www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THƠ VIỆT ÂM
Của Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 17:

 

南 中 雜 吟

Nam Trung Tạp Ngâm

 

Tiếp Kỳ 16

 

 

Nỗi Buồn của Nguyễn Du


1


Đúng như giới nghiên cúu Truyện Kiều đă viết: thơ Việt Âm Nguyễn Du đa số là thơ buồn. Những nhà nghiên cứu lớp đầu vào khoảng thập niên 20 thế kỷ XX, như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim 32 chủ trương nguyên do mối buồn của Nguyên Du là bởi ḷng ông c̣n tưởng nhớ nhà Lê. Tới cuối thập niên thứ 8 thế kỷ XX, Đào Duy Anh 33, cũng giữ nguyên một lập luận ấy. Trước đó khoảng vài chục năm có Hoài Thanh, Trương Chính, rồi tới lớp gần đây, vào những năm cuối thế kỷ XX, nhóm Mai Quốc Liên, bác bỏ lập luận này, nhưng không đề ra được một lập luận khác đầy đủ khả năng thuyết phục.


Đi t́m một ư nghĩa giải thích nỗi buồn của Nguyễn Du là chủ đích của những trang kế tiếp.


Để đạt tới mục đích đó, người đọc thơ Nguyễn Du trở lại quan điểm của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim: “Thơ Nguyễn Du mang đậm nét buồn.”


Chữ buồn này, như đả bàn trong phần Mở Lời, không những là chủ đề của ba tác phẩm chính của văn học Việt Nam: Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm và Đoạn Trường Tân Thanh mà c̣n là chủ đề của những bài ca dao trong dân gian ai ai cũng thuộc, than van nỗi khổ phải đi lính xa nhà, cũng như mối nhớ thương của những lứa đôi trắc trở t́nh yêu.


Chữ buồn này hiểu là chữ mélancolie trong tiếng Pháp, người đọc sẽ gặp Georges Minois, tác giả cuốn Histoire du Mal de Vivre, de la mélancolie à la dépression 34, và thấy là chữ buồn của Nguyễn Du là nỗi buồn của con người, đặc biệt là con người nghệ sĩ, trải dài từ thượng cổ tới ngày nay, của khắp mọi sắc dân.
Trong địa hạt văn học nghệ thuật, nỗi buồn của con người giữ một vai tṛ quan trọng. Nhà hiền triết Hy Lạp Aristote (445-386 tcn) đă nói 35:


Presque tous les hommes talentueux et sages ont été mélancoliques.


Sau Aristote cả hai ngàn năm, Robert Burton (1577-1640) là một một mục sư kiêm văn sĩ, người Anh Quốc, đă được giới nghiên cứu coi là tiêu biểu cho những văn nhân mang nặng nỗi buồn. Ông có một nếp sống trầm lặng đơn độc, sống bằng một lợi tức đạm bạc. Nhưng ông lấy làm măn nguyện và nói: “Tôi chẳng giầu mà cũng chẳng nghèo, tôi chẳng có ǵ nhiều trong tay, mà cũng chẳng uớc ao ǵ khác. Tất cả sở hữu của tôi là một chồng sách nát. Thú đọc sách là một nét điển h́nh của người mang nặng mối đa sầu. Robert Burton tự xét ḿnh
rất khe khắt, ông nghi ngờ chính cái hiểu biết của ông, ông nói: “Tu ne peux pas avoir une pire idée de moi que celle que j’ai de moi-même36 . Càng buồn ông càng dấn thân vào việc sáng tác. Cuốn sách ông hoàn tất có trên dưới hai ngàn trang. Nội dung cuốn sách bàn tới nhiều trạng thái của nỗi buồn của con người. Ông mô tả đặc điểm của con người giẩu sầu cảm 37: “cùng cục đam mê, [...] luôn luôn lo lắng, đa nghi, thận trọng, có lúc rất hào phóng nhưng nhiều khi rất dè xẻn, thường thường bất măn ngay với chính ḿnh và với người chung quanh hay với cả những truyện không liên quan tới bản thân, [...] nói ít, chẳng bao giờ khen ai và cũng không thích người khác khen ḿnh; dường như thường xuyên ch́m đắm trong ṿng suy tư [...] ưa cưộc sống đơn độc, đi dạo một ḿnh, nằm dài suy nghĩ suốt ngày, để trí tuởng tượng bay bổng khắp đó đây, và nh́n đời như xem một tấn tuồng trên sân khấu.”


Ngày nay, cuốn Anatomie de la mélancolie của Robert Burton được coi là một cuốn sách giải sầu. Nội dung cuốn sách không chỉ bàn riêng về mối sầu cảm của con người, mà thật ra là bàn về thân phận con người với những g̣ bó chật hẹp, ty tiện và hoang tưởng, vắn tắt là
bàn về nỗi khổ làm người, le mal de vivre.


Sang thế kỷ XVIII, Emmanuel Kant (1724-1804), triết gia người Đức từng được coi là triết gia lớn nhất trong thế kỷ đó, đă đề cao mối buồn của văn nhân mở đầu cho ḍng văn học lăng mạn tại Âu Châu. Theo ông, mối sầu cảm này đă giúp cho các nhà thơ nhà văn cũng như các nghệ sĩ khác đạt tới được tới mức tuyệt đỉnh của nghệ thuật. Người nghệ sĩ đặt tới tuyệt đỉnh, nhưng vẫn mang nặng nỗi buồn, chán sống, v́ tiềm thức nhậy cảm sắc bén của họ không cho phép họ chấp nhận những lề thói nhỏ nhen giới hạn thân phận con người.


Emmanuel Kant viết 38:

Celui que ses émotions portent à la mélancolie n’est pas appelé mélancolique [...]. Cet être, en particulier, a un sentiment du sublime. Toutes les sensation du sublime possèdent pour lui une fascination plus grand que les charmes passagers du beau [...]

 

L’individu de disposition mélancolique se soucie peu de l’opinion des autres [...] C’est pourquoi il ne dépend que de son propre jugement [...], sa constance se transforme parfois en obstination [...] L’amitié est sublime [...] La vérité est sublime, et il hait le mensonge et la tromperie. [...] La soumission abjecte lui est intolérable; il aime, en revanche, inspirer l’air de la liberté dans sa noble poitrine. Toutes les chaines, depuis les chaines dorées du courtisan jusqu’aux lourdes chaines du galérien, lui sont odieuses. Il est, pour lui-même et pour les autres, un juge sévère; et il n’est pas rare qu’il éprouve une immense lassitude de lui-même et du monde.


Cũng trong thế kỷ thứ XVIII, mối buồn của người nghệ sĩ biến thái thành nỗi khổ làm người. Người nghệ sĩ tự hỏi ư nghĩa của đời sống, một câu hỏi không bao giờ có giải đáp thỏa đáng. Câu hỏi này đưa con nguời tới chỗ đối mặt với cái chết. Bá tuớc Holbach (1723-1789) viết 39: “Il est bon d’établir quelques principes propres à dimnuer notre attachement pour la vie, et par conséquent à nous faire regarder la mort avec indifférence”. Denise Diderot
(1767-1837) xác định: “Il n’y a qu’une vertue: la justice; qu’un devoir: de se rendre heureux; qu’un corollaire, de ne pas se surfaire la vie, et de ne pas craindre la mort.”
Cũng trong thế kỷ XVIII, chứng sầu cảm của văn nghệ sĩ trở thành một cái dịch tự sát, đổi cái khổ làm người lấy cái chết mà không một ai rơ chết rồi sẽ ra sao.


Đến giữa thế kỷ XX, Réné Le Senne 40 xuất bản cuốn Traité de la Caractérologie. Theo Le Senne, cả hai loại người, hoặcgiầu sầu cảm hoặc dễ xúc động đều cùng nặng mang một mối buồn. Điển h́nh cho loại người dễ xúc động là nhưng tên tuổi lừng lẫy trong văn học như Byron, Chateaubriand, Stendhal, Baudelaire, Verlaine, Rimbaud, Musset, Poe, Dostroevski ... Với loại người này mối buồn thường chỉ thoảng qua, v́ lẽ họ sẵn sàng tự t́m cách trút bỏ.


