www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THƠ VIỆT ÂM
Của Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 14:

 

南 中 雜 吟

Nam Trung Tạp Ngâm

 

Tiếp Kỳ 13

 

 

Ngày Kinh Kha vượt sông Dịch sang Tần, có người bạn là Cao Tiệm Ly thổi sáo tiễn đưa, Kinh Kha hát bài:


風 蕭 蕭 兮 易 水 寒
Phong tiêu tiêu hê Dịch thủy hàn
壯 士 一 去 兮 不 復 還
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn


nghĩa là:

 

Gió se sắt hề nước sông Dịch lạnh
Tráng sĩ một đi hề không trở lại.


Để khích lệ Kinh Kha, đồng thời bảo mật kế hoạch, Điền Quang người tiến cử Kinh Kha với thái tử Đan, tự tử. Để Tần Thủy Hoàng khỏi nghi ngờ, Phàn Ô Kỳ, một vị tướng cũ của nhà Tần, có lỗi với Tần Vương Chính, trốn sang Yên, khảng khái tự tử, cho kinh Kha mượn cái đầu mang nộp vua Tần làm tin. Đi theo Kinh Kha vào triều vua Tần, c̣n có Vũ Dương, một kiếm khách nổi danh đương thời.
Vào tới triều đ́nh nhà Tần, Kinh Kha cầm bản đồ dâng lên vua Tần, vua Tần mở bản đồ, Kinh Kha cầm kiếm ngắn uy hiếp vua Tần. Vua Tần vùng dậy chạy quanh cột tránh né, các quan tay không nhẩy lên điện trên đuổi đánh Kinh Kha. Vua Tần tuốt được gươm, chém chết Kinh Kha.


Kế hoạch không thành, chết uổng ba liệt sĩ: Điền Quang, Phàn Ô Kỳ và Kinh Kha, ngôi vua của Tần Thủy Hoàng không đổ. Nhưng gương sáng của Kinh Kha đă khiến sau này Trần Thắng và Ngô Quảng khởi nghĩa cùng dân chúng chống Tần Thủy Hoàng.


Sứ bộ đi ngang miếu vua Nghiêu, gợi hứng cho Nguyễn Du viết bài:


帝 堯 廟
Đế Nghiêu Miếu


太 虛 一 點 大 觀 之
Thái hư nhất điểm đại quan chi
天 地 無 功 萬 物 資
Thiên địa vô công vạn vật tư
在 日 茅 茨 猶 不 剪
Tại nhật mao tỳ do bất tiễn
後 身 香 火 更 何 為
Hậu thân hương hỏa cánh hà vi
一 中 心 法 開 群 帝
Nhất trung tâm pháp khai quần đế
千 古 崇 祠 對 九 疑
Thiên cổ sùng từ đối cửu nghi
曾 向 許 由 讓 天 下
Tằng hướng Hứa Do nhượng thiên hạ
聖 人 名 實 有 誰 知
Thánh nhân danh thực hữu thùy tri.


dịch là:


Miếu Đế Nghiêu


Thái hư một điểm sánh cùng
Vô công muôn vật cậy trông nương nhờ
Nhà xưa mái cỏ thô sơ
Th́ nay hương khói phụng thờ kể chi
Nhất trung mở đạo trị v́
Đền thiêng vạn cổ Cửu Nghi chẳng dời
Hứa Do những muốn nhường ngôi
Thánh nhân danh thực ai người biết đây.


Vua Nghiêu là vị vua đầu tiên mở nước Trung Quốc sau truyền ngôi cho vua Thuấn. Vua Nghiêu và vuaThuấn là biểu tượng của bậc vua lư trưởng. Hai câu mở đầu, Nguyễn Du so sánh Vua Nghiêu với thiên nhiên theo quan niệm của Lăo Tử: không làm mà chẳng có bỏ sót một việc ǵ, khiến muôn vật có nơi cậy trông nương nhờ. Hai câu sau ông nhắc lại truyện vua Nghiêu khi đang trị v́, không xây cung điện mà ở dưới mái tranh, th́ ngay đâu xây miếu hương khói phụng thờ lảm ǵ. Hai chữ nhất trung trong câu thứ năm tác giả rút từ lời vua Nghiêu dặn ḍ vua Thuấn: Doăn cháp quyết trung, nghĩa là giữ vững đạo trung, điều này mở lối cho các vua đời sau, lời này ngàn thủa lưu truyền như đền vua Nghiêu trên núi Cửu Nghi.


Hai câu kết, tác giả nhắc tới truyện vua Thuấn muốn nhường ngôi cho cao sỉ Hứa Do, Hứa Do không nhận v́ hai chữ danh và thực, và Nguyễn Du tự hỏi ai là người biết hai chữ này.


