 脛 何 容 斷
Tính thành hạc hĩnh hà dung đọan


nghĩa là:

Trời sinh chân hạc dài há cắt ngắn


Hai chữ hạc hĩnh là hai chữ chủ chốt trong câu:


鶴 脛 雖 長 , 斷 之 則 悲
Hạc hĩnh tuy trường, đoan chi tắc bi

 

sách Trang Tử Nam Hoa Kinh, thiên Biền Mẫu 68, nghĩa là:

Chân hạc vốn dài, cắt ngắn làm nó buồn.


Đến bài Ngẫu Hứng I, Nguyên Du lại dùng h́nh ảnh chân hạc dài một lần nữa, kèm theo là h́nh ảnh giống ngựa bị người đóng móng đóng cương, mất một nửa tính trời, trong chương Mă Đề sách Trang Tử Nam Hoa Kinh 69, trong hai câu:


傖 殘 物 性 悲 鶴 脛
Thương tàn vật tính bi hạc hĩnh
刻 雒 天 真 失 馬 蹄
Khắc lạc thiên chân thất mă đề.


Đó là những h́nh ảnh Nguyễn Du tự mô tả: ông cho rằng việc ra làm quan, làm mất tính trời sinh của ông, như con hạc bị cắt ngắn chân, con ngựa bị đóng móng.
Sắc Đạo c̣n thấy rơ hơn trong bài Sơn Thôn trong Thanh Hiên Thi Tập và bài Hoàng Mai Sơn Thượng Thôn trong Bắc Hành Tạp Lục.
Những h́nh ảnh trong bài Sơn Thôn và bài Hoàng Mai Sơn Thượng Thôn đều là h́nh ảnh chủ yếu trong áng thơ Đào Hoa Nguyên của Đào Tiềm, một nhà thơ đời Tấn Trung Quốc.
Nguyên văn lời dẫn như sau:
Truyện Nguồn Đào 70
Dưới triều Tấn Thái Nguyên, có ngư phủ đất Vũ Lăng, men theo ḍng khe, quên đường xa gần. Bỗng gặp rừng đào, cách bờ vài trăm bước, không xen loại cây nào khác, cỏ thơm tươi đẹp, hoa rụng đỏ rực. Ngư phủ lấy làm lạ, muốn vào sâu thêm, đến cuối khu rùng. Hết rừng đến ngọn suối, bên chân núi. Núi có của hang, sáng mờ mờ, bèn gác thuyền, theo của hang mà vào. Đầu hang rất hẹp, chỉ vùa lơt một người. Vào sâu vài chục bước, ḷng hang mỏ rộng, sáng sủa, thấy đất bằng rộng răi, nhà của ngăn nắp, có ruộng tốt, ao trong, có bụi dâu rặng trúc, bờ be ngang dọc thông nhau, tiếng gà tiếng chó liên hồi. Có người qua lại trồng trọt làm lụng, đàn ông đàn bà áo quần đều như người bên ngoài, ông già tóc bạc con trẻ trái đào, hớn hở vui vẻ.


Gặp ngư phủ thẩy đều ngạc nhiên, hỏi từ đâu tới. Ngư phủ thuật lại mọi điều. Họ bèn mời về nhà, rót rượu mổ gà tiếp đăi. Họ cho hay tổ tiên xưa chạy loạn Tần Doanh, dắt vợ con và người làng tới chỗ xa xôi này lập ấp rồi không trở ra nữa; từ đó cách biệt hẳn với người bên ngoài. Họ lại hỏi bây giờ là đời nào; họ không biết có đời Hán, nói chi đến đời Ngụy đời Tấn.


Ngư phủ nhất nhất kể lại sự t́nh, người nghe đều đau xót. Người khác lại mời về nhà chơi, thết đăi ăn uống. Ở chơi vài ngày, ngư phủ từ biệt ra về. Có ngụi căn dặn; “Xin đừng kể cho ai nghe truyện tới đây.”
Ra khỏi hang, t́m lại thuyền, theo hướng cũ mà về, tới đâu đánh dấu chỗ đó. Đến quận lỵ, vào ra mắt quan thái thú, kể lại sự t́nh. Quan sai ngư phủ trở lại, t́m nhưng chỗ có đánh dấu, nhưng không sao t́m ra đường cũ nũa.
Lưu Tử Kỳ người đất Nam Dương, là bậc thưọng cao sĩ, biết truyện hăng hái đi t́m nơi đó, nhưng chưa t́m ra th́ bị bệnh mà chết. Từ đó không ai đi t́m đường đó nữa.
Tiếp theo là áng thơ dài 32 câu:


桃 花 源 詩
Đào Hoa Nguyên Thi
嬴 氏 亂 天 紀
Doanh thị loạn thiên kỷ
賢 者 避 其 世
Hiền giả tỵ kỳ thế
黃 綺 之 商 山
Hoàng Ỷ chi Thương Sơn
伊 人 亦 云 逝
Y nhân diệc vân thệ
往 跡 浸 復 湮 5 Văng tích tẩm phục yên
來 逕 遂 蕉 廢
Lai kính toại tiêu phế
相 命 肆 農 耕
Tương nhật tứ nông canh
日 入 從 所 憩
Nhật nhập ṭng sở khế
桑 竹 垂 餘 蔭
Tang trúc thùy dư âm
菽 稷 隨 時 藝 10 Thục tắc tùy th́ nghệ
春 蠶 收 長 絲
Xuân tàm thu trường ti
秋 熟 靡 王 稅
Thu thục mỹ vương thuế
荒 路 曖 交 通
Hoang lộ ái giao thông
雞 犬 互 鳴 吠
Kê khuyển hỗ minh phệ
俎 豆 猶 古 法 15 Trở đậu do cổ pháp
衣 常 無 新 製
Y thường vô tân chế
童 孺 縱 行 歌
Đồng nhụ sĩ hành ca
斑 白 歡 游 詣
Ban bạch hoan du nghệ
草 榮 識 節 和
Thảo vinh thức tiết ḥa
木 哀 知 風 厲 20 Mộc ai tri phong lệ
雖 無 紀 歷 志
Tuy vô kỷ lịch chí
四 時 自 成 歲
Tứ thời tự thành tuế
怡 然 有 餘 樂
Di nhiên hữu dư lạc
干 何 勞 智 慧
Can hà lao trí tuệ
奇 蹤 隱 五 百 25 Kỳ tung ẩn ngũ bách
一 朝 敞 神 界
Nhất triêu sưởng thần giới
淳 薄 既 異 源
Thuần bạc kư dị nguyên
旋 復 還 幽 蔽
Toàn phục hoàn u tế
借 問 游 方 士
Tá vấn du phương sĩ
焉 測 塵 囂 外 30 Yên trác trần hiêu ngoại
願 言 躡 輕 風
Nguyện ngôn nhiếp khinh phong
高 舉 尋 吾 契
Cao cử tầm ngô khế.