Mối buồn của loại người giầu sầu cảm thụng xâu đậm hơn, kéo dài suốt đời, ảnh hưỏng tới đời sống tinh thần, điển h́nh là Rousseau, Vigny, Kierkegaard, v.v... H́nh ảnh con người giầu sầu cảm theo Réné Le Senne tương đồng với h́nh ảnh con người đó theo Robert Burton. Con người giầu sầu cảm thường nhậy cảm với thay đổi thời tiết; đi
t́m niềm yên tĩnh, thích suy tư; thường viết nhật kư sâu kín, journal intime, không chỉ dành riêng cho ḿnh, mà c̣n ghi lại không nhũng chỉ là sự việc gợi lên mối suy tư của tác giả, mà cả những cảm nghĩ riêng của tác giả về những sự việc đó. Người giầu sầu cảm thường có khuynh hướng tự trách ḿnh; người đó không than thân trách phận cho riêng ḿnh mà than thở cho thân phận con người. Bản tính nhút nhát, lánh đời, nên ngoài xă hội người giầu sầu cảm thường ít nói, nhưng đôi khi mở miệng th́ tỏ ra rất đam mê, nói không ngừng. Thiếu thực tiễn, người giầu sầu cảm thường t́m cho ḿnh một công việc làm ăn chắc chắn, không cần có lương cao bổng hậu, miễn đủ sống: thường thường là một cuộc sống công chức. H́nh ảnh tiêu biểu cho loại người này là nhà thơ Stéphane Mallarmé (1842-1898), dầu không muốn dậy học, nhưng suốt đời làm nghề thầy giáo.


Bản tính thụ động, người giầu sầu cảm thường tránh đương đầu với mọi hoạt động đ̣i hỏi một chút cố gắng chủ động. Luôn luôn t́m cách ra khỏi nỗi nhàm chán, nhưng luôn luôn tụ đặt câu hỏi: ‘để làm ǵ?’ trước khi khởi đầu mọi hành động, khiến người giầu sầu cảm như sợ hăi tương lai, sợ hăi nỗi nhàm chán để ch́m trong nhàm chán.
Người đọc thơ Nguyễn Du không khỏi thoáng thấy Nguyễn Du, qua ba tập thơ Việt Âm, có nhưng nét tiêu biểu của người giầu sầu cảm mô tả trên đây, kể từ Aristite, qua Robert Burton, Emmanuel Kant, và Réné Le Senne.
Thế nên, trở lại với Nguyễn Du, qua ba tập thơ Việt Âm của ông, người đọc thấy đó là những trang nhật kư sâu kín, journal intime. Ông viết cho riêng ông, như để tự nhắc nhở nên sống ra sao để t́m thấy niềm an lạc trong cơi người ta này. Giới nghiên cứu về nỗi khổ của cuộc sống, mal de vivre 41, cho rằng, nhu cầu viết cho riêng ḿnh, là triệu chứng của sự bất ổn, biểu thị nỗi buồn [...] và uớc vọng đi t́m niềm an lạc. Nhật kư sâu kín khác với tự truyện.


Tự truyện thường là những câu truyện chủ quan bày tỏ ư kiến riêng của tác giả về một vấn đề cộng đồng, và tác giả thường khéo dùng bút thuật để nhắm đi tới một mục đích đă chọn sẵn, dầu đôi khi phải bóp méo sự thật. Nhật kư sâu kín đa số thành thực hơn tự truyện: tác giả thường rút tỉa kinh nghiệm hay ghi lại một quyết định, đứng trước một sự việc đă xẩy đến với ông ta.


2


Giới nghiên cứu cho biết Nguyễn Du ra đời trong một gia đ́nh đại quư tộc, tại phường Bích Câu, Thăng Long. Năm ông mười tuổi th́ cha ông, Nguyễn Nghiễm mất, Chúa Trịnh phong tước Huân Dụ Đô Hiến ĐạiVương, thượng đẳng Phúc Thần. Năm ông mười ba tuổi th́ mẹ ông qua đời, ông sống trong sự đùm bục của ông anh cả khác mẹ, Nguyễn Khản, lúc dó đă làm thượng thư bộ lại trong phủ chúa Trịnh . Ông đi thi hương năm mười tám tuổi, đậu tú tài, và lấy vợ là con gái của Đoàn Nguyên Thục. Tập ấm làm Chánh Thủ Hiệu Hiệu Quân Hùng Hậu, một chức quan vơ ở vùng trung nguyên Bắc Bộ.


Năm ông hai mươi mốt tuổi, Nguyễn Huệ ra Bắc diệt chúa Trịnh, Nguyễn Khản mất ở Thăng Long. Ba năm sau Nguyễn Huệ phá quân Thanh. Nguyễn Du tản cư về Quỳnh Côi, quê vợ, sống nhờ Đoàn Nguyên Tuấn, anh vợ ông, lúc đó làm thị lang bộ lại cho nhà Tây Sơn, suốt sáu năm.


Năm ông hai mươi sáu tuổi, anh ông là Nguyễn Quưnh dấy quân chống nhà Tây Sơn, bị bắt và bị giết. Quân Tây Sơn triệt hạ dinh cơ họ Nguyễn Tiên Điền.


Năm ba mươi mốt tuổi, ông toan vào Gia Định, theo nhà Nguyễn, viêc không thành, ông bị bắt nhưng chỉ bị giam ba tháng rồi tha.


Sáu năm sau, vua Gia Long diệt Tây Sơn, Nguyễn Du ra làm quan với nhà Nguyễn. Năm ba mươi chín tuổi ông được cử đi tiếp sứ nhà Thanh sang phong vương cho vua Gia Long. Cùng năm đó ông xin từ quan. Triều d́nh thăng chức cho ông và đổi ông vào kinh đô Phú Xuân.


Năm ông bốn mươi ba tuổi lại xin về hưu lần thứ hai, triều đ́nh lại thăng quan cho ông và bổ làm Cai Bạ tỉnh Quảng B́nh. Bốn năm sau ông lại được thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ và cử làm chánh sứ sang triều đ́nh nhà Thanh. Năm sau ông đi sứ về, thăng Hữu Tham Tri bộ lễ. Ông hoàn tất Bắc Hành Tạp Lục và Đoạn Trường Tân Thanh.


Bốn năm sau ông mất, thọ năm mươi lăm tuổi.
Dọc theo thời gian, cuốn Thanh Hiên Tiền Hậu Tập cho ta thấy những kinh nghiệm sống của Nguyễn Du trong những năm tháng lưu lạc tản cư cùng những ngày tháng đầu tiên ông ra làm quan với triều Nguyễn. Tập thứ hai, Nam Trung Tạp Ngâm ghi lại kinh nghiệm sống của ông trong những năm tháng ông làm quan tại kinh thành Huế, và tại tỉnh Quảng B́nh. Tập thứ ba ghi lại những cảm nghĩ của ông trong chuyến ông đi sứ sang triều đ́nh nhà Thanh. Những kinh nghiệm đó thường thường là những kinh nghiệm ông rút tỉa trong cảnh sống chật hẹp g̣ bó ông. Xen lẫn với những kinh nghiệm sống trong bó buộc đó là những giờ phút ông cảm thấy như bay bổng trong ṿm không.
Qua 238 bài thơ Việt Âm, nh́n theo chiều dọc, người đọc thấy nếp sống của Nguyễn Du. Nếp sống đó gồm hai giai đoạn. Một là giai doạn Nguyễn Du sống trong hoàn cảnh vật chất chật vật trong giai đoạn tản cư rồi về lại Tiên Điền trước khi ra làm quan ở Bắc Hà. Hai là giai đoạn Nguyễn Du đă bứt ra khỏi cảnh thiếu thốn vật chất. Đó là thời gian ông làm quan với triều Nguyển, khi ở trong Triều khi ở ngoài trấn và khi đi sứ.


Trong cả hai giai đoạn, Nguyễn Du cho thấy những g̣ bó của cuộc sống, trong những chân trời giới hạn chật hẹp, với những giàng buộc đủ mọi loại.
Cũng cả trong hai giai đoạn đó, Nguyễn Du ghi lại trong nhiều bài những kinh nghiệm giúp ông thành công bứt ra khỏi những giàng buộc thực tế, bằng cách tự hạ thấp ḿnh như lời Lăo Tử dậy trong Đạo Đức Kinh 42 .
Phân tích sơ lược một số bài thơ, lần lượt trong hai thời kỳ kể trên, là chủ đích của những trang kế tiếp.


3


Thanh Hiên Thi Tập mở đầu bằng bài Quỳnh Hải Nguyên Tiêu. Nguyễn Du ngắm trăng rằm tháng giêng, không có rượu trong tay như Lư Bạch, nhưng vui cùng trăng tṛn như gặp lại người quen biết từ ba chục năm qua, trong cảnh anh em ông ly tán v́ loạn lạc, bạn bè tri kỷ không có một ai ở gần, tóc trên đầu ông đă bạc, và năm tháng vội vă trôi qua. Bài thơ không chỉ ghi lại nỗi buồn của Nguyễn Du, mà c̣n cho người đọc thấy nỗi cô độc của tác giả cùng ḷng yêu thiên nhiên của ông. Nỗi buồn của Nguyễn Du là nỗi buồn của một con người nghệ sĩ, thấy được cái đẹp, mặc dầu đang ở trong cảnh khó khăn của cuộc sống. Đúng như ḷi Julia Kristeva 43:
[...] la mélancholie, équilibrée par le génie, est coextensive à l’inquiétude de l’homme dans l’Être.