Sứ đoàn đi ngang mộ Lưu Linh, một trong Trúc Lâm Thất Hiền, nổi tiếng v́ bài Tửu Đức Tụng, ca ngợi cái đức của rượu, khiến Nguyễn Du có hứng viết bài:


劉 伶 墓
Lưu Linh Mộ


劉 伶 之 子 不 成 才
Lưu linh chi tử bất thành tài
荷 插 揚 言 死 便 埋
Hà sáp dương ngôn tử tiện mai
醉 裡 已 能 齊 萬 物
Túy lư dĩ năng tề vạn vật
死 時 何 必 念 遺 骸
Tử thời hà tất niệm h́nh hài
千 年 古 墓 長 荊 棘
Thiên niên cổ mộ trường kinh cức
萬 里 官 道 多 風 挨
Vạn lư quan đạo đa phong ai
何 似 清 醒 看 世 事
Hà tất thanh tỉnh khan thế sự
浮 萍 擾 擾 更 堪 哀
Phù b́nh nhiễu nhiễu cánh kham ai.


dịch là:


Mộ Lưu Linh


Lưu linh dầu chẳng thành tài
Chết đâu vùi đó lời này con lưu
Lúc say muôn sụ như nhau
Di hài nhắm mắt lẽ đâu bận ḷng
Ngàn năm gai cỏ mồ hoang
Bên trời muôn dặm đường quan bồi hồi
Cớ sao cứ tỉnh nh́n đời
Sắt se bèo nước nổi trôi dập dềnh.


Trong hai câu mở đầu, Nguyễn Du nhắc lại lời Lưu Linh, lúc c̣n sống ngồi xe thường có người hầu vác mai đi theo, và nói rằng: ‘ chết đâu vùi đó’. Nguyễn Du cho rằng, nếu theo thuyết Tề Vật Luận của Trang Tử, mọi vật đều như nhau thời lúc chết rồi sao c̣n cần ǵ bận ḷng về cái xác thừa. Nay, Nguyển Du đi qua ngôi mộ hoang đầy gai cỏ mà thương thân ḿnh đang trên đường ngàn dặm đầy cát bụi. Hai câu kết, Nguyễn Du như tự nhủ, sao ḿnh cứ nh́n đời bằng con mắt người tỉnh, rồi ông trích Tửu Đức Tụng của Lưu Linh, thương cho kiếp người như cánh bèo trôi.


Sau mộ Lưu Linh, sứ đoàn qua mộ Kỳ Lân, Nguyễn Du viết áng thơ dài:


麒 麟 墓
Kỳ Lân Mộ


河 北 道 中
Hà Bắc đạo trung
五 尺 豐 碑 當 大 路
ngũ xích phong bi đương đại lộ
中 有 楷 字 大 書 麒 麟 墓

Trung hữu khải tự đại thư kỳ lân mộ
道 傍 故 老 未 余 言
Đạo bàng cố lăo vị dư ngôn
永 樂 四 年
Vĩnh Lạc tứ niên
貢 麟 道 死 葬 此 土
cống lân đạo tử táng thử thổ
官 命 立 碑 用 存 故 5
Quan mệnh lập bi dụng tồn cố
此 事 迄 今 已 經 古
Thế sự hất kim dĩ kinh cổ
但 見 官 道 蕩 蕩 無 丘 陵
Đăn kiến quan đạo đăng đăng vô khâu lăng
其 旁 不 封 亦 不 樹
Kỳ bàng bất phong hựu bất thụ
片 石 傾 欺 苔 蘚 蔓
Phiến thạch khuynh khi đài tiển mạn
淒 風 朝 吹 暮 苦 雨

10Thê phong triêu xuy mộ khổ vũ
吁 嗟 麟 乎 何 由 睹
Hu ta lân hề hà do đổ
吁 嗟 麟 乎 天 上 祥
Hu ta lân hề thiên thượng tường
骨 肉 委 之 虫 蟻 蠹
Cốt nhục ủy chi trùng nghị đố
麟 兮 麟 兮 爾 何 苦
Lân hề lân hề nhĩ hà khổ
何 況 燕 棣 何 如 人

15Hà huống Yên Đệ hà như nhân
奪 姪 自 立 非 仁 君
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
暴 怒 一 逞 夷 十 族
Bạo nộ nhất sính di thập tộc
大 棒 巨 鑊 烹 忠 臣
Đại bổng cự hoạch phanh trung thần
五 年 所 殺 百 餘 萬
Ngũ niên sở sát bách dư vạn
白 骨 成 山 地 血 殷

20Bạch cốt thành sơn địa huyết ân
麟 兮 果 為 此 人 出
Lân hề quả vị thử nhân xuất
大 是 妖 物 何 足 珍
Đại thị yêu vật hà túc trân
或 是 爾 生 不 忍 見 剎 戮
Hoặc thị nhĩ sinh bất nhẫn kiến sát lục
先 就 此 地 捐 其 身
Tiên tựu thử địa quyên kỳ thân
吁 嗟 仁 獸 兮 麒 麟

25 Hu ta nhân thú hề kỳ lân
於 世 不 見 以 為 祥
Ư thế bất kiến dĩ vi tường
見 之 不 過 同 犬 羊
Kiến chi bất quá đồng khuyển dương
若 道 能 為 聖 人 出
Nhược đạo năng vị thánh nhân xuất
當 世 何 不 南 遊 翔

Đương thế hà bất mam du tường


dịch là:


Mộ Kù Lân


Nẻo Hà Bắc bia bên đường
Kỳ Lân Mộ chữ chân phương chưa mờ
Hỏi thăm ông lăo ậm ừ
Rằng năm Vĩnh Lạc thứ tư lâu ngày 5
Cống lân chết xác vùi đây
Dựng bia quan khiến truyện nay ai màng.
Đường quan một dải thênh thang
Bên bia không mộ đất bằng không cây
Đổ nghiêng bia đá rêu đầy

