www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THƠ VIỆT ÂM
Của Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 09:

 

南 中 雜 吟

Nam Trung Tạp Ngâm

 

Tiếp Kỳ 08

 

 


Niềm tĩnh lặng trong tâm cảnh Nguyễn Du c̣n thấy trong mấy bài tiếp theo. Bắt đầu là bài:


三 江 口 塘 夜 泊
Tam Giang Khẩu Đường Dạ Bạc
西 粵 重 山 一 水 分
Tây Việt trùng sơn nhất thủy phân
兩 山 相 對 石 磷 峋
Lưỡng sơn tương đối thạch lân phân
猿 啼 樹 杪 若 無 路
Viện đề thụ diểu nhược vô lộ
犬 吠 林 中 知 有 人
Khuyển phệ lâm trung tri hữu nhân
四 妄 雲 山 人 獨 老
Tứ vọng vân sơn nhân độc lăo
同 舟 胡 越 各 相 親
Đồng chu Hồ Việt các tương thân
十 年 已 失 還 鄉 路
Thập niên dĩ thất hoàn hương lộ
那 得 家 鄉 入 夢 頻
Na đắc tha hương nhập mộng tần.

dịch là:

 

Đêm Đậu Thuyền
Tại Cửa Sông Tam Giang
Núi Việt Tây nước chia hai
Ngọn cao đối mặt đá bày chon von
Vượn than cây lấp lối ṃn
Rừng sâu chó sủa biết c̣n người qua
Núi mây chợt thấy ḿnh già
Cùng thuyền Hồ Việt dần dà nên quen
Đường vê quê cũ ngỡ quên
Vẫn c̣n trong mộng đêm đêm bồi hồi.
Cảnh bên sông vẫn là cảnh núi cao sông rộng, vẫn c̣n nghe thấy tiếng vượn kêu tiếng chó
sủa. Nhưng dường như tác bỗng cảm thấy ḿnhn già hơn, dẫu trên thuyền người Hồ ngụi
Việt như dần dà thân thiên với nhau. Nguyễn Du ngỡ là đă dẹp được nỗi nhớ quê, nhưng
ông tụ thú là h́nh ảnh quê hương vẫn c̣n hiện ra trong giấn mơ đêm đêm, làm dao đông
niềm tĩnh lặng trong tâm cảnh của ông.
Cảnh nhớ nhà trong chuyến đi sứ không phải là tâm cảnh riêng của Nguyễn Du mà là tâm
cảnh của cả hai mươi bẩy người trong sứ bộ lúc nghe thấy tiếng sáo gợi t́nh nhớ quê, như
ông ghi trong bài:
太 平 城 下 聞 吹 笛
Thái B́nh Thành Hạ Văn Xuy Địch
太 平 城 外 西 風 起
Thái B́nh thành ngoại tây phong khởi
吹 皺 寧 明 一 江 水
Xuy trứu Ninh Minh nhất giang thủy
江 水 皺 兮 江 水 寒
Giang thủy trứu hề giang thủy hàn
誰 家 橫 笛 憑 欄 杆
Thùy gia hoành địch bằng lan can
二 十 七 人 共 回 首
Nhị thập thất nhân cộng hồi thủ
故 鄉 已 隔 萬 重 山
Cố hương dĩ cách vạn trùng san.
dịch là:
Nghe Tiếng Sáo Dưới Thành Thái B́nh
Gió thu lộng bến Thái B́nh
Hắt hiu gợn sóng Ninh Minh một ḍng
Lung linh mặt sóng trăng trong
Nhà ai tiếng sáo năo ḷng chơi vơi
Quay đầu hăm bẩy con người
Ngàn non cách trở xa vời quê hương.
Tiếp theo là bài:
舟 行 即 事
Chu Hành Tức Sự
西 粵 山 川 多 險 巇
Tây Việt sơn xuyên đa hiểm hi
行 行 從 此 向 天 涯
Hành hành ṭng thử hướng thiên nhai
崩 崖 怪 石 怒 相 向
Băng nhai quái thạch nộ tương hướng
水 鳥 沙 禽 狎 不 飛