Thế th́, phải chăng nỗi buồn của Nguyễn Du là nỗi buồn cho thân phận con người, nhất là con người trong giới sáng tác thơ văn, nhiều tư duy, đúng như nhận xét của Aristote44:
Tous les hommes qui furent exceptionnels en philosophie, en politique, en poésie ou dans les arts etaient [...] manifestement mélancoliques


Nỗi buồn đó hiển hiện trong thơ Việt Âm của Nguyễn Du.
Trong hai bài Tự Thán I, ông than cho ông thân đă suy tóc đă bạc, danh vẫn chưa thành. Nhưng cảnh khó khăn này dường như tại tính trời sinh, có cố gắng lắm th́ cũng như cắt ngắn chân hạc, kéo dài chân vịt, như lời Trang Tử: chỉ hại cho tính trời, mà vô ích. Chi bằng để mặc cho đại hóa xoay vần. Sang bài thứ hai, ông than rằng bởi thông minh mà tổn hại đến thiên chân, sự nghiệp văn chương chưa có nên sao nói được rằng trời đất ghen. Tài văn vơ của ông không có đất dùng, âu là vào rừng xuống tóc sống với thiên nhiên nh́n mây bay nghe thông reo.
Trong bài Vị Hoàng Doanh, Nguyễn Du dùng h́nh ảnh con ngụa uống nuớc dưới chân thành của Lăo Tử để tả cảnh chiến trận đă tàn, và h́nh ảnh ánh lửa đom đóm là h́nh ảnh chính sự lúc đó chưa rơ rệt. Ông đưa ra một nhận xét xác đáng là xưa nay không có triều đại nào vững bền được ngàn năm, như núi sông trước mắt ông, như ngọn đèo Ba Dọi núi xanh rờn ngăn đường vào xứ Thanh.


Cảnh phù du của danh lợi là điều Nguyễn Du nh́n thấy tận mắt trong gia đ́nh của ông. Cảm xúc của ông khi ra chơi giang đ́nh, gần làng ông là cảnh ngày năm 1771, khi ông mới sáu tuổi, cha ông, Nguyễn Nghiễm, thăng chức Đại Tư Đồ, về hưu, được chúa Trịnh cho ba chiếc thuyền hải mă đưa về làng, như ông ghi lại trong bài Giang Đ́nh Hữu Cảm. Mới đó mà biết bao nhiêu sự thay đổi ở kinh đô, làm buồn ḷng nhà thơ. Đó là lần độc nhất ông nói tới gia đ́nh ông trong cả ba tập thơ Việt Âm. Trong suốt cả ba tập thơ Việt Âm đó, đây là lần đầu tiên, Nguyễn Du lần nhắc đến tính vô thường của các triều đại, và sau đó c̣n nhắc đến điều này trong nhiều bài khác, dường như để lấy đó làm một trong những lư do khiến ông không hăng hái lao hết ḿnh vào ṿng công danh.


Trở về với thực tế, qua bài Bất Mỵ, ông cho thấy cảnh thiếu đói đe dọa gia đ́nh ông: cóc vào ở trong nhà bếp, nền nhà đất ẩm giun đùn chui lên. Ông không có kế nào hơn là ngâm chương Vấn Thiên của Khuất Nguyên để hỏi trời cao.
Trong hai bài U Cư Nguyễn Du ghi lại cảnh sống của ông trong nhưng ngày di cư ở nhờ nơi quê vợ ông. Ông buồn v́ thấy ḿnh bơ vơ nơi xứ lạ quê người. Đồng thời dường như ông đi ẩn trốn, phải giả khờ dại, giữ ǵn lời ăn tiếng nói, pḥng thân, tránh né, nghi kỵ mọi ngụi. Nhưng trong cảnh cùng cực đó, ông vẫn thấy ḿnh thành tri kỷ với Vương Xán, thời cuối nhà Hán, người đất Lạc Dương phiêu dạt sang đất Kinh Châu, tác giả bài Đăng Lâu Phú .
Hai bài Mạn Hứng là những bài Nguyễn Du nói với chính ông, mà người đọc dường như thấy đó là một bài ông tự cười chính ông, hay đúng hơn là ông nghiêm khắc tự xét chính ông. Ông buồn v́ trong cảnh ăn nhờ nơi băi biển bờ sông, mà vẫn c̣n vương vấn giấc mơ gác vàng, đầu đă bạc mà chưa thoát khỏi nẻo đường công danh, khiến ông thẹn với người hàng xóm vui với cảnh xe nhỏ ngựa gầy. Trong bài thứ hai, ông cho hay là hiện đang sống trong cảnh chân không bén rễ mà ông chỉ muốn vui vói văn nghiệp, nhưng cũng có đôi lúc nh́n tóc trắng trên đầu, ông lại muốn đi t́m yên tĩnh trong lẽ Đạo.
Sang xuân, ông c̣n đang bị bệnh, nh́n ánh trăng ông nhớ về xóm cũ bên sông Lam, nơi quê hương của ông mà thấy ḷng ông băng giá. Đó là chủ đề của bài Xuân Dạ. Ư muốn về với Đạo, như ông viết trong bài Sơn Thôn là được bước ra khỏi ṿng phù thế, để sống tại một làng nhỏ miền núi, cách biệt hẳn với xă hội bên ngoài, xóm nhỏ như mô tả trong áng thơ Đào Nguyên Kư của Đào Tiềm 45 mô tả một nhóm người trốn bạo chúa vào ẩn náu trong núi.
Ư muốn trở về với Đạo dường như đến với Nguyễn Du sau khoảng mười tuần ông bị quan quân nhà Tây Sơn bắt giam trên đường ông vào nam tính truyện theo chúa Nguyễn rồi ông được tha và phải quay về quê nhà. Bắt đầu là câu thứ sáu trong bài Thôn Dạ:


障 消 時 覺 夙 心 空
Chướng tiêu thời giác túc tâm không


nghĩa là khi nghiệm chướng tiêu tan là lúc chữ tâm cũng là chữ không. Câu thơ đậm mầu thiền này cho thấy Nguyễn Du từ lâu đă quay về đọc sách tôn giáo để t́m sự nâng đỡ tinh thần. Trong câu thứ tám lần đầu tiên chữ 笑, tiếu, nghĩa là cười xuất hiện trong thơ Nguyễn Du.
Mầu Thiền c̣n đậm nét trong thơ Nguyên Du trong bài Đạo Ư. Ông dùng tới chữ tâm và tĩnh tâm của thiền học làm thi liệu. Ông mô tả tâm ông yên tĩnh và thấm nhuần Phật pháp như bóng trăng trong nước lặng ḷng giếng. Niềm tĩnh lặng đó, dầu có bị bàn tay người khấy động rối chỉ chốc lát lại tĩnh lặng.
Dường như Nguyễn Du không chỉ riêng đọc sách thiền, mà ông c̣n đọc cả sách Đạo Giáo.


Câu thứ tám bài bài Mộ Xuân Mạn Hứng ông viết:


何 如 及 早 學 神 仙
Hà như cập tảo học thần tiên


nghĩa là sao chẳng cấp thời học đạo thần tiên.
Bước đường đ́ t́m yên tĩnh qua sách Thiền Lăo dường như, không hơn tác dụng của rượu, chỉ có thể giúp cho Nguyễn Du khuây khỏa trong chốc lát, hoạ ra chỉ có thơ văn giúp ông khây khỏa như ông viết trong bài Mạn Hứng.

三 蘭 囪 下 吟 聲 絕
Tam lan song hạ ngâm thanh tuyệt
點 點 精 神 遊 太 初
Điểm điểm tinh thần du thái sơ


nghĩa là ba gị lan bên song cửa, tiếng ngâm dứt, tinh thần bay bổng tới cơi thái sơ.