10Dầm mưa dăi gió tháng ngày bấy lâu
Kỳ lân hỡi nay ở đâu
Báo điềm lành tự trời cao xuống trần
Chết cho sâu kiến khoét thân
Thương lân quá khồ xót lân nghẹn ngào

15Yên vương là kẻ ra sao
Cướp ngôi của cháu lẽ nào có nhân
Giết mười họ hả cơn sân
Đánh đ̣n đốt xác trung thần đ̣i phen
Giết hơn trăm vạn dân đen

20Núi xương biền máu bốn bên điêu tan
Nếu v́ người đó xuống trần
Ôi lân yêu vật ai cần thấy mi
Nơi đây gửi xác mi đi
Trốn cảnh chém giết nên mi ĺa trần

25Kỳ lân linh thú có nhân
Người đời it thấy gặp lân điềm lành
Thấy thường dê chó coi khinh
Nếu v́ thánh chúa giáng sinh xuống trần
Sao lân không xuống đất Nam.


Theo sách cổ, kỳ lân là một linh thú, không giẫm lên vật sống, không bẻ cành cây tươi, nên gọi là loài thú có nhân. Chỉ khi nào trong nước có thánh nhân trị v́ th́ kỳ lân mới hiện ra, để báo một đời thịnh trị. Câu truyện cổ ông lăo bên đường kể cho Nguyễn Du nghe, vói chi tiết lịch sủ vào năm Vĩnh Lạc thú tư, lân mang cống vua nhà Minh chết chôn bên đường, nay chỉ c̣n bia không c̣n mả, đă gợi cho ông nhớ lại vụ vua Thành Tổ nhà Minh cuớp ngôi của cháu, gây rối loạn trong triều đ́nh. Giết chín họ công thần Phương Hiếu Nhụ và toàn thể học tṛ của ông, chỉ v́ ông không thảo chiếu nhường ngôi; gây chiến tranh khiến dân đen chết cả trăm vạn. Bởi sinh nhầm thời hôn quân mà kỳ lân đă chết. Nguyễn Du mong ước kỳ lân tái sinh ở miền nam để tránh cho đất nước và dân lành cảnh sống dưới triều bạo chúa, nếu quả kỳ lân là một linh vật.


Sứ bộ đi qua Yển Thành, nợi xưa kia tướng nhà Tống là Nhạc Phi đóng quân. Truyện Nhạc Vũ Mục bị Tần Cối giả lệnh vua hăm hại gợi hứng cho Nguyễn Du viết bài:


偃 城 岳 武 穆 班 師 處
Yển Thành Nhạc Vũ Mục Ban Sư Xứ
當 時 曾 駐 岳 家 軍
Đương thời tằng trú Nhạc gia quân
此 地 經 金 有 戰 塵
Thử địa kinh kim hữu chiến trần
大 將 空 懷 邦 國 恥

Đại tướng không hoài bang quốc sỉ
君 王 已 絕 父 兄 親
Quân vương dĩ tuyệt phụ huyng thân
金 牌 十 二 有 遺 恨
Kim bài thập nhị hữu di hận
鐵 騎 三 千 空 暮 雲
Thiết kỵ tam thiên không mộ vân
血 戰 十 年 成 底 事
Huyết chiến thập niên thành để sự
風 波 亭 下 謝 金 人
Phong ba đ́nh hạ tạ kim nhân.


dịch là:


Yển Thành nơi Nhạc Vũ Mục Rút Quân
Nơi đây Nhạc Vũ đóng quân
Đất này đă trải bao lần lửa binh
Tướng già v́ nước liều ḿnh
Cha anh vua đă dứt tŕnh thương ôi
Kim bài di hận muôn đời
Ba ngàn thiết kỵ mây trôi bềnh bồng
Mười năm huyết chiến uổng công
Tạ quân Kim chết dưới Phong Ba đ́nh.


Nhạc Vũ Mục tức Nhạc Phi, người thời Nam Tống, giỏi cả văn lẫn vơ. Đời vua Tống Huy Tông có công dẹp giặc đưọc phong Tinh Trung Nhạc Phi. Sau bị Tần Cối lập mưu hảm hại chết. Đến đời vua Tống Hiếu Tông lại được phục chức.


Yển Thành là nơi Nhạc Phi từng đóng quân. Đất này đă trải qua nhiều lần chiến trận. Mang danh đại tướng Nhạc Phi không vướng nỗi quốc sỉ, trong khi vua Tống Cao Tông không c̣n nghĩ tới cha là Tống Huy Tông, anh là Tống Cao Tông cả hai cùng bị quân Kim bắt. Tần Cối chủ
mưu ḥa với quân Kim một ngày nhân danh vua phát 12 kim bài triệu Nhạc Phi về kinh. Nhạc Phi về tới nơi th́ bị tống giam, bị giết chết tại điện Phong Ba và tạ quân Kim để xin nghị ḥa.


Sau chừng hai mươi ngày lưu tại Bắc Kinh, sứ bộ lên đường về phiá đông, để về nước.