dịch là:


Thơ Đào Nguyên


Tần Doanh phá luật trời

Người hiền lánh truyện đời
Hoàng Ỷ về Thương Sơn
Dân lành ùa theo tới
5 Ngả qua là lấp ngả
Lối về bít kín lối
Sáng ngày đi làm đồng
Chiều tối về thảnh thơi
Bóng dâ trúc dầy đặc
10 Đậu kê rộ theo thời
Xuân sang tằm kéo tơ
Vào thu thuế không đ̣i
Tiếng gà chen tiếng chó
Đường hoang không bóng người

15Đồ dùng theo kiểu cũ
Áo quần giữ nguyên thói
Con trẻ vui hát ḥ
Người gia vui lui tới
Cỏ xanh biết trời tốt
20Lá rụng biết gió thổi
Ngày tháng lịch chẳng cần
Một năm bốn mùa trôi
Sống b́nh yên vui vẻ
Chẳng chữ nghĩa theo đ̣i
25Từ năm trăm năm qua
Tới ngày mở thần giới
Thuần bạc chẳng một nguồn
Bỗng cùng sống một cơi
Hỏi đường du phương sĩ
30Tới cơi không gió bụi
Nguyện theo gió bổng bay
T́m tri âm chung vui.


Sách Lăo Tử Đạo Đức Kinh, chương 80 có đoạn sau đây71:
Nước nhỏ dân thưa khiến dư đồ dùng, gấp mười gấp trăm [hơn người] mà không dùng, dân coi trọng cái chết mà không dời xa, thuyền xe có mà không di; có áo giáp đồ binh mà không bày. Khiến người ta thắt nút dây mà dùng, ăn ngon mặc đẹp, ở yên, vui với thói tục, nước láng giềng gần gũi nghe thấy tiếng gà tiếng chó của nhau, mà đến già đến chết không qua lại với nhau.


Người đọc thấy rơ là Đào Tiềm khởi hứng từ chương 80 sách Lăo Tủ Đạo Đức Kinh để viềt truyện Đào Nguyên Kư và áng thơ Đào Nguyên Thi. Nguyễn Du chắc chắn cũng khởi hứng từ sách Lăo Tử cũng như từ văn thơ Đào Tiềm mà viết hai bài Sơn Thôn và Hoàng Mai Sơn Thượng Thôn. Trong cả bốn bản văn thơ, dân trong hang Nguồn Đào, cũng như tại Xóm Núi hay Xóm Núi Hoàng Mai đều yên ổn làm ăn, sống xung túc, ăn no mặc đẹp, nghe thấy tiếng gà tiếng chó của nhau, không cần tới lịch hàng năm vua ban. Ngoài ra dân Nguồn Đào không cả phải nộp sưu thuế cho vua như dân trong nước nhỏ lư tưởng của Lăo Tử. Dân ở Sơn Thôn và Hoàng Mai Sơn Thôn, tuy vẫn phải đóng thuế nhưng đời sống dễ dàng có đóng thuế vẫn c̣n dư sống. Nước nhỏ là nước lư tưởng của Lăo Tử, cũng như Nguồn Đào là nơi sống lư tưởng của Đào Tiềm. Xóm Núi và Xóm Hoàng Mai dường như là một chốn có thật v́ Nguyễn Du đă tự hỏi là về già không về xóm Hoàng Mai dưỡng già th́ c̣n biết về đâu khác?


Người đọc có thêm một vài câu hỏi để chờ giới nghiên cứu giải quyết. Sơn Thôn và Hoàng Mai Sơn Thượng Thôn là một chốn hay là hai nơi, v́ một bài chép trong Thanh Hiên Thi Tập, một bài trong Bắc Hành Tạp Ngâm.
Vậy thời nếu cả hai cùng có thật th́ hỏi ở đâu? Vùng núi Hồng Lĩnh, hay vùng núi Nam Trung Quốc?