Thủy điểu sa cầm hiệp bất phi
天 地 扁 舟 浮 似 葉
Thiên địa biên chu phù tự diệp
文 章 殘 息 弱 如 絲
Văn chương tàn tức nhưọc như ti
為 憐 上 國 風 光 好
Vị liên thương quốc phong quang hảo
關 鎖 鄉 情 未 放 歸
Khai tỏa hương t́nh vị phóng quy.
dịch là:
Đi Thuyền Tức Cảnh
Núi sông Tây Việt hiểm nghèo
Thuyền đi đi măi gieo neo cuối trời
Đá trồng vách lở khắp nơi
Chim trời chim băi dạn người không bay
Thuyền như chiếc lá chân mây
Thơ văn cạn sức tựa dây tơ mành
Trung Hoa cảnh đẹp sinh t́nh
Mộng về quê đáy ḷng thành tạm quên.
Cảnh trời cao sông rộng đất Quảng Tây dần dần quến rũ con người nghệ sĩ của Nguyễn Du,
giống như đàn chim trời chim băi dạn người không vội bay trốn. Ông say sưa với cảnh đẹp
trước mắt, tạm quên cả ước muốn về quê cũ ấp ủ suốt cả chục năm.
Cảnh thiên nhiên hùng vĩ lôi cuốn Nguyễn Du, th́ thực cảnh con người Trung Quốc làm ông
xúc động như ghi trong áng thơ dài:
太 平 賣 歌 者
Thái B́nh Mại Ca Giả
太 平 瞽 師 粗 佈 衣
Thái b́nh cổ sư thô bố y
小 兒 牽 晚 行 江 湄
Tiểu nhi khiên văn hành giang mi
云 是 城 外 老 乞 子
Vân thị thành ngoại lăo khất tử
賣 歌 乞 錢 供 晨 炊
Mại ca khất tiền cung thần xuy
鄰 舟 時 有 好 音 者 5
Lân chu th́ hữu hiếu âm giả
牽 手 引 上 船 窗 下
Khiên thủ dẫn thướng thuyền song hạ
此 時 船 中 暗 無 燈
Thử th́ thuyền trung ám vô đăng
棄 飯 潑 水 殊 狼 藉
Khí phạn bát thủy thù lang tạ
摸 索 引 身 向 坐 隅
Mô sách dẫn thân huớng tọa ngung
再 三 舉 手 稱 多 謝 10Tái tam cử thủ xưng đa tạ
手 挽 弦 索 口 作 聲
Thủ văn huyền sách khẩu tác thanh
且 彈 且 歌 無 暫 停
Thả đàn thả ca vô tạm đ́nh
聲 音 殊 異 不 得 辨

Thanh âm thù dị bất đắc biện
但 覺 嘹 喨 殊 可 聽
Đăn giác liêu lượng thù khả thính
舟 子 寫 字 為 余 道 15Chu tử tả tự vi dư đạo
此 曲 世 民 與 建 成
Thử khúc Thế Dân dữ Kiến Thành
觀 者 十 數 並 無 語
Quan giả thập số tịnh vô ngữ
但 見 江 風 蕭 蕭 江 月 明
Đăn kiến giang phong tiêu tiêu giang nguyệt minh
口 噴 白 沫 手 酸 縮
Khẩu phún bạch mạt thủ toan súc
卻 坐 斂 弦 告 終 曲 20Khước tọa liễm huyền cáo chung khúc
彈 盡 心 力 幾 一 更
Đàn tận tâm lực cơ nhất canh
所 得 銅 錢 僅 五 六
Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục
小 兒 引 得 下 船 來
Tiểu nhi dẫn đắc hạ thuyền lai
猶 且 回 顧 禱 多 福
Do thả hồi cố đảo đa phúc
我 乍 見 之 悲 且 辛
Ngă sả kiến chi bi thả tân
凡 人 愿 死 不 愿 貧
Phàm nhân nguyện tữ bất nguyện bần
只 道 中 華 盡 溫 飽
Chỉ đạo Trung Hoa tận ôn băo
中 華 亦 有 如 此 人
Trung Hoa diệc hữu như thử nhân
君 不 見
Quân bất kiến
使 船 朝 來 供 頓 例
Sứ thuyền triều lai cung đốn lệ
一 船 一 船 盈 肉 米
Nhất thuyền nhất thyền doanh nhục mễ
行 人 飽 食 便 棄 餘
Hành nhân băo thực tiện khí dư
殘 肴 冷 飯 沉 江 底
Tàn hào lănh phạn trầm giang để.
dịch là:
Người Hát Rong Bến Thái B́nh
Có lăo mù bến Thái B́nh
Cha già con cọc ngoài thành dắt nhau
Trắng tay mà tuổ đă cao
Bên sông hát dạo cháo rau lần hồi
Thích nghe hát có mấy người
Thuyền bên dắt lăo cho ngồi bên song
Không đèn tối mịt trong khoang
Cơm thừa canh dở ngổn ngang sạp thuyền
Lảo ngồi khép nép một bên
Chắp tay kính cẩn tạ ơn mấy lần
Miệng ca tay nắn cung đàn