Nguyễn Du viết bài:


東 路
Đông Lộ


泰 山 山 色 滿 青 徐
Thái sơn sơn sắc măn Thanh Từ
千 里 山 東 縱 牧 初
Thiên lư Sơn Đông túng mục sơ
何 處 聖 賢 松 佰 下
Hà sứ thánh hiền tùng bách hạ
別 成 絃 誦 魯 鄒 餘
Biệt thành huyền tụng Lỗ Trâu dư
他 薌 顏 狀 頻 開 鏡
Tha hương nhan trạng tần khai kính
客 路 塵 埃 半 讀 書
Khách lộ tràn ai bán độc thư
行 色 匆 匆 歲 雲 暮
Hành sắc mang mang tuế vân mộ
不 禁 憑 軾 歎 歸 歟
Bất câm bằng thức thán quy dư

 

Đường Xuôi Đông


Thanh Từ núp bóng Thái Sơn
Sơn đông ngàn dặm vời trông ngại ngùng
Thánh hiền đâu dưới bách tùng
Sách đàn Trâu Lổ đôi vùng vẻ vang
Tha hương đối bóng nh́n gương
Lần trang rút ngắn ngày đường bụi bay
Nam tàn vội vă đường dài
Nảo nề than thờ ḷng ai thôi về.


Hành tŕnh sứ bộ hướng về phía đông trên đường vê nước; đi qua hai châu Thanh và châu Từ dưới chân rặng núi Thái Sơn. Vùng này xưa thuộc nước Lỗ, quê của Khổng Tử và nước Trâu quê của Mạnh Tử. Ngồi xe, Nguyễn Du không biết làm ǵ hơn là lấy gương soi, và đọc sách suốt ngày đề tạm khuây nỗi đường dài gió bụi. Nam hồ tàn. khiến Nguyễn Du càng nóng ḷng sớm về tới nhà; ông nhắc lại hai chữ quy dư của Khổng Tử, ngày ông quay về quê cũ sau nhiều năm tháng đi chu du các nước chư hầu, để mô tả nỗi mong mỏi này.


Sứ bộ đi ngang dài Tam Qui của Quản Trọng, người nước Tề thời Chiến Quốc. Nguyễn Du khởi hứng viết bài:


管 仲 三 歸 薹
Quản Trọng Tam Quy Đài
舊 臺 湮 沒 草 離 離
Cựu đài nhân một thảo ly ly
曾 以 梡 公 霸 一 時
Tằng dĩ Hoàn Công bá nhất th́
郡 縣 城 中 空 九 合
Quận huyện thành trung không cửu hợp
苺 苔 石 上 記 三 歸
Môi đài thạch thượng kư Tam Quy
在 朝 巧 與 君 心 合
Tại triều xảo dữ quân tâm hợp
沒 世 終 憐 相 業 卑
Một thế chung liên tướng nghiệp ty
喜 值 聖 朝 公 覆 幬
Hỷ trị thánh triều công phục đảo
往 來 臺 下雜 華 夷
Văng lai đài hă tạp Hoa Di.


dịch là:


Đài Tam Quy của Quản Trọng
Lan tràn cỏ ngập đài hoang
Một thời pḥ giúp Tề Hoàn ngôi cao
Chín lần hội họp chư hầu
Tam Quy bàn đá dấu rêu xoá nḥa
Đương triều khéo được ḷng vua
Trọn đời công nghiệp vẫn chưa vẹn toàn
Thánh triều công đức vẻ vang
Hoa di lui tới hân hoan dưới đài.


Quản Trọng ngưởi nuớc Tề, nay là vùng Sơn Đông, khởi nghiệp giúp công tử Cư, sau thờ Hoàn Công làm chức tướng quốc, đưa nước Tề lên hàng giầu mạnh bá chủ thiên hạ: chín lần họp các vua chư hầu. Về già ông được Hoàn Công tôn làm thưọng phu, thưởng đất Tam Quy và xây đài cao ở đất này. Dầu đuọc ḷng vua như vậy, nhưng Khổng Tử chê ông chí khí tiểu tai và Mạnh Tử chê ông sự nghiệp tầm thường. Công nghiệp lớn của Quản Trọng là đánh bại được các rợ miền Bắc, nhưng chính nhà Thanh cũng là một rợ miền Bắc lúc đó đang làm vua Trung Quốc.


Tiếp tới là bài:


榮 啓 期 拾 穗 處
Vinh Khải Kỳ Thập Tuệ Xứ
三 樂 人 能 有
Tam lạc nhân năng hữu
如 何 子 獨 知
Như hà tử độc tri
生 貧 猶 不 恤
Sinh bần do bất tuất
老 死 復 何 悲
曠 野 東 山 下
Khoáng dă Đông Sơn hạ
行 哥 拾 穗 時
Hành ca thập tuệ kỳ
賢 名 留 此 地
Hiền danh lưu thử địa
千 古 起 人 思
Thiên cổ khởi nhân tư


dịch là


Nơi Vinh Khải Kỳ Mót Lúa
Trời cho người ba niềm vui
Làm sao hưởng được trọn đời ḿnh ông
Sống thanh bần chẳng bận ḷng
Đến già đến chết ngoài ṿng khổ đau
Đông Sơn bát ngát đồng sâu
Khúc ca mót lúa từng câu bổng trầm
Đất này ghi măi danh thơm
Người nay tưởng nhớ ngàn năm lưu truyền.


Vinh Khải Kỳ là một ẩn sĩ đời Xuân Thu. Sách Liệt Tử chép truyện Khổng Tử dạo chơi gặp Vinh Khải Kỳ ngoài đồng ruộng, vùng Đông Sơn, đang ca hát, bèn hỏi: “Ông có điều chi vui mà ca hát vậy”. Vinh Khải Kỳ đáp: “Tôi có ba điều vui. Một là vui được làm người, quư hơn muôn vật. Hai là làm đàn ông quư hơn đàn bà. Ba là vui sống tới chín mươi tuổi.”.