Sử gia Keith Weller Taylor, tác giả cuốn The Birth of Việt Nam cũng đặt câu hỏi tương tự liên quan tới hang Nguồn Đào căn cứ trên một đoạn trong Việt Điện U Linh 72. Sách Việt Điện U Linh chép đoạn đó như sau: 73
Phật Tử là em họ Lư Bôn. Lư Bôn chết th́ Phật Tử theo anh của Lư Bôn là Thiên Bảo dẫn ba vạn quân chạy lên vùng người Di, Lạo. Bá Tiên, [tướng Trung Quốc] treo giải thưởng để t́m bắt, nhưng không được. Thiên Bảo đến động Dă Năng ở đầu nguồn sông Thao, thấy cảnh ở đấy đẹp, đất đai sản vật ph́ nhiêu, mầu mỡ mà lại phẳng rộng, bèn xây thành mà ở. Người kéo dến tụ tập ngày một đông, trí năng ngày một rộng khắp, bèn trở thành nước Dă Năng.
Mọi người suy tôn Thiên Bảo làm Đào Lang Vương. Chẳng bao lâu Thiên Bảo chết không có con. Mọi người lại tôn Phật Tử lên thay. Vừa lúc đó nghe tin Bá Tiên về phương Bắc, Phật Tử dẫn quân xuống phía Đông. Người chung quanh khuyên Phật Tử xưng đế. Phật Tử nghe theo, nhân đó xưng hiệu là là Lư Nam Đế.
Tên động Dă Năng ở nguồn sông Thao, (K.W. Taylor đọc là sông Dao), gợi lại truyện truyện Đào Nguyên Kư của Đào Tiềm. Động Đào Nguyên trong thơ văn Đào Tiềm, theo Taylor, có thể là động Dă Năng, nơi ba vị vương mở nước của nhà Tiền Lư dưỡng quân.
Câu hỏi là có ǵ tương quan giữa động Dă Năng này với Xóm Núi và Xóm Hoàng Mai trong thơ Nguyễn Du? Xin người đọc chờ giới nghiên cứu giải đáp.

 

13


Người đọc dường như thoáng thấy khuynh hướng thơ văn của Nguyễn Du qua những bài thơ ông viết về những nhà thơ nhà văn mà người Trung Quốc thường gọi là những đại gia.


Đỗ Phủ, tự Thiếu Lăng dường như là nhà thơ mà Nguyễn Du tâm phục nhất. Ông viết hai bài Thiếu Dương Đỗ Thiếu Lăng Mộ. Trong bài thứ nhất có hai câu:


異 代 相 憐 空 灑 淚
Dị đại tương liên không sái lệ
一 窮 至 此 豈 工 詩
Nhất cùng chí thử khởi công thi

dịch xuôi là:

Chẳng cùng thời thương nhau rỏ lệ,
Cùng quẫn như nhau há v́ thơ

 

đễ giăi tỏ ḷng ông đối với Đỗ Phủ.
Sang bài thứ hai, Nguyễn Du trích câu:


儒 冠 多 誤 身
Nho quan đa ngộ thân


trích từ bài Phụng Tặng Vi Tả Thừa Trượng Thập Nhị Vận, của Đỗ Phủ để nói ông sót thương Đỗ Phủ v́ cả hai người cùng đội mũ nhà nho và cả hai cùng bị lụy thân. Cái lụy đây
là cảnh gia đ́nh Đỗ Phủ từng sống trong cảnh đói rách như gia đ́nh Nguyễn Du. Câu thứ tư bài Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng Mộ, Nguyễn Du viết:


男 女 呻 吟 不 可 聞
Nam nữ thân ngâm bất khả văn

nghĩa là:

Trai gái rên khóc chẳng đành ḷng nghe

lấy ư từ câu:

男 女 呻 吟 四 壁 靜
Nam nữ thân ngâm tứ bích tĩnh


trích từ bài Càn Nguyên Trung Ngụ Đồng Cốc Huyện Tác Ca Thất Thủ, ghi lại cảnh một chiều mùa đông, Đỗ Phủ phải vào rừng đào khoai rừng về ăn cho đỡ đói. Nhưng tuyết xuống quá nhiều, không đào được khoai phải về tay không, lúc về tới nhà bốn bề lặng ngắt, con trai con gái kêu rên.
Cảnh đau ḷng của Đỗ Phủ trên đây cũng là cảnh sót sa của Nguyễn Du khi ông viết câu:


十 口 啼 饑 橫 嶺 北
Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc
一 身 臥 病 帝 城 東
Nhất thân ngọa bệnh đế thành đông


trong bài Ngẫu Đề, ngày ông đau bệnh ở Phú Xuân và nhận được tin quê ông bị hạn hán nhà mười miệng thiếu ăn. Như vậy phải chăng Nguyễn Du thông cảm với Đỗ Phủ v́ cả hai người cùng từng trải qua những ngảy gian nan thiếu thốn.
Nhà thơ Trung Quốc thứ hai mà Nguyễn Du vinh danh là Lư Bạch. Ông viết bài Đào Hoa Đàm Lư Thanh Liên Cựu Tích để ca tụng Lư Bạch bằng câu thứ tám:


薄 視 榮 名 同 敝 履
Bạc thị vinh danh đồng tệ lư

nghĩa là:

coi nhẹ vinh hoa như chiếc giày rách, sau khi nhắc lại truyện Vua Đường phái Cao Lực Sĩ gọi Lư Bạch, vào chầu mà Tửu Tiên vẫn say mèm, khiến Cao Lực Sĩ phải vực lên thuyền.


Rồi Nguyễn Du kết luận bằng câu:


世 路 塵 埃 信 溷 濁
Thế lộ trần ai tín hỗn trọc
不 如 終 日 痛 飲 全 吾 天
Bất như chung nhật thống ẩm toàn ngô thiên

nghĩa là:

Đường đời bụi bặm hỗn trọc
Thà suốt ngày uống tràn giữ tṛn thiên tính.


Nhưng dường đó chỉ là điều Nguyễn Du ước mơ, trong suốt ba tập thơ Việt Âm của ông chỉ có bài Hành Lạc Từ I ghi lại cảnh say sưa.
Người đọc dường như thấy Nguyên Du gặp Lư Bạch qua chữ thành sầu trong câu:


欲 破 城 愁 惟 有 酒
Dục phá thành sầu duy hữu tủu


Chữ thành sầu là h́nh ảnh mối sầu vây chặt lấy con người như một bức tường thành kiên cố. Đó là h́nh ảnh cái khổ làm người của Lư Bạch mà Nguyễn Du thông cảm. Nhưng khác với Lư Bạch là Nguyễn Du không lấy rượu để phá thành sầu. Nguyễn Du tương nhượng với chính ông để tói chỗ thỏa hiệp để thấy như bức thành sầu không c̣n phiền lụy ông nữa.