 

4


Cũng trong mùa xuân đó, Nguyễn Du giă biệt với một người bạn mà ông ghi lại trong bài Lưu Biệt Nguyễn Đại Lang. Điểm đáng ghi nhận trong bài là câu thứ ba:


亂 世 男 兒 羞 對 劍
Loạn thế nam nhi tu đối kiếm


dịch là:


Ngắm gươm thời loạn thẹn ḿnh


dường như thanh gươm nhắc tới thời gian ngắn ngủi Nguyễn Du tập ấm chức quan vơ, mà nay ông nh́n thấy thanh gươm không khỏi tự thẹn vói ḿnh. Đây là lần thứ nhất ông nói tới thanh gươm của ông. Vắng bạn tri kỷ, Nguyễn Du trở về với mảnh trăng ngà, người bạn tri kỷ trung thành, không bao giờ dời bỏ ông, như ông đă viết trong bài Quỳnh Hải Nguyên Tiêu mở đầu Thanh Hiên Thi Tập.
Trong bài Tống Nguyễn Hữu Sĩ Nam Quy, câu thứ hai có ba chữ khinh vơng la, nghĩa là coi thường màng lưới. Giới nghiên cứu cho ba chữ đó là h́nh ảnh mô tả việc vua Gia Long bắt đầu áp dụng chính sách chiêu dụ nhân sĩ Bắc Hà. Tiếp theo là việc đất nuớc nay đổi chủ, ông dửng dưng đứng ngoài, đồng thời ông buồn v́ cảm thấy ḿnh vô dụng. Ông khiếp sợ việc chui vào lồng công danh, h́nh ảnh của con đường ra làm quan, và nghĩ đến truyện ẩn thân mà ông h́nh dung bằng h́nh ảnh con rắn ḅ về hang. Ở trong cảnh đó ông nhàn tản với gió mát trăng thanh nơi quê nhà.
Rồi trời nơi ông tản cư vào thu. Ông ngao ngán ngồi đếm lại những ngày đẹp trời trong năm, viết thành bài Thu Chí cho thấy là cảnh ăn nhờ ở đậu đă dài nhiều năm, lá vàng rơi, gió heo may rung rèm cửa, tiếng ốc tàn đêm, mái tóc sớm bạc, đó là cảnh u uất không lối thoát của ông. Cảnh thu c̣n là hứng thơ của ông trong hai bài Thu Dạ, trong đó ông ghi lại cảnh ông nằm bệnh bên bờ sông Tuế, và cảnh ông nghe tiếng chầy đập vải mà lo cho gia đ́nh ông thiếu áo mặc rét.


Sang bài Tạp Ngâm, Nguyễn Du tă rơ nỗi buồn của ông trong cảnh tản cư sống nhờ. Ông cố quên đi mọi truyện thực tế nhỏ mọn mà ông gọi chung lả truyện ruồi xanh; cảnh sống chật hẹp làm ông thấy như đang sống trong tổ mối. Lần thứ hai ông nhắc tới thanh gươm của ông:


寥 落 壯 心 虛 短 劍


nghĩa là:


Tráng tâm cùn nhụt thẹn gươm


Khác với lần thứ nhất, ông thẹn với thanh gươm v́ thời loạn cầm thanh gươm trong tay mà vô phương hành động, lần này ông thẹn với gươm v́ tráng tâm của ông dường đă lụi tàn.
Lần thứ ba Nguyễn Du dùng h́nh ảnh thanh gươm của ông làm thi liệu là lần ông viết bài Ninh Công Thành nhân một buổi đi qua bức thành cổ này. Thành Ông Ninh do trấn thủ Nghệ An Trịnh Toàn, em của chúa Trịnh Tráng xây cất để chống quân chúa Nguyễn. Ngày Nguyễn Du qua đó, cây cối mọc um tùn cả trên thành cả dưới chân thành, tuy c̣n dấu vết nơi giếng bếp, chỗ trú quân, nhưng nay, thẩy chỉ là cảnh phù du của cuộc sống. Trịnh Toàn sau đó bị cháu là Trịnh Tạc lên nối ngôi chúa nghi ky, gọi về kinh hạ ngục và giết chết. Trước bi cảnh đó, ông nh́n mây trắng vỗ gươm mà ca. Nguyễn Du không cho biết nội dung bài thơ ông ngâm bên thành ông Ninh, nhưng đă có lần ông thẹn với thanh gươm v́ nỗi tráng tâm đă lụi tàn, th́ người đọc khó có thể h́nh dung ra lời thơ ông ngâm bên thành Ông Ninh là lời một bản hùng ca của người có chí cầm gương lập công danh.


Lần thứ tư Nguyễn Du dùng h́nh ảnh thanh gươm là lần ông viết câu thứ sáu bài Kư Hữu:


腰 間 長 劍 掛 秋 風
Yêu gian trường kiếm quải thu phong

dịch là:

Gió thu lồng lộng bên lưng kiếm dài


Thanh kiếm dài không c̣n nằm trong tay Nguyễn Du mà chuyển biến thành thanh gươm giắt bên lưng một người bạn c̣n đứng vững trước đầu gió.
Chuyển biến của h́nh ảnh thanh gươm dùng làm thi liệu trong bốn bài thơ trên đây của Nguyễn Du, phải chăng là chuyển biến của ư muốn muốn cầm gươm đi lập công danh của ông, mỗi ngày một thêm mờ nhạt?


Trong bài Tự Thán kỳ nhị ông có câu:


書 劍 無 成 生 計 促
Thư kiếm vô thành sinh kế xúc


nghĩa xuôi là văn vơ đều không thành, sinh kế bức bách, cho thấy tác giả nh́n rơ, hay tự đánh giá thấp thực tài của ḿnh: cả văn cả vơ đều chưa thành, trong khi việc kiếm sống mỗi ngày một thêm bức bách. Phải chăng v́ vậy sự chuyển biến của h́nh ảnh thanh gươm trong thơ của ông có thể coi là biểu thị ư muốn buông bỏ công danh của ông? Đằng khác ư muốn buông bỏ công danh dường như mỗi ngày một rơ rệt hơn trong thơ của ông. Công danh chỉ là đám mây nổi như ông kể lại ngày cha ông vể hưu với hai chiếc thuyển hải mă đưa về giang đ́nh bên sông Lam, mà nay bên giang đ́nh chỉ c̣n lau sậy trên băi hoang. Đó là h́nh ảnh đổ nát của bức thành ông Ninh với cây cối gai góc mọc um tùm.


Người đọc ông không khỏi nhớ tới một tác giả người Pháp, Alfred de Musset, ngày mới mười sáu tuổi, hằng say mê bộ quân phục đỏ thắm của chiến binh pháo thủ. Sau khi đeo gù lên vai, chàng trai tự nhủ: “Ce n’est que celà!”, có thế thôi à!, rồi từ đó Alfred de Musset nhắc lại những chữ này mỗi lần ông sắp sửa thành tựu bất cứ một truyện ǵ. Lúc mọi người c̣n đang hăng say xây mộng, Alfred de Musset đă biết đó chỉ là ảo tưởng, cũng như khi mọi người chạy theo danh lợi, Nguyễn Du đă biết là danh lợi chỉ là cái lồng cầm nhốt con người.


5


Cũng trong nhưng năm tháng tản cư này, Nguyễn Du buồn khổ v́ nhớ quê hương. Ông không nhớ tới những ngày vàng son của gia đ́nh ông. Ông nhớ tới những h́nh ảnh rất thông thuờng như một ánh trăng trong, một bến đ̣ đông ngày cuối năm như ông viết lại trong bài Xuân Dạ, ông nhớ bạn xưa, nhớ anh em ông đă lâu chưa có thư. Ḷng nhớ quê đeo đẳng ông suốt trong ba tập thơ: ngày ông vào kinh làm quan tại triều, cũng như ngày ông vào Quảng B́nh làm quan tại trấn, hay sau đó đi sứ sang Trung Quốc. Chỗ nào dường cũng như chỗ nào, tất cả đều xa lạ vói ông, người đọc dường thấy như ông thiếu yên ổn tại mọi chốn khác với quê hương của ông. H́nh ảnh quê hương mà Nguyễn Du đặc biệt nhớ tới, trong lúc xa quê là thú đi săn. Ông lấy biệt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ, nghĩa là người thợ săn Ngàn Hống. Với cái thú đi săn, như ông viết trong bài Liệp, ông dành mũ áo cân đại cho người, ông t́m vui với lũ hươu nai trong rặng Hồng Lĩnh, để khuây khỏa chứ không để kiếm lợi, ông ưa thích mùi cỏ non, ông lắng nghe tiếng chó sủa bên kia núi. Ông vui với Đạo, xe đưa lọng đón ông kệ người. H́nh ảnh Hồng Sơn Liệp Hộ đi săn trong bài Liệp, gợi cho người đọc h́nh ảnh của người đàn ông đi câu mà Văn Vương gặp ở đất Tang, ‘người đi câu, mà câu không phải là câu, không phải là kẻ cầm cần câu mà có câu. Thường câu chơi mà thôi’ 46, hay h́nh ảnh của Trang Tử ngồi câu bên bờ sông Bộc: ‘muốn sống để lê đưôi trong bùn mà không muốn chết để được thờ phụng’ như con rùa thần 47.


Trong mạch suy nghĩ trên đây, Hồng Sơn Liệp Hộ có bài Hành Lạc Từ I. Trong bài này Nguyện Du nói tới cái thú nhấp rượu với thịt chó. Nai quê có tiết thơm thịt béo, rượu tăm uống cả trăm chén không màng truyện tỉnh say. Đó là cái thú ở cơi đời này. Cái thú Sống ở đời ăn miếng dồi chó Chết xuống âm phủ biết có hay không.