Đông Sơn là một rặng núi, thuộc tỉnh Chiết Giang, nơi xưa tương Truyền Vinh Khải Kỳ đi mót lúa trong cánh đồng dưới chân núi. Câu truyện Vinh Khải Kỳ này dường như mang lại cho tác giả một nguồn vui, trái với phần lớn truyện các anh hùng vĩ nhân khác trong sữ Trung Quốc, thường chỉ mang lại cho ông một nỗi buồn thương cảm.


Tiếp theo là bài:


孟 子 祠 古 柳
Mạnh Tử Từ Cổ Liễu


吾 聞 天 池 之 濆 有 龍 夭 矯
Ngô văn thiên tŕ chi phần hữu long yêu kiểu
今 之 畫 圖 無 略 肖
Kim chi họa đồ vô lược chiếu
風 雨 一 夜 飛 下 來
Phong vũ nhất dạ phi hạ lai
化 為 亞 聖 宮 門 柳

Hoá vi á thánh cung môn liễu
此 柳 渾 全 百 十 圍 5
Thử liễu hồn toàn bách thập vi
養 成 大 物 非 一 時
Dưỡng thành đại vật phi nhất th́
雨 露 天 意 獨 滋 潤
Vũ lộ thiên ư độc tư nhuận
鬼 神 暗 中 相 扶 持
Quỷ thần ám trương phù tŕ
枝 柯 落 落 老 益 壯
Chi kha lạc lạc lăo ích tráng
歲 月 悠 悠 深 不 知

10 Tuế nguyệt du du thâm bất tri
左 蟠 右 轉 當 大 道
Tả bàn hữu chuyển đương đại đạo
過 客 不 敢 攀 其 枝
Quá khách bất cảm phan kỳ chi
匆 匆 鬱 鬱 抱 元 氣
Thông thông uất uất băo nguyên khí
天 下 斯 文 其 在 斯
Thiên hạ tư văn kỳ tại tư
鄉 人 支 以 二 石 柱

15Hương nhân chi dĩ nhị thạch trụ
石 柱 既 深 根 愈 固
Thạch trụ kư thâm căn dụ cố
不 同 凡 卉 小 春 秋
Bất đồng phàm hủy tiểu xuân thu
半 畝 風 煙 自 今 古
Bán mẫu phong yên tụ kim cổ
灝 然 之 氣 非 尋 常
Hạo nhiên chi khí phi tầm thường
大 才 應 與 天 齊 壽

20Đại tài ưng dũ thiên tề thọ


dịch là:


Cây Liễu Cổ Đền Mạnh Tử


Hằng nghe:


Rồng vàng vùng vẫy ao trời
Tranh này chẳng giống với lời mảy may
Gió mưa rồng hạ nơi đây
Cửa đền Á thánh hóa cây liễu thần 5
Thân cây trăm lẻ người ôm
Nuôi cây cao lớn dầy ơn mới thành
Nhờ trời mưa móc thấm nhuần
Thần phù qủy trợ ngấm ngầm mới nên
Sum suê cành cứng lá mềm

10 Càng già càng mạnh vững bền tháng năm
Đôi bên tả hữu đường quan
Qua đường chẳng dám bẻ cành ngắt hoa
Ấp ôm nguyên khí chan ḥa
Tư văn thiên hạ tinh hoa cơi này

15Một đôi cột đá làng xây
Cột càng sâu chắc rễ cây càng bền
Khác phường cây dại cỏ hèn

Xưa nay nửa mẫu phong yên vững vàng
Hạo nhiên chí khí hiên ngang

20Cây cùng trời đất sống ngàn vạn năm.


Theo Sử Kư của Tư Mă Thiên26, Mạnh Tử tên là Mạnh Kha, học tṛ Tử Tư, cháu của Khổng Tử. Sau thờ Tề Tuyên Vương, Tề Tuyên Vương không dùng ông khiến ông phải sang nước Lương. Lương Huệ Vương cũng lưởng lự, cho lời Mạnh Tủ là viển vông không sát thực tế.

 
Lúc bấy giờ khắp chư hầu đang lo hơp tung liên hoành, lấy truyện chinh chiến làm trọng, mà Mạnh Tử bàn về Đường Ngu Tam Đại, nên đi đến đâu tuy đều được kính trọng, không gặp khó khăn như Khổng Tử, nhưng cũng không được vừa ư. Ông lui về cùng Vạn Chương, xếp đặt lại Kinh Thi Kinh Thư của Khổng Tử, làm bẩy thiên sách Mạnh Tử.
Mạnh Tử chủ trương trọng nhân nghĩa, nên cho rằng chiến tranh là việc phi nghĩa. Người đời sau học sách ông tôn ông lên bậc Á Thánh của đạo Nho.