Sau Lư Bạch và Đỗ Phủ, Nguyễn Du đề cao hai trong Bát Đại Gia của Trung Quốc: một là Liễu Tôn Nguyên và Âu Dương Tu.
Liễu Tôn Nguyên là một văn hào đời Đường, đậu tiến sĩ, làm quan tới chức Giám Sát Ngự Sử, v́ cuộc tranh chấp trong chiều mà bị biếm làm Tư Mă Vĩnh Châu. Nguyễn Du kết luận bài Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu Cố Trạch, bằng hai câu:

壯 年 我 亦 為 材 者
Tráng niên ngă diệc vi tài giả

nghĩa là:

Tuổi trẻ ta cũng là gỗ qúy
Đầu bạc sầu không đón gió thu


để tỏ ḷng thương Liễu Tôn Nguyên, ngày trẻ cũng đă từng nuôi mộng cao xa, nay đầu đă bạc, ông cố giữ sao để sự khen chê nơi sân rồng không phiền lụy tới ông. Nguyễn Du đă từng bị vua Gia Long trách là không chịu góp lời vào những cuộc tranh luận nơi sân rồng, nhưng không để lời trách cứ đó day dứt ông như Liễu Tôn Nguyên v́ bị biếm mà coi ḿnh là ngu khiến cây cỏ g̣ đống quanh nợi ông ở đều bị gọi là ngu, rồi chết v́ uất hận.
Với Âu Dương Tu, nhà nghèo, mồ côi cha được mẹ rèn cặp, 24 tuổi đậu tiến sĩ, làm quan nhiều lần bị giáng chức cũng v́ truyện phe phái trong triều. Đồng thời là một trong Bát Đại Gia đời Tống. Câu thứ sáu bai Âu Dương Tu Văn Trung Công Mộ:

名 家 八 大 擅 文 章
Văn gia bát đại thiện văn chương


của Nguyễn Du cho thấy ḷng ông trọng vọng sự nghiệp văn chương của Âu Dương Tu.


Nhưng bên cạnh một sụ nghiệp văn chương lừng lẫy, Âu Dương Tu có một hoạn lộ nhiều phen lên xuống gập ghềnh. Phải chăng nhắc tới Âu Dương Tu là nhăc tới một điều mà ông đă tùng nhiều lần tự nhắc nhở ḿnh, là làm cách nào để dầu ở trong hoạn lộ mà không bị phiền lụy, mà vẫn tạo nên một văn ngiệp xứng đáng so với Âu Dương Tu.
Bùi Độ là văn gia thứ năm Nguyễn Du nhắc tới trong thơ. Bùi Độ người đ̣i Đường, là một công thần đời Đường, hoạn lộ được coi là gương mẫu cho người đời sau trong việc sự xủ xuất. Sau khi về hưu ông lui về Lục Dă ngâm vịnh cùng các danh gia đương thời như Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích. Nhắc tới Bùi Độ trong bài Bùi Tấn Công Mộ, phải chăng Nguyễn Du cũng mốn noi gương xuất xử của Bùi Độ? Rất tiếc là Nguyễn Du, tuy đă nhiều lần xin về hưu, nhưng vua Gia Long chưa thuận th́ ông bị bạo bệnh và mất khi đang tại chức.


Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du không thu gọn trong ba tập thơ Việt Âm mà hơn mọi tác giả khác là hai áng thơ nôm: Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh và cuốn Đoạn Trường Tân Thanh. Điều đáng chú ư hơn hết là chủ đề trong cả hai tác phẩm này cùng là nỗi khổ làm người, một nỗi khổ của con người khi bắt đầu suy nghĩ về ư nghĩa của cuộc sống. Hơn nữa thơ Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh đă đưa tiếng thơ Việt Nam lên tới mức cao từ xưa tới nay chưa từng ai đạt tới.


Đi sâu vào nỗi khổ làm người trong hai tác phẩm kể trên của Nguyễn Du vượt quá khuôn khổ của tập sách này. Xin dành giói chuyên ngành về lịch sử tư tưởng nghiên cứu.
Phải chăng sự nghiệp văn thơ đó đă giúp cho Nguyễn Du tương nhượng rồi thoả hiệp được với chính ông trước cái khổ làm người, đạt đưọc an lạc, ataraxie, trong cuôc sống ở cơi người ta này?

 


14


Nguyễn Du sáng tác ba tập thơ Việt Âm trong suốt thời gian ngoài hai mươi năm. Đọc ba tập thơ đó, người đọc như thấy ư chí kiên tŕ của tác giả, sống kỷ luật vói chính ḿnh, không phải như một nhà khổ tu, nhưng như một người theo đuổi một mục đích đă định sẵn. Mục đích đó không phải là để trở thành một vị anh hùng cái thế lưu danh muôn thủa, mà là một người đi t́m an lạc cho chính bản thân của riêng ḿnh. Đó là bổn phận con người đối với bản thân.


Để làm tṛn bổn phận đó, nh́n qua hai bài thơ mang mầu Thiền: Đạo Ư và Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài, người đọc thấy rơ h́nh ảnh tiến tŕnh của Nguyễn Du trên đường trút bỏ cái khổ làm người theo nẻo Phât học. Bài Đạo Ư cho thấy rơ Nguyễn Du đă tới được mức giữ được tâm không giao động bởi vật ngoài. Rồi bẵng đi trong ngoài hai chục năm sau, qua bài Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài, ông cho hay là ông không muốn dài lời bàn luận về Phật pháp bởi muốn tuân hành lời tổ Đạt Ma: “Bất lập văn tự”. Người đọc thơ Nguyễn Du dường thấy Nguyễn Du đă buông bỏ danh lợi theo đúng lời Phật dậy trong Trung Bộ Kinh, 138: 74
Đừng để tâm ngươi giao động bởi vật bên ngoài, mà cũng đừng sa đà giữa nhũng tưỏng niệm bên trong. Hăy ĺa tất cả chấp trước, tất cả sợ sệt. Đó là con đường vượt qua cái khổ sống chết.