Ông dẫn theo Nam Hoa Kinh của Trang Tử là Bá Di, Thúc Tề chết đói trên núi Thái Dương v́ chữ danh nào có hơn ǵ Đạo Chích và Trang Cược một tên cướp của, một tên cướp nước của người, để cùng chết v́ lợi. Con người sống lâu nhất cũng chỉ trong ngoài tám mươi tuổi, việc chi cần tính truyên đường dài lưu danh muôn thủa. Bữa nay c̣n thịt cầy, c̣n be rượu, c̣n bữa say. Mất c̣n trước mắt đó mà nào có ai hay. Việc danh lợi là việc ông chẳng màng tới.
Tiếp theo ư bài Hành Lạc Từ I, Nguyễn Du nh́n thấy mọi sự quanh ông tất cả đều vô thường. Cuộc sống mau tàn như cánh hoa đào, như ông viết trong bài Hành Lạc đệ nhị thủ.
Trước cảnh vô thường đó, Nguyễn Du mời mọi người, hay chính là tự cho phép ḿnh t́m vui trong chén rượu, trong tiếng đàn tiếng ca của người kỹ nữ. Ư đó không có ǵ mới lạ, v́ từ đời nhà Đường Lư Bạch cũng mời bạn chung vui với chén rượu tiếng ca. Nguyễn Du đưa ra lư do, một lư do mà ông suy nghĩ rất nhiều đó là danh lợi có ích ǵ cho đời sống. Ông đưa thí dụ điển h́nh là Vương Nhung, suốt một đời dùng đủ mọi cách lo làm giầu lúc chết bao nhiêu của cải để lại trần gian đủ bấy nhiêu. Rồi tới Phùng Đạo người thời Ngũ Đại, làm quan lớn suốt bốn
triều Đường, Tấn, Hán, Chu, thờ mươi ông vua, đỉnh chung nhất đời rồi không vẫn là không.


Giầu sang âu cũng chỉ như đám mây nổi. Ai ai rồi cũng sẽ phải chết. Xin mời bạn uống thêm chén rượu này. Một ngày nữa đang tàn.
Trái với phần đông thi nhân thường lấy rượu tiêu sầu, trong cả ba tập thơ Việt Âm, Nguyễn Du chỉ có chừng năm sáu bài nói tới rượu. Dường như ông t́m khuây khỏa cùng với những bạn tri kỷ của ông qua những bức thư ông viết gửi bạn, tỷ như hai bài Kư Hữu .Trong bài thứ nhất, số 36 có câu:


一 天 明 月 交 情 在
Nhất thiên minh nguyệt giao t́nh tại


nghĩa là t́nh bạn chúng ta như trăng sáng đầy trời. Rồi trong bài Kư Hữu thứ hai, số 51, có câu


鴻 山 山 月 一 侖 明
Hồng Sơn sơn nguyệt nhất luân minh


Nghĩa là Ngàn Hống có một vừng trăng núi sáng tỏ. Người đọc thấy rơ ư thơ của tác giả lấy h́nh ảnh vừng trăng sáng tiêu biểu mối giao t́nh của ông với bạn. Ư thơ này nhắc người đọc nhớ tới một câu trong bài thơ Lư Bạch viết tiễn Vương Xương Linh bị giáng chức đổi đi Long Tiêu:

我 寄 愁 心 與 明 月
Ngă kư sầu tâm dữ minh nguyệt

nghĩa là:

Xin gửi theo ánh trăng mối buồn của tôi


Người bạn trong bài Kư Hữu I này hẳn không những là một tri kỷ với Nguyễn Du, mà c̣n là người đồng chí với ông, coi việc đời như mây nổi, bên lưng vẫn c̣n đeo một thanh kiếm dài.
Người tri kỷ với Nguyên Du trong bài Kư Hữu mang số 61 là một người ở kinh đô. Giới nghiên cứu cho rằng người đó ở Thăng Long. Nhưng dường không ổn, v́ câu thứ tư Nguyễn Du viết:


一 州 何 事 小 功 名
Nhất châu hà sự tiểu công danh


nghĩa là đáng ǵ một chút công danh nhỏ ở một châu, chứng tỏ là Nguyễn Du lúc đó đă ra  làm quan với triều nhà Nguyễn, và kinh đô lúc đó là ở Phú Xuân.
Điều đáng lưu ư là Nguyễn Du nói rơ tâm sự của ông. Tự cho ḿnh không có cốt cách làm quan, chưa chết th́ c̣n muốn làm bạn cùng hươu nai. Ông thèm được thảnh thơi nằm bên song bắc, b́nh yên vô sự đề tâm thần vào đến cơi hư vô.
Cái thú làm bạn với hươu nai của Nguyễn Du làm người đọc nhớ tới h́nh ảnh Jean Jacques Rousseau (1712-1788) một văn nhân cũng giầu sầu cảm như Nguyễn Du, lấy thiên nhiên làm nguồn an ủi suốt một đời đầy tư duy quanh cái khổ làm người.
Trở lại ba tập thơ Việt Âm, người đọc thấy rơ là Nguyễn Du không có nhiều tri kỷ. Ông đi t́m tri kỷ trong sách vở, làm bạn với người đời trước, một việc mà Mạnh Tử gọi là thượng hữu 48. Trong việc làm bạn với người xưa này, ông đă ghi lại trong bài Độc Tiểu Thanh Kư, mô tả cảm tưởng của ông khi đọc truyện và thương cảm người tài cao mệnh mỏng. Bài thơ kết bằng hai câu:


不 知 三 百 餘 年 後
Bất tri tam bách dư niên hậu
天 下 何 人 泣 素 如
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như


Hai câu trích dẫn trên đây, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, trong lời tựa quyển Truyện Kiều, cho hay đó là lời Nguyễn Du khẩu chiếm khi sắp mất.
Toàn thể bài thơ đă là đề tài cho nhiều bài tranh luận. Điểm tranh luận là câu hỏi Nguyễn Du sáng tác bài thơ này trong thời điểm nào. Có phe nói là ông sáng tác trong chuyến đi sứ lúc qua mộ Tiểu Thanh bên núi Cô Sơn. Nhưng trong bản chữ nho Bắc Hành Tạp Lục không chép bài này. Có phe lại cho rằng Nguyễn Du nhân đọc truyện Tiểu Thanh Kư mà viết nên bài thơ này. Có người lại vin vào luật thơ, để thấy chữ tri, đứng thứ hai trong câu thứ 7, là một chữ vần bằng không niêm với chữ vận, vần trắc, đứng thứ hai trong câu thứ 6, và kết luận là bài thơ thất niêm, hai câu trích dẫn trên đây là do có người đă ghép vào sáu câu trên của bài thơ.
Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim lẩy câu Kiều số 106, trong lời Thuư Vân trách Thúy Kiều:


Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa


rồi viết tiếp sau hai câu khẩu chiếm trích dẫn trên đây:
Vậy nay ta đọc Truyện Kiều, mà có “khóc người đời xưa” th́ những người thức giả hẳn không ai cho là “khéo dư nước mắt nữa”.
Trong mạch thơ của bài Độc Tiểu Thanh Kư, Nguyên Du đọc thơ Tiểu Thanh Kư, rớt nước mắt thương nàng, như tiếc thương một người tri kỷ, rồi ông tự hỏi ba trăm năm nữa sẽ có bao nhiêu người cũng khóc thương ông, như khóc thương người tri kỷ, tựa như lúc này ông khóc thương nàng Tiểu Thanh. Phải chăng đó cũng là một nét điển h́nh của những người giầu sầu cảm, luôn luôn thiếu bạn, luôn luôn đi t́m người tri kỷ?


6


Kể từ bài Kư Hữu mang số 61, cho tới hết Thanh Hiên Thi Tập chép mười bảy bài thơ Nguyễn Du viết sau khi ra làm quan với triều đ́nh nhà Nguyễn. Việc ra làm quan này dường như ảnh hưởng nhiều tới ư thơ của Nguyễn Du. Theo niên biểu Nguyễn Du ông nhận một chức vụ khiêm tốn: Tri Huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam. Trong bài Kư Hữu mang số 61, ông mô tả chức vụ này bằng câu:


一 州 何 事 小 名
Nhất châu hà sự tiểu công danh nghĩa là chút công danh nhỏ ở một châu có đáng kể chi. Nhưng thực tế chút công danh nhỏ này chút bỏ gánh lo cho truyện sinh sống của gia đ́nh đè nặng trên vai ông trong hơn mười năm tản cư hồi cư vừa qua. Đồng thời cũng cho phép ông đi du ngoạn đề vịnh đó đây.
Người đọc thơ như thấy mừng cho Nguyễn Du và chợt nhớ tới một cảnh tương tư của nhà thơ Đường Bạch Cư Dị ghi lại trong bài ngũ ngôn sau đây:


中 隱49
Trung Ẩn


大 隱 住 朝 巿
Đại ẩn trụ triều thị
小 隱 入 丘 樊
Tiểu ẩn nhập khâu phàn
丘 樊 太 冷 落
Khâu phàn thái lănh lạc
朝 巿 太 囂 諠
Triều thị thái hiêu huyên
不 如 作 中 隱