Nguyễn Du cùng sứ bộ qua đền Á Thánh Mạnh Tử. Ông so sánh cây liễu cổ trước đền với cây liễu đó vẽ trong tranh mà nhận ra điểm khác biệt. Ông cũng kể lại thoại lưu truyền nói rằng câu liễu vốn là con rồng từ trời cao giáng xuống mà thành. Ông ca tụng cây liễu cổ sống cả hơn hai ngàn năm, như biểu tượng cho chí khí nhà nho.
Cuộc hành tŕnh về nước đưa sứ bộ qua Cầm Đài của Kê Khang, Nguyễn Du viết bài dưới đây:


嵇 康 琴 薹
Kê Khang Cầm Đài
琴 臺 古 跡 記 嵇 康
Cầm đài cổ tích kư Kê Khang
人 死 琴 亡 臺 亦 荒
Nhân tử cầm hoang đài diệc hoang
文 武 七 絃 終 寂 寂
Văn vơ thất huyền chung tịch tịch
東 西 兩 晉 亦 芒 芒
Đông tây lưỡng Tấn diệc mang mang
至 今 不 杇 惟 童 性
Chí kim bất hủ duy đồng tính
此 後 何 人 到 醉 鄉
Thử hậu hà nhân đáo túy hương
嘆 息 廣 陵 絃 絕 後
Thán tức Quảng Lăng huyền tuyệt hậu
琵 琶 新 譜 半 胡 姜
Tỳ bà tân phổ bán Hồ Khương.


dịch là:


Cầm Đài của Kê Khang
Cầm đài đồn của Kê Khang
Người đi đàn vắng đài hoang bấy chầy
Vũ văn bặt tiếng bẩy dây
Biệt tăm Lưỡng Tấn đông tây vô thường
Danh truyền trẻ tính dễ thương
Sau này ai kẻ noi đường làng say
Quảng Lăng dứt khúc bi ai
Tỳ bà điệu mới lẫn bài Hồ Khương.


Kê Khang (223-262) tên thực là Thúc Dạ, người đời Tấn, một trong Trúc Lâm Thất Hiền, đàn rượu tuyệt hay. Sùng đạo Lăo Trang, coi thường Nho đạo, lúc đó nhà Tấn đưa lên hàng quốc giáo. Nhân vụ Kê Khang bênh vực bạn ông là Lữ An bị cáo tội bất hiếu, ông bị Chung Hội vu cáo tội bất hiếu và kết tội tử h́nh cùng với Lữ An. Trước khi thụ h́nh, ông gẩy khúc Quảng Lăng Tán. Đàn xong ông nói: “Có kẻ xin học bài đàn này ta không dậy, thế là từ nay khúc đàn này không c̣n ai đàn nữa.” Ông để lại nhiều bản văn xuôi bàn về âm nhạc nổi tiếng đến ngày nay. Hai câu kết cho hay là sau Kê Khang âm nhạc Trung Quốc pha lẫn âm điệu người Hồ Khương.


Tiếp thục hành tŕnh về phiá đông, sừ bộ theo đương núi huyện Đông A, Nguyễn Du ghi lại cảnh bên đường trong bài:


東 阿 山 路 行
Đông A Sơn Lộ Hành
東 阿 路 出 亂 山 中
Đông A lộ xuất loạn sơn trung
萬 樹 松 杉 一 逕 通
Vạn thụ tùng sam nhất kính thông
澗 霧 自 生 宜 隱 豹
Giản vụ tự sinh nghi ẩn báo
溪 雲 無 事 懶 從 龍
Khê vân vô sự lăn ṭng long
丘 陵 處 處 留 前 大
Khâu Lăng xứ xứ lưu tiền đại
桑 柘 家 家 近 古 風
Tang chá gia gia cận cổ phong
笑 我 白 頭 忙 不 了
Tiếu ngă bạch dầu mang bất liễu
嚴 寒 一 路 過 山 東
Nghiêm hàn nhất lộ quá Sơn Đông.


dịch là:


Trên Đường Núi Đông A


Đường Đông A núi trùng trùng
Hai bên vạn gốc sam tùng cheo leo
Sương mờ xoá vết hùm beo
Mây giăng ḷng suối ngại theo cánh rồng
Dấu xưa vết cũ bên cồn
Thói lề đời trước tang nông lưu truyền
Cười ḿnh đầu bạc truân truyên
Đường dài giá lạnh bên miền Sơn Đông.


Hai câu đầu, Nguyễn Du ghi lại h́nh ảnh đường núi Đông A, núi non trùng trùng, sam tùng rậm rạp. Câu ba và bốn dường như tác giả muốn dùng điễn cũ ghi lại một ư nghĩ về việc xuất xử. Câu thứ ba, lấy từ Liệt Nữ truyện. Vợ Đào Đáp khuyên chồng: “Thiếp nghe nói trên núi Nam Sơn có con báo đen, trời sương mù bẩy ngày không xuống núi kiếm mồi v́ muốn giữ ǵn bộ lông mượt của nó.” Câu thứ tư nhắc lại lời Khổng Tử trong Kinh Dịch: “Vân ṭng long, phong ṭng hổ.” Người đời sau dùng câu này đổ diễn tả việc vua tôi gặp gỡ. Cả hai câu dường như diễn tả ư tác giả hối tiếc sao chẳng như con báo, giữ bộ lông đẹp mà phải sông sáo trên hoạn lộ. Lúc này ḷng ông như thấy ngại ngùng như mây suối ngại bay theo rồng. Với ư nghĩ đó ông cười ông bạc đầu con vất vả việc quan, trên con đường dài rét mướt.