Giáo lư xả chấp của Phật thường cụ thể biểu minh bằng h́nh ảnh chiếc bè. Kinh Sutta Nipata, V.21 chép lời Phật dậy:


Ta đă đóng một chiếc bè chắc chắn, ta đă tới tận Niết Bàn, ta đă qua bờ bên kia, chiến thắng ḍng cuồng lưu tham dục; ta không c̣n dùng chiếc bè vào việc ǵ nữa, vậy trời muốn mưa th́ cứ mưa.
Kinh Kim Cương của Lục Tổ Huệ Năng nói về chiếc bè Pháp như sau:
Như Lai thường dậy rằng các thầy tỳ khưu nên biết pháp ta nói ví như chiếc bè đưa qua sông: pháp c̣n bỏ huống nữa chẳng phải là pháp.
Trung Bộ Kinh giảng rộng về bè pháp, tóm lược như sau:
[...] lời ta dậy ví như chiếc bè, để đưa qua, không phải để mang giữ. Hăy nghe lời ta đây. Ví như có người suốt ngày đi đường mệt nhọc gặp phải một con sông rộng nước sâu; bờ sông bên này th́ dầy lo sợ và hiểm nghèo, con bờ bên kia th́ yên ổn, không sọ sệt, nhưng không cp1 ghe thuyền đưa qua sông, mà cũng không có cầu bắt nối hai bờ. Ví như người ấy nghĩ bụng như vầy: Quả thật sông th́ rộng nước th́ sâu, bờ bên này đầy lo sợ và hiểm nghèo, c̣n bờ bên kia th́ yên ổn không sợ sệt; nhưng không có thuyền mà cũng không có có cầu đưa ta qua bờ bên kia. Sao ta không thử lượm lặt những lau sậy, nhưng que cành chà là kết làm bè coi sao? Rồi ngồi trên bè, ta dùng tay dùng chân làm chèo, chèo sang bờ bên kia. [...]
Bây giờ qua sông rồi, đến bờ rồi, ví như người ấy nói vầy: Quả thật chiếc bè ấy đă giúp tôinên việc lớn. Nḥ nó chở tôi, và tôi dùng tay dùng chân làm chèo, tôi mới qua êm được đến bờ bên kia; bây giờphỏng như tôi đội chiếc bè trên đầu, hoặc mang nó trên vai, và cứ thế mà lên đường đi dâu tùy thích? [...] Người ấy dùng bè như vậy có khôn ngoan không?
- Bạch ngài, nhất định là không.
- Vậy, nếu là người khôn ngoan, người ấy phải xủ trí làm sao với chiếc bè? [...] Người ấy nên nghĩ như vầy: Quả thật chiếc bè ấy đă giúp tôi nên việc. Nhờ ngồi trên bè, và chèo bằng tay bằng chân, tôi qua êm được bờ bên kia. Giờ đây, nếu tôi bỏ lại chiếc bè ấy bên bờ, hoặc vứt nó ch́m xuóng nước, và tôi lại tiếp tục lên đường. [...] Nếu làm như vậy, người ấy đáng là người khôn ngoan khée xủ trí với chiếc bè.
Cũng như vậy đó, [...] giáo pháp tôi dậy ví như chiếc bè, cốt để đưa qua không phải để mang giữ. Thấu rơ ví dụ đó th́ đối với pháp c̣n phải buông xả nữa là cái phi pháp.
Suziky giải thích hai chữ pháp và phi pháp trong lời Phật dây trên đây là đồng nghĩa với có và không, hoặc khẳng nhận và phủ nhận. Vậy phá bỏ cà pháp và phi pháp có nghĩa là thoát ly cái chấp nhị nguyên cùng tất cả rối ren và vướng mắc. Rồi Phật kết luận:
[...] dầu là sắc chất nào, dầu ở quá khứ, vị lai hay hiện tại, dầu ở trong hay ở ngoài, dầu thô hay tinh, dầu tiện hay quư, xa hay gần, sắc nào cũng phải quán như thực trong ánh sáng chánh trí, nghĩa là quán thấy như vầy:


“Cái này không phải của tôi,”
“Tôi không phải là cái này”
“Cái này không phải là tự ngă của tôi”


Bốn uẩn c̣n lại là thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy đó. Người nào quán thấy thế gian như vậy là thoái ly tất cả dục vọng tai hại, chhứng đến tự do. Đó là người chướng ngại gạt bỏ xong, hào lũy lấp cạn hết, là người đả bạt trừ, đă tữ do, đă hoàn tất cuộc chiến, đă trút bỏ gánh nặng.
Vậy là người ấy đă trút bỏ được gánh nặng của cái khổ làm người.
Cũng để tṛn bổn phận đối với bản thân, người đọc dường thấy Nguyễn Du sống theo một nếp sống, nh́n theo nhăn quan mà Trang Tử, để đạt tới mức :75
 

至 人 無 己
Chí nhân vô kỷ
神 人 無 功
thần nhân vô công
聖 人 無 名
thánh nhân vô danh.

nghĩa là:


Chí nhân không v́ ḿnh
thần nhân không v́ công
thánh nhân không v́ danh


không phải để bước ra ngoài đời ngao du sơn thủy, và nói theo Bạch Cư Dị, cũng chẳng phải sống nơi khói ráng như những nhà tiểu ẩn, mà để t́m ra cho ḿnh niềm an lạc như một nhà trung ẩn nơi biên trấn hay làm giảm những trói buộc với cuộc sống của những nhà đại ẩn nơi kinh thành. Đó là nếp sống vừa xuất lại vừa xử, không để bên nào trọng hơn bên nào.
Để đạt tới mục đích đó, như đă thấy qua ba tập thơ Việt Âm, Nguyễn Du đă thành công trong việc quên lăng danh, quên lăng lợi, khiến không c̣n lo sợ không c̣n đau khổ và thản nhiên đón cái chết. Giới nghiên cứu về cái khổ của con người cho biết là một khi đạt được tới mức đó, con người đạt được an lạc của cuộc sống.
H́nh ảnh thường dùng để mô tả một con người đạt được tới cơi an lạc là h́nh ảnh một người biết chắc là ḿnh sẽ chết nay mai, nhưng vẫn vui vẻ trồng một cây táo, như ‘chẳng có truyện ǵ sẽ xẩy ra’


Đó là h́nh ảnh Nguyễn Du trong hai câu kết bài Tạp Ngâm, kỳ I:

庭 植 孤 松 高 百 尺
Đ́nh thực cô tùng cao bách xích
不 知 青 帝 奈 人 何
Bất tri thanh đế nại nhân hà

nghĩa là:

Trồng thông trăm thước trước sân
Mặc cho trời đất xoay vần chẳng lo.


Khi buông bỏ được chính ḿnh, công danh của ḿnh, con người đạt tới được cơi an lạc cho tâm thần, bằng ḷng với thân phận con người, bằng ḷng cả với cái vô dụng của kiếp người, tóm lại như vậy là tạm buông bỏ đưọc nỗi khổ làm người.
Trang Tử đưa ra h́nh ảnh cái quên tháo bỏ gông cùm cho cái tâm, bằng câu 76:


忘 足 , 履 之 適 也
Vong túc, lư chi thích dă
忘 腰 ,帶 之 適 也
Vong yêu, đái chi thích dă
知 忘 是 非, 心 之 適 也
Tri vong thị phi, tâm chi thích dă
[...] 忘 適 之 適 也


Nhượng Tống dịch là 77:


Quên chân, thế là giầy vừa
Quên lưng thế là đai vừa
Quên phải trái, thế là ḷng vừa.


Quên chân, quân lưng là quên được chính ḿnh, khiến không c̣n bị vật ngoài như đôi giầy không vừa chân, chiếc đai không vừa lưng làm dao đông cái tĩnh của thân, cũng như quên cái phải cái trái, cũng là vật ngoài làm nhiễu động cái tĩnh của tâm.


Không bị vật ngoài làm dao động cái tĩnh của thân và của tâm là tới mức mà Trang Tử gọi là 78:


故 善 吾 生 者
Cố thiện ngô sinh giả,
乃 所 以 善 吾 死 也
năi sở dĩ thiện ngô tử dă.


và Nhưọng Tống dịch là:


Khéo nuôi cái sống của ta
tức là khéo liệu cái chết của ta.


Nhà phê b́nh Nam Hoa Kinh Lâm Tây Trọng giải rằng 79:
[...] cái mà chân nhân dùng để biết, cái mà chân nhân nuôi dưỡng chẳng phải là cái quên của cơi ḷng sao? Duy kỳ ḷng đă quên rồi, cứ thế mà suy: từ ḷng đến thân; từ thân đến đời; thông với thời; hợp với vật, cũng chẳng qua là thế. Cho nên ḷng mà chưa quên, th́ việc làm thường gây nên cái tệ hữu tâm: ra ǵ hạng ấy! Ḷng mà biết quên th́ ở đời có lắm những tài kiêm tế: chi thiếu tṛ hay! Ḷng của chân nhân không dùng thiên, cho nên trong đó trời với người không bên nào thiên cả. Cái thật là biết của chân nhân là thế, thế nên mới có thể nói rơ về truyện sống, chết ở đời. Sống với chết, cũng như ngày với đêm. Ấy là số mệnh. Ấy là thế tất nhiên.


Nhượng Tống bàn rộng thêm, tóm tắt như sau:


Trang Tử bày ra một quan niệm về nhân sinh: vừa nhập thế vừa xuất thế. Nhập thếlà xử thế như mọi người, nhưng mà làm đó mà vẫn tiêu dao như không làm, dù cho công trạng kịp tới muôn đời, cũng quên ḿnh không kể tới công danh. C̣n xuất thế chẳng phải là truyện ẩn cư tu hành mà vẫn ở trong đời, vẫn gánh vác việc đời. Cùng nhăn quan đó, Sống với chết chỉ là một thể, chẳng qua là sự rất thường, chẳng đáng để lọt vào ‘kho thiêng’.
Xử trong khi xuất, tại một biên trấn, là cảnh trung ẩn, xử trong khi xuất tại đế đô huyên náo là cảnh đại ẩn. Suốt hoạn lộ Nguyễn Du hoặc sống như một trung ẩn khi c̣n ở cấp huyện cấp phủ; thăng chức vào kinh ông vất vả hơn, sống đời đại ẩn, rồi lại thăng chức làm Cai Bạ Quảng B́nh, ông lại có thêm bốn năm vui đời trung ẩn. Cuối cùng là hai năm đi xứ, rồi lại thăng chức và lại phải sống đời đại ẩn rồi mất. Đúng như lời bàn của Nhượng Tống cái chết đến với Nguyễn Du rất thường, chỉ là một thể với cái sống. Ông đă suốt một đời khéo nuôi cái sống của ông, thế nên ông đă thực khéo liệu cái chết của ông. Thật đúng như lời sách Nan Hoa Kinh 80:
[...] “khối lớn” làm mệt ta bằng sự sống, cho ta rỗi bằng tuổi già, để ta nghỉ bằng cái chết.