5 Bất như tác trung ẩn
隱 在 留 司 官
Ẩn tại lưu ty quan
似 出 復 似 處
Tự xuất phục tự xử
非 忙 亦 非 閑
Phi mang diệc phi nhàn
不 勞 心 與 力
Bất lao tâm dữ lục
又 免 飢 與 寒

10 Hựu miễn cơ dữ hàn
終 歲 無 公 事
Chung tuế vô công sự
隨 月 有 俸 錢
Tùy nguyệt hữu bổng tiền
君 若 好 登 臨
Quân nhược hảo đăng lâm
城 南 有 秋 山
Thành nam hữu Thu San
君 若 愛 遊 蕩

15 Quân nhuọc ái du đăng
城 東 有 春 園
Thành đông hữu Xuân Viên
君 若 欲 一 醉
Quân nhược dục nhất tuư
時 出 赴 賓 筵
Th́ xuất phó tân diên
洛 中 多 君 子
Lạc trung đa quân tử
可 以 恣 歡 言

20 Khả dĩ tứ hoan ngôn
君 若 欲 高 臥
Quân nhưọc dục cao ngọa
但 自 深 奄 關
Đăn tự thâm yểm quan
亦 無 車 馬 客
Diệc vô xa mă khách
造 次 到 門 前
Tạo thứ đáo môn tiền
人 生 處 一 世

25 Nhân sinh xử nhất thế
其 道 難 兩 全
Kỳ đạo nan lưỡng toàn
賤 即 若 涑 餒
Tiện tức nhược thúc nỗi
貴 則 多 憂 患
Quư tắc đa ưu hoạn
唯 此 中 隱 士
Duy thử trung ẩn sĩ
致 身 吉 且 安

30 Trí thân cát thả an
窮 通 與 豐 葯
Cùng thông dữ phong ước
正 在 四 者 間
Chính tại tứ giả gian.

dịch là:

Trung Ẩn


Đại ẩn ở triều đô
Tiểu ẩn vào non ngàn
Non ngàn quá hẻo lánh
Triều đô quá náo huyên
5 Chẳng như làm trung ần
Ẩn náu tại ty quan
Vừa xuất lại vừa xử
Chẳng bận cũng chẳng nhàn
Chẳng lao tâm lao lực
10 Lại thoát cảnh cơ hàn
Suốt năm không công sự
Tháng tháng có bổng tiền
Bằng hứng muốn trèo non
Thành nam có Thu San

15Bằng hứng muốn du ngoạn
Thành Đông có Xuân Viên
Bằng hứng say túy lúy
Chằng thiếu dịp cỗ bàn
Lạc Đô nhiều quân tử

20Nói năng khá phóng túng
Bằng hứng muốn nghỉ ngơi
Cửa ngoài cài lỏng then
Ngựa xe khách liền văn
Ngừng trước cửa ghé thăm
25Sống trong cơi thế nhân
Đôi bề khó vẹn toàn

Sợ nghèo khổ đói rách
Lo giầu sang hoạn nạn
Duy có trung ần sĩ

30Được an lạc tâm thân
Cùng thông và thiếu dư
Đứng chính giữa bốn bên.


Bạch Cư Dị (772-846) tự là Lạc Thiên, hiệu là Hương Sơn Cư Sĩ, là một nhà thơ đời Đường, nổi tiếng ở Việt Nam với áng thơ dài Tỳ Bà Hành đă được nhiều người dịch sang tiếng Việt, và ông c̣n vang danh trên khắp thế giới với bài Trường Hận Ca. Ông đậu Tiến Sĩ năm Trinh Nguyên (800) được bỗ giữ chức Tả Thập Di. Năm Nguyên Ḥa thứ X (815) do vụ hạch tội việc tể tướng Vũ Nguyên Hành bị hành thích và ngự sử Bùi Độ bị hành hung, ông bị nhóm quyền thần kết tội đầy ra làm Tư Mă Giang Châu, sau đổi làm thứ sử Hàng Châu rồi thứ sử Tô Châu, cuối cùng đươc triệu về kinh làm Thái Tử Thiếu Phó năm 829. Năm Hội Xương thứ hai (842), ông về hưu với hàm thượng thư bộ H́nh, rồi mất tại Hương Sơn, Lạc Dương.


Giới nghiên cứu cho biết là Bạch Cư Di viết bài Trung Ẫn trên đây trong thời gian ông lănh chúc Thái Tử Thái Phó, biệt phái về Lạc Dương. Thái Tử không hề tới Lạc Dương, thế nên ông dường như sống trong cảnh ‘bán hưu trí’. Theo ông, làm quan ở triều đ́nh là đại ẩn không tránh được cảnh huyên náo; vào non sâu tu tiên là tiểu ẩn phải sống trong cảnh lạnh lẽo.


Trung ẩn là giữ một chúc quan nhỏ ở ngoài trấn, như vậy là vừa xuất lại vùa xử, việc quan chẳng bận chẳng nhàn, chẳng phải lao tâm lao lực, suốt năm không phải gánh vác việc nặng, tháng tháng vẫn có lương bổng đều đều, dể bề đi tham quan nơi danh lam thắng cảnh; cỗ bàn có người mời mọc say sưa; muốn nghỉ muốn làm tùy tiện; luôn luôn được sống trong cảnh tâm thân an lạc; đứng giữa cùng thông dư thiếu.


Trong nếp sống trung ẩn đó, Bạch Cư Dị đă để lại cho hậu thế truyền tụng cả hàng ngàn bài thơ. Chủ trương xử trong khi xuất, xuất trong khi xử của ông đề cao trong bài Trung Ẩn này là mẫu mực cho giới nhà nho toàn cơi Đông Á đi t́m an lạc trông cuộc sống đeo đuổi bốn chữ tu tề trị b́nh của đạo Khổng.


Nếp sống trung ẩn không được người đời ca tụng như nếp sống của những vị anh hùng hào kiệt. Nhưng một đời được mấy anh hùng? là câu tục ngữ quen biết. Sống cuộc sống b́nh thường cho đáng sống cũng không phải là dễ. Cũng như sống đời trung ẩn cũng không phải là dể. Muốn sống đời sống trung ẩn phải biết buông bỏ danh, buông bỏ lợi, và buông bỏ quyền, tóm lại buông bỏ tất cả những cái mà người đời đeo đuổi và gọi ngắn là thành công.


Nhưng con người chạy theo lợi, theo danh và theo quyền chỉ v́ lo sợ thất bại, lo sợ nghèo khổ, lo sợ không được ai biết đến ḿnh, ba mối lo sợ đó tạo nên nỗi khổ làm người. Muốn đưọc sống nếp sống trung ẩn Nguyễn Du đă phải dầy công tự thuyết phục ḿnh, như thấy rơ trong hai tập thơ Việt Âm kế tiếp.


Trở lại thơ Việt Âm Nguyễn Du, từ ngày Nguyển Du ra làm quan với triều nhà Nguyễn, từ ngày ông bắt đầu cuộc sống trung ẩn, mối buồn của ông có tên mới, đó là mối buồn nhớ quê.
Trước đó, mối buồn của ông là những đêm mất ngủ, là sức khỏe suy giảm như một cái cây bị trốc rễ mang trồng sang một miền đất lạ; mối buồn ch́m trong cảnh đổi mùa, với lá đỏ mùa thu với sương gió giá buốt mùa đông.
Vượt ḍng sông Lam ra bắc làm quan với triều nhà Nguyễn, Nguyễn Du thiệt sự xa quê, thiệt sự dứt bỏ với quá khứ. Đó là những mất mát của ông. Nỗi buồn xa quê dường như mang mầu tang tóc, tuy không có người thân nào nằm xuống, tuy không có một nấm mồ mới, nhưng có sự đứt đoạn với quê nhà với nếp sống quen thuộc.


Trong bài Kư Hữu mang số 61, ông tự coi như ông đă đánh mất chữ chữ phác, 璞, một chữ quan trọng trong sách Đạo Đức Kinh của Lăo Tử. Ông vẫn c̣n tự hứa là chưa chết th́ c̣n có ngày về Ngàn Hống vui với bầy hươu nai của ông. Ngồi ở thuỷ các bên sông La Phù mà ông vẫn mơ về Ngàn Hống, nh́n trăng non sông La Phù mới mọc mà tưởng tới trăng núi Hồng.


Trong những bài Ngẫu Hứng, ông không c̣n viết về nhưng vọng tưởng tương lai mà chỉ vẫn nhớ tới bầy hươu nai cùng những đàn chim nhạn Hồng Lĩnh. Buổi chiều xuân, ông tiếc một ngày xuân đă tàn, mà thấy danh lợi như mây nổi, tiếc sao chẳng sớm học tu tiên. Cảnh chiều
bên bờ sông Thanh Quyết, xanh biếc mầu xuân, chỉ làm ông thêm nhớ nhà mà lúc đó ông không biết quê ông ở phương nào. Đứng bên bờ sông Đồng Lung trước cảnh tĩnh lặng ông ngao ngán không biết bao giờ cho hết cái khổ làm người. Qua tháng cảnh Núi Thầy, ông nhớ ước vọng xưa, nh́n xuống tấm áo lấm bụi đường ông buồn v́ đám vượn hạc bạn với ông trước kia giờ củng khó nhận ra được ông. Cảnh bên đường Lạng Sơn có hang mây có suối nước, có chốn ần cư của sơn tăng, nhắc ông thấy cái già đang đến với ông, chưa biết đến bao giờ mới được nghỉ hưu, để thấy ông lăo đồng quê chưa hề đọc sách là con người sung sướng.