Rồi sứ đoàn đi ngang mộ Sở Bá Vương, làm tướng nướs Sở, từng diệt nước Trần, lập ra nước Tây Sở, gợi hứng cho Nguyễn Du viết hai bài dưới đây:


楚 霸 王 墓
Sở Bá Vương Mộ

二 首
Nhị Thủ


其 一
Kỳ Nhất


拔 山 扛 鼎 奈 天 河
Bạt sơn giang đỉnh nại thiên hà
夙 恨 悠 悠 寄 淺 沙
Túc hận du du kư thiển sa
霸 上 以 成 天 子 氣
Bá thượng dĩ thành thiên tử khí
帳 中 空 聽 美 人 歌
Trướng trung không thính mỹ nhân ca
眼 前 片 石 英 雄 在
Nhăn tiền phiến thạch anh hùng tại
事 後 群 儒 口 舌 多
Sự hậu quần nho khẩu thiệt đa
欲 覓 長 陵 一 坯 土
Dục mịch Trường Lăng nhất phôi thổ
赤 眉 亂 後 遍 蓬 厤
Xích my loạn hậu biến bồng ma.


其 二
Kỳ Nhị


路 旁 片 石 獨 崢 嶸
Lộ bàng phiến thạch độc tranh vanh
不 是 烏 江 是 魯 城
Bất thị Ô Giang thị Lỗ Thành
及 識 敗 亡 非 戰 罪
Cập thức bại vong phi chiến tội
空 勞 智 力 與 天 爭
Không lao trí lực dữ thiên tranh
古 今 無 那 英 雄 盡
Cổ kim vô ná anh hùng tận
風 雨 獨 聞 叱 吒 聲
Phong vũ độc văn sất sá thanh
寂 寂 二 時 無 掃 祭
Tịch tịch tảo thời vô tảo tế
春 來 虞 草 自 叢 生
Xuân lai Ngu thảo tự tùng sinh.


dịch là:


Mộ Sở Bá Vương
Hai Bài
I
Sức dời non chẳng lại trời
Hận vùi cát mỏng ngàn đời chưa tan
Con Trời Bá Thưọng hiển thân
Sau màn tiếng hát giai nhân năo nùng
Đá c̣n ghi dấu anh hùng
Bại thành nho giả chẳng ngừng chê khen
Muốn t́m ra nấm đất đen
Xích My tan giặc Trường Lăng gai đầy.

II
Bên đường tấm đá trênh vênh
Ô Giang không dựng La Thành dựng lên
Bại vong chẳng tại tài hèn
Uổng công đấu trí một phen với trời
Anh hùng kim cổ lệ rơi
Trong mưa dường có tiếng người thét vang
Hương tàn khói lạnh vắng hoang
Cỏ ngu xanh mướt hàng năm xuân về.


Tây Sở Bá Vương tức Hạng Tịch, tên chự là Vơ, nen quen gọi là Hạng Vơ, cùng Lưu Bang tranh đoạt thiên hạ. Tây Sở Bá Vương bị thua trận Cai Hạ, chạy tới Ô Giang th́ tự vẫn.
Mở dầu bài thứ nhất Nguyễn Du nhắc lại truyện sức khoẻ hơn đời của Hạng Vơ từng được ca tụng là sức bạt núi hay cữ đỉnh. Mà đàng mang hận xuống mồ dưới lớp cát mỏng. Bá Thưọng là chỗ Lưu Bang đóng quân, thuộc tỉnh thiểm tây, tục truyền có đám mây năm sắc h́nh rồng hiện ra báo điềm Lưu Bang sẽ lên ngôi thiên tử. Câu thứ tư là truyện trong tư dinh Hạng Vơ, ngày bị vây ở Cai Hạ, Hạng Vơ vẫn làm thơ, vợ là Ngu Cơ họa lại và hát. Hạng Vơ cùng chư tướng đều rơi nước mắt.
Phiến đá trước mặt Nguyễn Du c̣n ghi dấu anh hùng để nho giả đời sau bàn tán.
Nguyễn Du liên tường tới mộ Lưu Bang ở Trường Lăng, từ ngày giặc Xích My lật đổ ngôi nhà Hán thời gai cỏ cũng mọc đầy.
Sang bài thứ hai, nh́n tấm đá đổ chênh vênh bên đường, Nguyễn Du nghĩ tới truyện cũ, Hạng Vơ tự vẫn tại Ô Giang, nhưng Lưu Bang c̣n dùng đầu Hạng Vơ dụ hàng Lỗ Thành, nên mồ Hạng Vơ ở Lỗ Thành, thay v́ Ô Giang. Ông nh́n nhật là Hạng Vơ bại trận không v́ kém tài mà v́ đă uổng công mang sức người ra đấu với trời. Đó là cái hận khiến bao anh hùng từ xưa tới nay phải nuốt lệ, không riêng ǵ Hạng Vơ lúc vĩnh biệt Ngu Cơ, nhưng bên tai Nguyễn Du dường như c̣n nghe tiếng hét Hạng Vơ thúc quân trong mưa. Tâm bia hương tàn khói lạnh, hàng năm cỏ ngu, trên mộ Ngu Cơ, vẫn c̣n xanh mướt ngày xuân về.