 

Cái chết của Nguyễn Du khác với cái chết của nhà vua trong vở kịch Le Roi se Meurt của Ionesco. Nhà vua này chết chưa kịp sống: suốt đời ngài c̣n phải lo làm vua. Đối mặt với thần chết nhà vua tiếp tục làm vua: ra lệnh cho thần chết phải để cho ngài bắt đầu lại cuộc sống. Thần chết trả lời ngài: “Tâu bệ hạ, quá muộn mất rồi!” 81.

 

Cái chết của Nguyễn Du, cái chết của người khéo lo cái sống gợi cho người đọc bài dụ ngôn của Hồng Y Giáo Chủ Richelieu, tóm tắt sơ lược như sau 82:

 

Je descends le fleuve de ma vie comme si j’étais embarqué sur un esquif léger et fragile.
Un jour, je le sais, je déboucherai dans l’océan qui m’engloutira, et ma petite embarcation, renversée et culbutée, me jettera dans la mort. Mais d’ici là, il m’est donné de descendre de tout son long le fleuve de ma vie.
Il y a deux manières de descendre ce fleuve. La première c’est de rester à l’avant de la barque, les yeux facinés par le moment où tout culbutera vers la mort. Je ne pense pas que ceci soit souhaitable.
 

La deuxième manière, c’est de s’assoir à l’avant de la barque mais en tournant le dos à la mort qui vient, c’est à dire à l’aval du fleuve vers lequel on descend. Ainsi, adossé à la mort, je regarde la barque qui est là devant mes yeux. Et dans la barque, il y a ceux qui sont embarqués avec moi. Je m’accule à la mort qui vient pour mieux ouvrir les bras au présent de la vie. Et je me hâte de vivre l’essentiel au milieu des futilités.


Cái chết của Nguyễn Du, chép trong sách Chinh Biên Liệt Truyện như sau 83:
Khi tiên sinh phải bệnh nặng, không chịu uống thuốc. Lúc gần mất, sai người sờ tay chưn xem c̣n nóng hay lạnh. Người nhà nói đă lạnh cả rồi. Tiên sinh nói rằng: được! Nói xong th́ mất, không có một lời nào dặn ḍ đến việc sau.
Chi tiết “bệnh nặng không chịu uống thuốc” cho người đọc thấy là Nguyễn Du muốn có một cái chết an lạc. Điều thứ hai là Nguyễn Du “không có lời nào dặn ḍ đến việc sau” chứng tỏ rằng ông dă khéo nuôi cái sống để khéo lo liệu cái chết của ông, đúng như lời Trang Tử Nam Hoa Kinh. Đồng thời cho thấy niềm an lạc của Nguyễn Du đă không bị cái chết làm dao động.


Phải chăng điều đó chứng tỏ là Nguyễn Du đă có một cuộc sống an lạc, và một cái chết an lạc? Như vậy, phải chăng ba cuốn thơ Việt Âm, không những chỉ là ba tập nhật kín sâu kín của Nguyễn Du mà c̣n là ba tập sách cho biết kinh nghiệm của một người đă thành công trong
việc tương nhượng và thỏa hiệp với chính ḿnh để đối đầu với cái khổ làm người?

 

 

Gom Ư


Tập sách này tŕnh bày trên đây bản dịch sang vần lục bát, 237 bài thơ Việt Âm của Nguyễn Du, và đồng thời trả lời câu hỏi tại sao thơ Nguyễn Du đượm một nét sầu
cảm.
Bản dịch mới nối dài công tŕnh của những người đi trước trong việc dịch thơ Việt Âm của Nguyển Du. Dịch sang vần sáu tám người dịch chủ ư mang thơ Nguyễn Du tới người đọc khác với chủ ư dẫn người đọc tới thơ Nguyễn Du như các bản dịch cũ theo thể thơ Đường.
Phân tích toàn bộ thơ Việt Âm của Nguyễn Du, người đọc không t́m thấy một bài hay một câu cho thấy ư hoài Lê của Nguyễn Du trong thơ. Đồng thời người đọc thơ nhận thấy cả ba tập thơ của Nguyễn Du dường như một tập nhật kư sâu kín của tác giả. Viết nhật kư sâu kín là thói quen của những người sầu cảm đối mặt với cái khổ làm ngụi.
Do đó đọc ba tập thơ Việt Âm của Nguyễn Du như đọc ba tập nhật kư sâu kín, người đọc thấy theo chiều dài trong ngoài hai chục năm, Nguyễn Du đă ghi lại những cái chật hẹp g̣ bó ông trong cuộc sống, kèm theo những nét thăng hoa, đưa ông tới những giây phút an lạc hiếm hoi. Một cách tổng quát, người đọc nhận thấy ba cuốn thơ Việt Âm của Nguyễn Du như ghi lại những kinh nghiệm của tác giả trong việc tương nhượng và thoả hiệp với chính ông đứng trước cái khổ làm người. Đó là kinh nghiệm của một người đă đạt tới an lạc trong đời sống, đối mặt với cái khổ làm ngụi. Đó cũng là kinh nghiệm của một người đă khéo liệu cho ḿnh một cái chết an lạc bằng cái khéo sống một đời an lạc.


Cái giá của cuộc sống an lạc cùng cái chết an lạc đó là cố công của Nguyễn Du suốt một đời tu thân theo nề nếp lạc thiên an đạo của nhà Nho, một đời buông danh bỏ lợi của một người sửa ḿnh theo nề nếp đạo Lăo hay của một Phật Tử thực thi nếp sống kiệm dục.