Đi qua động Nhị Thanh, có điện thờ Phật, ông dường chợt nhớ tới chữ vô thường mà thương cho mọi truyện đổi thay đang tiếp diễn trước mắt ông.


Cũng v́ bước vào ṿng trung ẩn, Nguyễn Du thêm một mối lo mới. Đó là mối tương quan với các bạn đồng liêu. Nghỉ đêm tại một quán khách bên đường Lạng Sơn, sáng ngày nh́n ra đồi hoa mai mà ông chán nản v́ ḷng bon chen ghen ghét v́ lợi danh. Ông gọi hạng người này là Khổng Tước Vũ, tức con công múa hay, nhưng dấu mật độc trong ḷng. Riêng ông, vốn mê sách hơn mê hoa, ông vẫn trước sau chỉ muốn làm con bướm bỏ sác ép trong tập sách.


7


Nam Trung Tạp Ngâm bắt đầu bằng bài Phượng Hoàng Lộ Thượng Tảo Hành. Trên đường vào kinh đô Phú Xuân, Nguyễn Du buồn v́ sức yếu, nhưng được đền bù bằng một đêm gặp gỡ một người thợ củi, trong một quán trọ. Dầu không được mọi điều đồng tâm nhưng t́nh cảm giữa hai người như nồng ấm.
Vào tới kinh đô, cuộc sống của Nguyễn Du như đổi khác: Ông phải chấm dứt nếp sống trung ẩn và bắc đầu cuộc sống đại ẩn huyên náo ở kinh đô. Biến chuyển trong nếp sống Nguyễn Du trong vụ thuyên chuyển từ một phủ lỵ Bắc Hà vào kinh thành Phú Xuân làm người đọc nhớ tới vụ di chuyển chỗ ở từ bờ hồ Leman về Paris của Jean Jacques Rousseau.
Trong cuốn Les Confessions, livre X, Jean Jaques Rousseau tư coi ḿnh như ‘seul, isolé, sans appui, sans famille, ne se tenant qu’à sẽs pricipes et à ses devoir’ 50 Ông viết thêm trong cuốn Les Dialogues: ‘Pour un homme sensible, sans ambition et sans vanité, il est moins cruel et moins difficile de vivre seul dans un désert que seul parmi ses semblables.’ 51

 

Trong ba bài Ngẫu Thư Công Quán Bích Nguyễn Du viết và dán lên tường nhà Công Quán, ông cho biết trong bài thứ nhất, bởi chức vụ c̣n nhỏ (hàm ngũ phẩm) lại không có gia đ́nh đi theo nên ông chỉ được cấp phát một gian công quán; buổi sáng ông chỉ ăn một lưng cơm, chiều tắm chỉ có một bồn nước nhỏ, khách khứa thăm viếng không có ai, mỹ nhân th́ tường dầy vách cao ngăn cách, tiếng cuốc vào hè làm ông thêm nhớ quê hương. Bài thứ hai cho biết là đêm dài ông nằng nghe mưa rơi chăn đơn gối chiếc lạnh lùng, ông nhó tới hoa đào ông nhớ tới cả d́ gió. Bài thứ ba cho hay trong cảnh nhớ quê ông thấy vinh hoa chỉ là hảo huyền, công thành là kết quả của g̣ xương trắng. Cái hẹn ḥ với gió trăng mới là cái duyên thắm thiết dầu uống suối ở hang cũng chảng từ. Giấc mộng xua ngày nay chẳng c̣n, lại c̣n e sợ người ta hỏi tới chuyện cánh lông mất c̣n.


Trong cảnh sống đại ẩn huyên náo đó cũng có nhiều thú vui mới tới với Nguyễn Du như ông ghi lại trong năm bài tứ tuyệt dưới cùng một đề mục: Mộng ĐắcThải Liên.


Trong văn học Trung Hoa, Thải Liên Khúc là một ḍng thơ đặc biệt. Lư Bạch 52 cũng viết 採 蓮 曲, Thải Liên Khúc và ghi chú như sau:


採 蓮 曲 起 於 梁 武 帝 [...] 父 子 , 後 世 多 擬 作.
Thải Liên Khúc khởi ư Lương Vũ Đế [...] phụ tử, hậu thề đa nghĩ tác.


nghĩa là: Thải Liên Khúc, khởi từ đời cha con Lương Vũ Đế, đời sau nhiều người bắc chước sáng tác. Nhà thơ này viết câu thứ năm bài Thải Liên Khúc như sau:


岸 上 誰 家 遊 冶 郎
Ngạn thượng thuỳ gia du dă lang


chữ du dă hay dă du theo Tự Điển Thiều Chữu nghĩa là dắt con hát đi chơi. Thế nên, đọc năm bài Đắc Mộng Thải Liên của Nguyễn Du, người đọc liên tưởng tới tập Hát Phường Vải bằng chữ nôm của ông.
Phú Xuân vào thu, hứng thơ bài Thu Chí của Nguyễn Du là mối buồn xa quê, cộng thêm mối buồn lo an ninh cho bản thân, thương ḿnh ngày ngày phải uốn lưng khom gối, mà thêm nhớ đàn âu trắng trên sông Lam. Bên cạnh nỗi bực bội đó c̣n thêm cảnh ông phải thù tiếp những người chạy theo danh lợi đến không biết ngừng, mà ông chẳng những không ưa mà c̣n coi thương như hạng chó săn, chết cũng chẳng ai thương, đó là điều ông viết trong
bài Điệu Khuyển. Cảnh bon chen ở tại sân rồng lại là cảnh Nguyễn Du mang ra đối với bát canh ngó sen tượng trưng cho cảnh nhàn nơi quê nhà lại là những thi liệu ông dùng trong bài tiễn bạn được về chịu đại tang, và ông lại qua một đêm nữa nằm nghe mưa Phú Xuân.
Tiếng mưa Phú Xuân là tiếng thơ trong nhiều bài thơ Việt Âm của Nguyễn Du. Tiếng mưa Phú Xuân đó gợi cho người đọc tiếng thơ của Paul Verlaine 53:


Il pleure sans raison
Dans ce coeur qui s’écoeure.
Quoi! nulle trahision?
Ce deuil sans raison.
C’est bien la pire peine
De ne savoir pas pourquoi,
Sans amour et sans haine,
Mon coeur a tant de peine.


Trong năm bài tứ tuyệt đặt dưới cùng đề tài Ngẫu Hứng, Nguyễn Du ghi lại năm tâm cảnh nhớ nhà. Trong bài thứ nhất ông ôn lại thú vui săn bắn ờ Ngàn Hống nay dành riêng cho ông bạn tiều phu. Bài thứ hai mô tả một đêm nhớ quê mất ngủ năm chờ trăng lên, nhưng trăng bị lá cây che khuất. Bài thứ ba thi liệu của ông là mấy tầu lá chuối, và màn khói bụi làm thi cảnh mờ mịt như tâm cảnh của ông, như mất cả phương hướng, nh́n cỏ đoán hướng gió th́ cỏ cũng chẳng c̣n. Bài thứ tư cho hay ông c̣n nặng gánh gia đ́nh, v́ quê nhà bị hạn hán, nhà c̣n cả mười miệng ăn, làm ông phải xét lại ư định xin vể hưu. Bài cuối cùng là h́nh ảnh một người từ Thăng Long, hay đúng hơn từ Bắc Hà vào, lẻ loi sợ hăi né tránh mọi người,
khiến người đọc như nh́n thấy h́nh ảnh của Jean Jacques Rousseau ngày mới từ Leman về Paris.


Tiếp theo là bài Ngẫu Đề, trong cảnh đêm thu, có tiếng chầy đạp vải, có tiếng gió lay động tầu lá chuối đầu sân, nghe tin quê ngoài bị hạn hán, mười miệng thiếu ăn, thân ông cững c̣n đang bệnh, nhưng ông vẫn tiếp tục giấc mơ, ông cho hay nội dung giấc mơ mà chỉ tự hỏi là trong đời này có ai không mơ.