Điệu đàn tiếng hát nhịp nhàng chơi vơi
Thổ âm lạ chẳng hiểu lời
Êm tai réo rắt bổng thôi lại trầm
Chủ thuyền viết thảo bảo rằng
Đây là tích cổ Thế Dân Kiến Thành
Người nghe chú ư lặng thinh
Mặt sông trăng tỏ bồng bềnh trôi xuôi
Miệng khô tay mỏi dă dời
Cất đàn khúm núm xin lui cúi chào
Cố công suốt trống canh đầu
Tiền người gieo thưởng được đâu sáu tiền
Theo con ḍ buóc xuống thuyền
Lăo c̣n ngoái lại cám ơn hết lời
Trạnh ḷng cám cảnh thương người
Sống nghèo th́ chết cho rồi c̣n hơn
Trung Hoa no ấm hằng đồn
Nào ngờ cùng khó hăy c̣n nơi đây
Lại thấy chăng
Sứ đoàn cung ứng bấy nay
Thuyền này thuyền khác cơm đầy thịt dư
Một ăn c̣n đến hai thừa
Cơm lành canh ngọt đổ bừa xuống sông.
Bài thơ dài ba mươi câu là một bức tranh hiện thực, tác giả ghi lại với nhiều chi tiết về cảnh
cùng khốn của người hát dạo mù ḷa, rất lễ phép, tŕnh diễn bản hát kể lại cuộc tranh chấp
giữa anh em Nguyên Cát và Thế Dân, để lên ngôi vua, dười triều nhà Đường. Người hát dạo
cố gắng sống bằng tiền thưởng cũa người nghe hát, dầu tiền thưởng chẳng được bao nhiêu.
Tác giả như tụ hỏi ḿnh: sống nghèo th́ chết cho rảnh thân thỉ hơn. Đồng thời ông ngạc
nhiên là điều ông nh́n thấy khác vói lời đồn đại là Trung Quốc không c̣n nghèo khổ. Ông
c̣n thấy bất măn trước sự phí phạm thứ ăn trên các thuyền sứ bộ.
Sau bến Thái B́nh, thuyền sứ bộ ghé bến Sơn Đường. Giới nghiên cứu không chắc bến Sơn
Đường thực có ở trên lộ tŕnh sứ bộ hay không.
Nguyễn Du ghi lại cảm hứng đêm neo thuyền tại bến Sơn Đường chép trong Bắc Hành Tạp
Lục như sau:
山 塘 夜 泊
Sơn Đường Dạ Bạc
午 夢 醒 來 晚
Ngọ mộng tỉnh lai văn
斜 日 掩 窗 扉
Tà nhật yểm song phi
風 勁 維 船 早
Phong kinh duy thuyền tảo
山 高 得 月 遲
Sơn cao đắc nguyệt tŕ
倚 篷 千 里 望
Ỷ bồng thiên lư vọng
合 眼 隔 年 思
Hợp nhăn cách niên tư
莫 近 蒼 崖 宿
Mạc cân thương nhai túc
啼 猿 澈 夜 悲
Đề viên triệt dạ bi.
dịch là:

Đêm Neo Thuyền Bến Sơn Đường
Giấc trưa tỉnh dậy bóng tà
Trời tây nắng quái chói ḷa khép song
Thuyền neo sớm tránh cơn giông
Núi cao chậm thấy mây lồng ánh trăng
Dựa mui bồng ngóng dặm ngàn
Nhẩm ra chớp mắt một năm đăng tŕnh
Sao neo gần vách núi xanh
Đêm nay tiếng vượn thâu canh gợi buồn.
Năm câu đầu, Nguyễn Du tà tỷ mỉ một buổi xế chiều ông chợt tỉnh sau một giấc ngũ trưa
đẫ mắt. Ánh mằt trời chiều thấp gần tới chân trời, lọt qua của sổ thuyền vào trong khoang,
khiến ông phải khép cánh của sổ. Ông ghi lại chi tiết thuyền neo sớm tránh cơn giông, ông
thấy núi cao khiến thấy như trăng mọc trễ. Ra tựa mui thuyền nh́n ra xa, cái quá khứ gần
trong một năm qua lóe hiện, dường như muốn xua đuổi những h́nh ảnh đó, ông lưu tâm
đến con thuyền neo gần vách núi, và e tiếng vưọn sẽ phá giấc ngủ của ông xuốt đêm nay.
Rồi tới thuyền sứ đi qua Đại Than, và Nguyễn Du viết bài:
題 大 灘 馬 伏 波 廟
Đề Đại Than Mă Phục Ba Miếu
鑿 通 嶺 道 定 炎 墟
Tạc thông lĩnh đạo định Viêm khư
蓋 世 功 名 在 史 書
Cái thế công danh tại sử thư
向 老 大 年 矜 钁 鑠
Hướng lăo đại niên căng quắc thước
除 衣 食 外 盡 贏 餘
Trừ y thực ngoại tẫn doanh dư
大 灘 風 浪 留 前 烈
Đại Than phong lăng lưu tiền liệt
古 廟 松 杉 隔 故 閭
Cổ miếu tùng sam cách cố lư
日 暮 城 西 勁 棘 下
Nhật mộ thành tây kinh cức hạ
淫 潭 遺 悔 更 何 如
Dâm đàm di hối cánh hà như
dịch là:
Đề Miếu Phục Ba Tại Đại Than
Mở đường núi đánh Viêm bang
Hơn đ̣i sự nghiệp sử vàng c̣n ghi
Tuổi cao quắc thuóc ra uy
Ngoại trừ cơm áo điều chi cũng thừa
Đại Than lưu dấu công to
Tùng sam miếu cổ quê cha xa vời
Thành tây gai cỏ nơi nơi
Dâm Đàm hối lại chậm rồi biết sao.
Đây là lần thú ba Nguyễn Du dùng truyện Mă Viện cùng nguời em họ tên là Thiếu Du làm
thi liệu. Hai câu đầu ông nhắc lại quân công của Mă Viện mở đường núi tràn xuống miền
Nam đánh quân Hai Bà Trưng. Câu thứ ba kể lại lời vua Hán khen Mă Viện ngày ông mặc áo
giáo nhẩy lên ḿnh ngựa, năm tuổi ngoài sáu chục, tại sân rồng. Câu thứ tư là lời lập luận
của Thiếu Du: “Kẻ sĩ ngoài cơm áo, th́ ở quê hương, trông nom mồ mả ruộng vườn, chứ đâu
cần đi kiếm công danh cho nhọc thân.” để chối bỏ ư nghĩ lo công danh của Mă Viện. Câu năm