Đi ngang mộ Liễu Hạ Huệ, Nguyễn Du có bài:


柳 下 惠 墓
Liễu Hạ Huệ Mộ
吳 店 橋 通 泗 水 波
Ngô Điếm kiều thông Tứ Thuỷ ba
士 師 名 蹟 未 消 蘑
Sĩ sư danh tích vị tiêu ma
事 人 直 道 寧 三 黜
Sữ nhân trực đạo ninh tam truất
作 聖 全 功 在 一 和
Tác thánh toàn công tại nhất ḥa
相 對 尼 山 長 有 魯
Tương đối Ni Sơn trường hữu Lỗ
可 憐 盜 跖 已 無 家
Khả liên Đạo Chích dĩ vô gia
碑 殘 沒 字 埋 荒 草
Bi tàn một tự mai hoang thảo
千 古 聞 風 一 下 車
Thiên cổ văn phong nhất hạ xa.


dịch là:


Mộ Liễu Hạ Huệ


Cầu Ngô Điếm ngang Tứ Giang
Sĩ sư danh tích thời gian chẳng ṃn
Ba lần truất một ḷng son
Chữ ḥa bậc thánh nên công hơn người

Ni Sơn nước Lỗ há dời
Thương cho Đạo Chích một đời tha hương
Bia tàn dưới ngọn cỏ hoang
Nghe danh thiên cổ xe ngừng viếng ông.


Liễu Hạ Huệ, tức Triền Cầm, tên Hoạch, tự là Quư, người đất Hạ Huệ, nước Lỗ thời Xuân Thu, làm sỉ sư ba lần bị truất cả ba, nhưng không bỏ nước mà đi. có người hỏi, ông trả lời:
“Lấy đạo thẳng mà thờ người th́ đi đâu mà không bị ba lần truất! Lấy đạo cong thờ người th́ hà tất phải bỏ nước của cha mẹ?”. Khi ông chết chôn tại đầu cầu Ngô Điếm, bắc ngang sông Tứ Thuỷ. Mạnh Tử khen Liễu Hạ Huệ là Thánh chi ḥa. Nguyễn Du tâm phục Liễu Hạ Huệ, ngừng xe viếng mộ người ngàn xưa, nay ch́ c̣n tấm bia tàn ch́m dưới cỏ hoang. Đạo Chích là em Liễu Hạ Huệ, khác hẳn anh. Suốt đời lang bạt làm tướng cướp, giết người cướp của. Chết đi, người đời lấy tên Đạo Chích gọi phường trộm cướp.
Sứ bộ qua sông Hoàng Hà, vào đất Từ Châu, ở phía bắc tỉnh Giang Tô, rồi đổi hường đi về phía nam về nước.


Trên đường Tù Châu, Nguyễn Du viết bài:


徐 州 道 中
Từ Châu Đạo Trung
桑 乾 南 下 白 雲 多
Tang Càn nam hạ bạch vân đa
水 遠 山 長 瞥 眼 過
Thủy viễn sơn trường miết nhăn qua
萬 里 利 名 驅 白 髮
Vạn lư lợi danh khu bạch phát
一 天 風 雪 渡 黃 河
Nhất thiên phong tuyết độ Hoàng Hà
每 憐 故 態 惟 狂 在
Mỗi duy cố thái duy cuồng tại
欲 覓 新 歡 奈 老 何
Dục mịch tân hoan nại lăo hà
攘 盡 苦 寒 三 閲 月
Nhương tận khổ hàn tam duyệt nguyệt
嶺 頭 落 得 看 梅 花
Lĩnh đầu lạc đắc khán mai hoa.


dịch là:


Trên Đường Từ Châu


Mé nam mây trắng Tang Càn
Núi cao sông rộng mênh mang trông vời
Ngàn trùng danh lợi đeo đ̣i
Vượt Hoàng Hà buổi tuyết rơi mịt mùng
Thương ḿnh nếp cũ ngông cuồng
T́m nguồn vui mới tóc sương già rồi
Ba trăng rét mướt ớn người
Đỉnh non mai trắng một trời nở hoa


Cảnh bên đường Từ Châu, cũng chỉ có núi cao sông rộng, mây trắng mênh mang. Tác giả nh́n lại ḿnh, tự trách sao c̣n mắc ṿng danh lợi, tóc trắng c̣n lênh đênh bên trời gió tuyết.


Cái ǵa đến khiến niềm ngông cuồng tuổi trẻ cũng nguội lạnh, không c̣n thiết đi t́m cái vui mới. Ba tháng chịu rét mướt, nay được đền bù bằng cảnh một trời hoa mai trắng nở trên đầu non.

 

 

 

 


21 Liêm Pha, Lạn Tương Như Truyện, Sử Kư, Tư Mă Thiên, sách đă dẫn, tr. 519-541.

22. Hoài Âm Hầu Liệt Truyện, Sử Kư Tư Mă Thiên, sách dă dẫn, tr. 646-678.

23. Liêm Pha, Lạn Tương Như truyện, Sử Kư Tư Mă Thiên, sách đă dẫn, tr. 519-535.

24. Truyện Tô Tần, Sử Kư Tư Mă Thiên, sách đă dẫn, tr. 376-404.

25. Thích Khách Liệt Truyện, đoạn 3, Sử Kư Tư Mă Thiên, sách đă dẫn, tr. 559-562

26. Sử Kư Tư Mă Thiên, sách đă dẫn, Mạnh Tử, Tân Khanh Liệt Truyện, tr. 433-435

 

 

 

 

 

Xem KỲ 15

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com