8


Ở Phú Xuân bốn năm, Nguyễn Du đưọc thăng trật lên hàng tứ phẩm, và được bổ làm Cai Bạ ở Quảng B́nh. Thế là ông thoát được cảnh đại ần huyên náo. Trên đường ra Quảng B́nh nhậm chức, ông bị bệnh, t́nh cờ ông gặp một người được vua vời vào kinh, một năm sau đă được vua cho về quê ở ngoài bắc. Đó là một cái mừng cho Nguyễn Du với hy vọng cũng sẽ được vua cho về nghỉ hưu. Uớc ao được về hưu là thi tứ của bài Dạ Tọa, tiếp theo là bài Tạng nhân và bài Tái Thứ Nguyên Vận. Lời thơ bài Tái Thứ Nguyên Vận c̣n có nét Thiền và Lăo, nên người đọc thấy như Nguyễn Du dường như muốn t́m về tôn giáo để t́m điểm tựa.


Đời sống trung ẩn ở ngoài trấn dường như làm cho Nguyễn Du thoải mái hơn những ngày ở kinh đô Phú Xuân, ông có th́ giờ đi tản bộ đầu sông, và đó là lúc ông nhận định về hoàn cảnh mới của ông. Bạn bè đồng liêu với ông, tựa như h́nh ảnh đàn chim biển với ông lăo chài, càng ngày càng thân thiện hơn. Với quan trên, bởi không cần quỵ luỵ nên không phiền trách một ai. Riêng ông hết sức cẩn thận trong công vụ. Ông yên ḷng nghĩ tới cái chết; t́nh quê không c̣n day dứt ông, ông yên tâm vui với cảnh thu bên sông trước mắt. Sang bài Ngẫu Đắc ông cho hay là c̣n gặp khó khăn trong công vụ với nha lại dưới quyền, như ông viết trong câu thứ năm bài Ngẫu Đắc:


事 來 徒 隸 皆 驍 我
Sự lai đồ lệ giai kiêu ngă
 

Ông than phiền là tuổi đă cao chữ nghĩa có điều nhớ điều quên. Ông nhớ đến quê nhà nhớ đến cả xóm giềng ngày trước.
Nguyễn Du có thêm th́ giờ thăm những thắng cảnh ở ngoài thành Quảng B́nh. Ông đề thơ tại Pháo Đài, vịnh những con ngựa hoang dưới chân thành, những h́nh ảnh tiêu biểu cho cảnh hết nội chiến của nước nhà.
Ông có thêm ngày rảnh rang đi thăm chùa Thiên Thai, có thêm th́ giờ viết thư thăm hỏi bạn bè. Mùa thu lại về khiến ông nghe rét mướt lùa theo gió, mà chợt thấy ḿnh già, vụng tính khiến c̣n mắc cảnh nổi trôi xa quê. Đó cũng là điều làm ông suy nghĩ nhân một buổi đi chơi núi. Ông tự trách ḿnh xa chân vào hoạn lộ không c̣n được rảnh rang như người thợ củi. Ông đi ngang sông Gianh, con sông ghi vết những năm tháng đất nước chia hai. Rồi qua sông Di, nh́n sang Ḥn Én, chỉ c̣n cách một dẻo Đèo Ngang là về tới quê ông mà như c̣n xa cách dặm ngàn. Qua một số thơ thù tiếp bạn bè: xướng họa cùng Ngô Tứ Nguyên người đất Thanh Oai, đưa tiễn Ngô Như Sơn ra làm hiệp trấn Nghệ An, tập Nam Trung Tạp Ngân chấm dứt bằng hai bài dưới cùng đầu đề Đại Tác Cửu Thú Tư Quy, viết thay người đi thú lâu năm nhớ nhà. Trong bài này, Nguyễn Du gợi lại h́nh ảnh Ban Siêu tướng nhà Đông Hán sau ba mươi năm chinh phục các nước vùng Tây Vực chưa về Trung Nguyên để gủi gắm tâm sự
của riêng ông mong được về hưu qua lời người đi thú than thân.

 

 

 


 

32. Trần Trọng Kim, Truyện Thúy Kiều, sách đă dẫn, tr. XIII.
33. Đào Duy Anh, Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, Nhà xuất bản Văn Học, Hànôi, 1988, tr. 33.

34. Georges Minois Histoir du Mal de Vivre de la mélancolie à la dépression, Édiditions de la Martinière, Paris 2003.
35. Cité par Georges Minois: Ibid. p. 92
36. Cité par Georges Minois, ibid, p. 153.
37. Cité par Georges Minois, ibid. p. 154.
38. Emmanuel Kant, Observations sur le bon sens du beau et du sublime, dans Werke, Berlin, E. Cassier (éd), 1912, t. II, pp. 258s.

39. Cité par Georges Minois, ibid. p. 217.
40. Réné Le Senne, Traité de la Caractérologie Paris, PUF, 1957.
41. Georges Minois, Histoire du Mal de Vivre, Éditions de la Martinière, Paris 2003, p.373-380.

42. Lăo Tử Đạo Đức Kinh, sách đă dẫn, tr.
43. Julia Kristeva, Soleil noir: dépression et melancholie, Paris, Gallimard, 1987, p. 17.

44. Aristote, Problème XXX, 1, Traduction francaise de F. Durand Bogaert et L. Evrard, parue dans R. Klibansky, & Al. Paris, Gallimard, 1989, p. 52.
45. Đào Uyên Minh Thi Tuyển, sách đă dẫn, tr. 136-142

46. Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 330.
47. Trang Tủ Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 274.

48. 孟子, 卷 之 五, 萬 章, 章 句 下, 弟 八 章, 二, 泛 美 圖 書, 香 港 1977, 章 756.

49. 白 居 易 集 , 中 華 書 局 出 版 , 北 京 1979,張 490.

50. Cité par Michel Delon, La voie nouvelle d’un promeneur pas si solitaire, Magazine Littéraire,Hors Série, Octobre-Novembre 2007, p.44
51. Cité par Michel Delon, ibid. p.44
52. 李 白 詩 選, ibid. 張 78.

53. Cité par Georges Minois, ibid, p.298.

54. Cité par Georges Minois, ibid. p. 8.

55. Tư Mă Thiên, Sử Kư, Khuất Nguyên Liệt Truyện, sách đă dẫn, tr. 542-548.

56. Luận Ngữ, Nhan Uyên, chương XXIII, sách đă dẫn, tr. 438-439.

57. Đào Duy Anh, Thơ chũ Hán Nguyễn Du, sách đă dẫn, tr. 33
58. Tư Mă Thiên, Sử Kư, Sách đă dẫn, Nam Việt Úy Đà Liệt Truyện, tr.743 ff.
59. Mạnh Tử, Thiên Lương Huệ Vương, Chương III, trích theo Nghiêm Toản, Lăo Tử Đạo Đức Kinh, tập II, sách đă dân, tr. 245

60. R.L. Wing, The Tao of Power, Doubleday Inc, Gaeden City, New York, 1986, Chp, 61.
61. R. L. Wing, ibid. chp. 8.

62. TrầnTrọng Kim, Việt Nam Sử Lược, II, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu, Saigon 1971, tr.184

63. Georges Minois ibid. p. 7

64. Georges Minois, Histoire du Mal de Vivre, ibid.Chap IX, p. 269-311.

65. Tuồng Đào Tấn, tập I, Đỡ Đẻ, lớp IX, Vũ Đ́nh Liên Biên Dịch, Nhà Xuất Bản Sân Khấu, Sở Văn Hóa Nghĩa B́nh, 1987, tr.151

66. D. T. Suzuki, Thiền Luận, tạp hạ, bản dịch của Tuệ Sĩ, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ,tr. 81.
67. D.T. Suzuky, Ibid. tr. 83.
68. The Saying of Chuang Tzu, James R. Ware chinese text, Confucius Publishing Co, Republic of China, 1959.p. 90.
69. The Saying of Chuang Tzu, ibd. p. 97.

70. 陶 淵 明 詩 選, ibid. 張 136-142.

71. Lăo Tủ Đạo Đức Kinh, bản dịch của Nghiêm Toản, sách đă dẫn, tr. 387.

72. Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam, Univerty of California Press, Berkley, 1983, Appendix M, p. 342-343.
73. Lư Tế Xuyên, Việt Điện U Linh, Văn Học, Hà Nội, 1972, Bản dịch của Trịnh Đ́nh Rư và Đinh Gia Khánh, tr. 43.

74. Trích theo D.T. Suzuky, Thiền Luận Tập thượng, bản dịch của Trúc Thiên, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, trang 233-237.
75. The Saying of Chuang Tzu, James R. Ware, ibid, p. 5

76. James R. Ware, The Saying of Chuang Tzu, ibid. p. 229
77. Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 300

78. James R. Ware, The saying of Chuang Tzu, ibid. p.69.
79. Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 143-147.
80. Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhưọng Tống, sách đă dẫn, tr. 128.
81. Cité par Alain Houziaux, Dix questions simples sur la vie, Albin Michel, Paris 2007, p.229-230.
82. Cité par Alain Houziaux, ibid. p. 231-232. 249

83. Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, Nguyễn Du, Truyện Thúy Kiều, Đại Nam tái bản, tr. X.

 

 

 

 

 

Xem KỲ 18

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

 

www.ninh-hoa.com