và sáu mô tả cảnh miếu thờ Mă Viện tại Đại Than, ngày Nguyễn Du qua đó, nhưng khi Mă
Viện ĺa đời sác không được mang về quê hương an táng. Câu kết nhắc lại truyện Mă Viện
trong cuộc chinh chiến với Hai Bà Trưng, đóng quân tại Hồ Dâm Đàm, gặp kỳ nóng nực, quân
tướng mỏi mệt, hối đă không nghe lời Thiếu Du.
Người đọc dường như thoáng thấy Nguyễn Du muốn tự hỏi ông về truyện lập danh và nếp
sống thanh thản của con người. Hăng hái lập danh rồi thành đạt vẻ vang, để lúc chết sác
không được mang về chôn cất tại quê nhà, như Mă Viện phải chăng cũng là truyện chẳng
nên. Ngược lại, hỏi có nên sống theo nếp sống của Thiếu Du để đạt được niềm yên vui cho
con người hay không.
Tục truyền rằng, trong chuyến mang quân tràn xuống Giao Chỉ, Mă Viện xẻ núi mở sông
để chuyển quân. V́ vậy dân chúng có đường sông đường bộ lưu thông. Thế nên, tại những
khúc sông khúc đèo hiểm trở, ngay cả tại thượng du Bác Việt Nam, dân chúng thường lập
đền miếu thờ Mă Viện.
Tiếp theo, Bắc Hành Tạp Lục, chép bài:
晚 下 大 灘
Văn Hạ Đại Than
新 潦 暴 漲
Tân Lạo Đại Trướng
諸 險 俱 失
Chư Hiểm Câu Thất
銀 河 昨 夜 自 天 傾
Ngân Hà tạc dạ tụ thiên khuynh
江 水 茫 茫 江 岸 平
Giang thủy mang mang giang ngạn b́nh
未 信 鬼 神 能 相 佑
Vị tướng qủy thần năng tướng hựu
盡 教 龍 虎 失 精 靈
Tẫn giao long hổ thất tinh linh
平 居 不 會 講 中 信
B́nh sinh bất hội giảng trung tín
到 處 無 妨 齊 死 生
Đáo xứ vô phương tề tử sinh
更 有 險 巇 饒 十 倍
Cánh hữu hiểm hy nhiêu thập bội
吾 將 何 以 叩 神 明
Ngô tương hà dĩ khấu thần minh.
dịch là:
Chiều Tối Tại Đại Than
Nước Lũ Mới Về
Ngập Mọi Khúc Hiểm
Ngân Hàm trời đổ đêm qua
Mênh mông nước lũ tràn qua đôi bờ
Qủy thần chưa giúp bao giờ
Cọp rồng linh ứng vẩn vơ hoang đương
Tín trung tích cũ coi thường
Tử sinh hạn đến không đường tới lui
Hiểm nguy c̣n chỗ gấp mười
Thần minh thầm khấn tỏ lời sao đây.
Suốt đêm qua mưa nhu trút, nước lũ đổ vể tràn bờ, nhưng khúc nguy hiễm nước ngập