Ba tập thơ Việt Âm của Nguyễn Du c̣n cho thấy ông không nghiêng về bất cứ một đạo nào trong Tam Giáo. Ông đứng vững vàng tại trọng tâm của Tam Giáo. Đề tài của cả ba tập thơ Việt Âm này là cái khổ làm người, đó chính là chủ đề cốt cán của nền văn học chữ nôm của người Việt.
Cái khổ làm người phải chăng là điều Nguyễn Du muốn gửi gắm trong mọi tác phẩm chính của ông, khi ông làm thơ nôm cũng như khi ông làm thơ Việt Âm? Như vậy, phải chăng ba tập thơ Việt Âm và cuốn Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du là những tác phẩm cùng trong một ḍng tư tương với những tác phẩm lớn của Văn Học chữ nôm như Cung Oán Ngâm Khúc và Chinh Phụ Ngâm?


 


 

32. Trần Trọng Kim, Truyện Thúy Kiều, sách đă dẫn, tr. XIII.
33. Đào Duy Anh, Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, Nhà xuất bản Văn Học, Hànôi, 1988, tr. 33.

34. Georges Minois Histoir du Mal de Vivre de la mélancolie à la dépression, Édiditions de la Martinière, Paris 2003.
35. Cité par Georges Minois: Ibid. p. 92
36. Cité par Georges Minois, ibid, p. 153.
37. Cité par Georges Minois, ibid. p. 154.
38. Emmanuel Kant, Observations sur le bon sens du beau et du sublime, dans Werke, Berlin, E. Cassier (éd), 1912, t. II, pp. 258s.

39. Cité par Georges Minois, ibid. p. 217.
40. Réné Le Senne, Traité de la Caractérologie Paris, PUF, 1957.
41. Georges Minois, Histoire du Mal de Vivre, Éditions de la Martinière, Paris 2003, p.373-380.

42. Lăo Tử Đạo Đức Kinh, sách đă dẫn, tr.
43. Julia Kristeva, Soleil noir: dépression et melancholie, Paris, Gallimard, 1987, p. 17.

44. Aristote, Problème XXX, 1, Traduction francaise de F. Durand Bogaert et L. Evrard, parue dans R. Klibansky, & Al. Paris, Gallimard, 1989, p. 52.
45. Đào Uyên Minh Thi Tuyển, sách đă dẫn, tr. 136-142

46. Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 330.
47. Trang Tủ Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 274.

48. 孟子, 卷 之 五, 萬 章, 章 句 下, 弟 八 章, 二, 泛 美 圖 書, 香 港 1977, 章 756.

49. 白 居 易 集 , 中 華 書 局 出 版 , 北 京 1979,張 490.

50. Cité par Michel Delon, La voie nouvelle d’un promeneur pas si solitaire, Magazine Littéraire,Hors Série, Octobre-Novembre 2007, p.44
51. Cité par Michel Delon, ibid. p.44
52. 李 白 詩 選, ibid. 張 78.

53. Cité par Georges Minois, ibid, p.298.

54. Cité par Georges Minois, ibid. p. 8.

55. Tư Mă Thiên, Sử Kư, Khuất Nguyên Liệt Truyện, sách đă dẫn, tr. 542-548.

56. Luận Ngữ, Nhan Uyên, chương XXIII, sách đă dẫn, tr. 438-439.

57. Đào Duy Anh, Thơ chũ Hán Nguyễn Du, sách đă dẫn, tr. 33
58. Tư Mă Thiên, Sử Kư, Sách đă dẫn, Nam Việt Úy Đà Liệt Truyện, tr.743 ff.
59. Mạnh Tử, Thiên Lương Huệ Vương, Chương III, trích theo Nghiêm Toản, Lăo Tử Đạo Đức Kinh, tập II, sách đă dân, tr. 245

60. R.L. Wing, The Tao of Power, Doubleday Inc, Gaeden City, New York, 1986, Chp, 61.
61. R. L. Wing, ibid. chp. 8.

62. TrầnTrọng Kim, Việt Nam Sử Lược, II, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu, Saigon 1971, tr.184

63. Georges Minois ibid. p. 7

64. Georges Minois, Histoire du Mal de Vivre, ibid.Chap IX, p. 269-311.

65. Tuồng Đào Tấn, tập I, Đỡ Đẻ, lớp IX, Vũ Đ́nh Liên Biên Dịch, Nhà Xuất Bản Sân Khấu, Sở Văn Hóa Nghĩa B́nh, 1987, tr.151

66. D. T. Suzuki, Thiền Luận, tạp hạ, bản dịch của Tuệ Sĩ, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ,tr. 81.
67. D.T. Suzuky, Ibid. tr. 83.
68. The Saying of Chuang Tzu, James R. Ware chinese text, Confucius Publishing Co, Republic of China, 1959.p. 90.
69. The Saying of Chuang Tzu, ibd. p. 97.

70. 陶 淵 明 詩 選, ibid. 張 136-142.

71. Lăo Tủ Đạo Đức Kinh, bản dịch của Nghiêm Toản, sách đă dẫn, tr. 387.

72. Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam, Univerty of California Press, Berkley, 1983, Appendix M, p. 342-343.
73. Lư Tế Xuyên, Việt Điện U Linh, Văn Học, Hà Nội, 1972, Bản dịch của Trịnh Đ́nh Rư và Đinh Gia Khánh, tr. 43.

74. Trích theo D.T. Suzuky, Thiền Luận Tập thượng, bản dịch của Trúc Thiên, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, trang 233-237.
75. The Saying of Chuang Tzu, James R. Ware, ibid, p. 5

76. James R. Ware, The Saying of Chuang Tzu, ibid. p. 229
77. Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 300

78. James R. Ware, The saying of Chuang Tzu, ibid. p.69.
79. Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 143-147.
80. Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhưọng Tống, sách đă dẫn, tr. 128.
81. Cité par Alain Houziaux, Dix questions simples sur la vie, Albin Michel, Paris 2007, p.229-230.
82. Cité par Alain Houziaux, ibid. p. 231-232. 249

83. Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, Nguyễn Du, Truyện Thúy Kiều, Đại Nam tái bản, tr. X.

 

 

 

 

HẾT

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG

 


 

 

 

 

www.ninh-hoa.com