mênh mông. Vốn không tin ỏ truyện qủy thần phù hộ, truyện rồng cộp ra oai là hoang
đường, chẳng như người Đường Giới tin tưởng ở chữ trung tín, không sợ phong ba, nên lúc
này gặp hạn nạn chẳng c̣n biết lo truyện sống chết ra sao. Sông c̣n nhiều khúc nguy hiểm
gấp mười, biết khấn khứa ra sao với thần minh bây giờ.
Thế rồi thuyền sứ cũng b́nh an xuống hết ghềnh.
Nguyễn Du ghi lại niềm vui mừng này trong bài:
下 灘 喜 賦
Hạ Than Hỷ Phú
心 香 拜 禱 將 君 祠
Tâm hương bái đảo tướng quân tỳ
一 棹 中 流 肆 所 之
Nhất trạo trung lưu tứ sở chi
到 處 江 山 如 識 趣
Đáo xứ giang sơn như thức thú
喜 人 蛇 虎 不 施 威
Hỷ nhân xà hổ bất thi uy
萬 珠 松 樹 僧 人 屋
Vạn châu tùng thụ tăng nhân ốc
一 帶 寒 煙 燕 子 磯
Nhất đái hàn yên yến tử ky
寂 寂 船 窗 無 箇 事
Tịch tịch thuyền song vô cá sự
漁 歌 江 上 裉 斜 暉
Ngư ca giang thưọng khấn tà huy.
dịch là:
Mừng Xuống Hết Ghềnh
Ḷng thành thầm khấn qua đền
Thuyền đi một mái lênh đênh giữa ḍng
Cảnh quen mắt núi cùng sông
Mừng sao hổ rắn thoát ṿng tác oai
Nhà sư vạn gốc thông gầy
Xa xa Ḥn Én khói bay một làn
Cửa bồng ngồi tựa thư nhàn
Tiếng ḥ mái đẩy chiều tàn trên sông.
Ngôi đền thuyền sứ đi qua này là ngôi đền thờ Mă Viện như Nguyễn Du đă viết trong bài
Đề Đâi Than Mă Phục Ba Miếu trên đây. Xuống hết ghềnh là thoát nỗi nguy hiểm. Cảnh sông
núi hùng vỹ không c̣n là cảnh lạ mắt với tác giả. Ḷng ông mừng v́ thoát hiểm. Gần đó là
một ngôi chùa nhỏ thoáng hiện sau rừng thông. Xa hơn là Ḥn Én khói phủ. Ngồi bên của
bồng, không có việc ǵ làm. Bên tai chỉ có tiếng hát của người ngư phủ. Đó là nhũng h́nh ảnh
mô tả niềm thanh thản đang tái hiện trong tâm cảnh Nguyễn Du, sau những ngày giờ lo sợ
v́ nỗi nguy hiểm trong cuộc hành tŕnh lên thác xuống ghềnh.
Thuyền sứ b́nh yên vào tới Thương Ngô thuộc tỉnh Hồ Nam ngày nay. Cảnh bên đường gọi
hứng cho Nguyễn Du viết bài:
蒼 梧 即 事
Thương Ngô Tức Sự
虞 帝 南 巡 更 不 還
Ngu Đế nam tuần cánh bất hoàn
二 妃 洒 淚 竹 成 班
Nhị phi sái lệ trúc thành ban

悠 悠 陳 跡 千 年 上
Du du trần tích thiên niên thượng
歷 歷 群 書 一 望 間
Lịch lịch quần thư nhất vọng gian
新 潦 初 添 三 尺 水
Tân lạo sơ thiêm tam xích thủy
浮 雲 不 辦 九 疑 山
Phù vân bất biện Cửu Nghi san
尋 聲 遙 謝 琵 琶 敔
Tầm thanh dao tạ tỳ bà ngữ
千 里 青 衫 不 耐 旋
Thiên lư thanh sam bất nại toàn.
dịch là:
Thương Ngô Túc Sự
Tuần Nam vua Thuấn không về
Hai bà rơi lệ vỏ tre đốm mầu
Ngàn năm tích cũ in sâu
Truyện xưa thanh sử ngàn sau lưu truyền
Lụt sâu ba thước khắp miền
Cửu Nghi mây phủ non tiên mịt mờ
Tỳ bà văng vẳng tạ từ
Áo xanh ngàn dặm c̣n chưa được về.
Vào đất Thương Ngô, Nguyễn Du nhớ đến tích vua Thuấn xa xưa đi tuần thú phương Nam
băng hà tại Thương Ngô. Hai bà phi Nga Hoàng và Nữ Anh nghe tin, t́m đến nơi, thương
khóc, nước mắt rỏ vào những cây trúc bên sông Tương, nơi cả hai bà nhẩy xuống tự trầm, vỏ
trúc lốm đốm, thành một loại trúc gọi là ban trúc, c̣n đến ngảy nay.
Trở lại với hiện cảnh Nguyễn Du chỉ thấy nước lụt sâu tới ba thước khắp miền. núi Cửu
Nghi chín ngọn xa mờ trong mây. Bên tai ông nghe thấy tiếng tỳ bà, lại thương ḿnh làm
quan đi sứ xa xôi vất vả, chưa biết ngày nào mới được về hưu.
Cảnh chiều đất Thương Ngô c̣n tạo nên thi hứng cho Nguyễn Du trong bài kế tiếp:
蒼 梧 暮 雨
Thương Ngô Mộ Vũ
雨 滯 潯 江 曉 發 遲
Vũ trệ Tầm Giang hiểu phát tŕ
梧 城 薄 暮 尚 霏 霏
Ngô thành bạc mộ thượng phi phi
一 江 新 潦 平 三 楚
Nhất giang tân lạo b́nh tam Sở
大 半 夫 雲 駐 九 疑
Đại bán phù vân trú Cửu Nghi
窄 窄 小 舟 難 過 夏
Trách trách tiểu chu nan quá hạ
參 參 長 髮 自 知 夷
Sam sam trường phát tự tri di
平 波 日 暮 湘 潭 遠
B́nh ba nhật mộ Tương Đàm viễn
杯 酒 憑 欄 吊 二 妃
Bôi tửu bàng lan điếu nhị phi.
dịch là:

Chiều Mưa Thương Ngô
Sớm mưa chậm tách bến Tầm
Thương Ngô chiều tối lâm dâm mưa hoài
Lụt tràn Tam Sở trong ngoài
Cửu Nghi mù mịt mây bay la đà
Thuyền này Hoa Hạ khó qua
Tóc dài búi lớn rơ là người Di
Tương Đàm xa thẳm thuyền đi
Bên thuyền điếu viếng Nhị Phi nghiêng b́nh
Giới nghiên cứu cho hay Tầm Dương là khúc sông chẩy qua đất Thương Ngô tỉnh Quảng
Đông. Mưa trên Thương Ngô buổi sáng đă làm thuyền sứ chậm tách bến. Cho đến chiều tối
mưa vẫn chưa tạnh. Nước ngập khắp vùng đất Tam Sở, Chín ngọn Cửu Nghi mờ trong mây.
Con thuyền sứ này quá nhỏ vào Hoa Hạ sẽ khó khăn. Búi tóc người thơ lớn hơn tóc đuôi sam
người Thanh nên dễ nhận ra là người Di, tên người Trung Quốc gọi người Việt Nam. Từ Tầm
Dương đến Tương Đàm đường c̣n xa, nhà thơ nâng chén điếu viếng Nhị Phi của vua Thuấn.
Dọc sông trên đất Thương Ngô, cảnh sinh hoạt tấp nập trên bến dưới thuyền tạo hứng cho
Nguyễn Du viết mười bài theo điệu Trúc Chi, đặt dưới cùng một đầu đề:
蒼 梧 竹 枝 歌
Thương Ngô Trúc Chi Ca
十 五 章
Thập Ngũ Chương
其 一
Kỳ Nhất
桂 林 新 潦 涌 長 川
Quế Lâm tân lạo dũng trường xuyên
水 屋 憑 高 浴 上 天
Thủy ốc bàng cao dục thướng thiên
午 後 東 風 吹 更 急
Ngọ hậu đông phong xuy cánh cấp
往 來 無 數 廣 東 船
Văng lai vô số Quảng Đông thuyền.
其 二
Kỳ Nhị
文 昌 閣 上 夜 燈 明
Văn Xương các thượng dạ đăng minh
一 片 寒 光 射 水 晶
Nhất phiến hàn quang xạ thủy tinh
來 往 悠 船 不 知 數
Lai văng du thuyền bất tri số
滿 江 齊 發 棹 歌 聲
Măn giang tề phát trạo ca thanh
其 三
Kỳ Tam
雨 自 滂 沱 雲 自 癡
Vũ tự bàng đà vân tự si
九 疑 山 色 妄 中 疑
Cửu Nghi sơn sắc vọng trung nghi
虞 王 葬 處 無 丘 墓
Ngu vương táng xứ vô khâu mộ

水 面 絃 聲 似 二 妃
Thủy diện huyền thanh tự nhi phi.
其 四
Kỳ Tứ
青 山 樓 閣 一 層 層
Thanh sơn lâu các nhất tằng tằng
晝 見 煙 霞 夜 見 燈
Trú kiến yên hà dạ kiến đăng
古 寺 無 名 難 問 訊
Cổ tự vô danh nan vấn tấn
白 雲 深 處 臥 山 僧
Bạch vân thâm xứ ngọa sơn tăng.
其 五
Kỳ Ngũ
浪 花 雙 棹 疾 如 飛
Lăng hoa song trạo tật như phi
看 罷 龍 舟 抵 暮 歸
Khán đăi long chu để mộ quy
生 面 相 逢 無 畏 避
Sinh diện tương phùng vô úy tị
瓠 犀 微 露 笑 南 夷
Hồ tê vi lộ tiếu nam di.
其 六
Kỳ Lục
一 聲 裂 竹 散 硫 磺
Nhất thanh liệt trúc tán lưu hoàng
驚 起 沙 汀 鴈 數 行
Kinh khởi sa đinh nhạn sổ hàng
天 際 遙 占 歸 去 處
Thiên tế dao chiêm qui khứ xứ
倉 梧 北 上 定 蘅 陽
Thương Ngô bắc thướng định Hành Dương
其 七
Kỳ Thất
長 江 破 浪 渺 無 涯
Trường giang phá lăng diểu vô nhai
三 五 遊 船 趁 夜 開
Tam ngũ du thuyền sấn dạ khai
無 月 無 燈 看 不 見
Vô nguyệt vô đăng khán bất kiến
琵 琶 聲 自 水 中 來
Tỳ bà thanh tự thủy trung lai.
其 八
Kỳ Bát
雞 籠 山 在 水 中 央
Kê Lung sơn tại thủy trung ương
萬 頃 湮 波 共 渺 茫
Vạn khoảnh yên ba cộng diểu mang

相 約 東 家 具 舟 楫
Tương ước đông gia cụ chu tiếp
天 妃 閣 上 共 焚 香
Thiên phi các thưọng cộng phần hương.
其 九
Kỳ Cửu
城 北 山 榴 紅 更 紅
Thành bắc sơn lưu hồng cánh hồng
城 南 垂 柳 不 禁 風
Thành nam thủy liễu bất câm phong
絮 飛 花 落 無 人 筦
Nhứ phi hoa lạc vô nhân quản
一 夜 隨 流 到 廣 東
Nhất dạ tùy lưu đáo quảng đông.
其 十
Kỳ Thập
斑 竹 湮 筒 尺 二 長
Ban xích yên đồng xích nhị trường
茶 甌 浮 動 雨 前 香
Trà âu phù động vũ trà hương
一 來 一 往 人 無 問
Nhất lai nhất văng nhân vô vấn
獨 倚 船 窗 正 恨 郎
Độc ỷ thuyền song chính hận lang.
其 十 一
Kỳ Mười Một
十 隻 龍 舟 一 字 陳
Thập chích long chu nhất tự trần
敲 鑼 撾 鼓 吊 靈 圴
Xao la qua cổ điếu linh quân
黃 花 閨 女 貪 行 樂
Hoàng hoa thôn nữ tham hành lạc
跳 出 船 頭 不 避 人
Khiêu xuất thuyền đầu bất tị nhân
其 十 二
Kỳ Thập Nhị
棠 舟 闌 楫 日 繽 紛
Đường chu lan tiếp nhật tân phân
往 往 來 來 不 厭 頻
Văng văng lai lai bất yếm tần
記 取 畫 船 三 五 隻
Kư thủ ngọa thuyền tam ngũ chích
最 風 流 是 布 衣 人
Tối phong lưu thị bố y nhân.
其 十 三
Kỳ Mười Ba
沿 城 楊 柳 不 勝 柔
Duyên thành dương liễu bất thăng nhu

葉 葉 絲 絲 未 及 秋
Diệp diệp ti ti vị cập thu
好 向 風 前 看 搖 曳
Hảo hướng phong tiền khán dao duệ
最 顛 狂 處 最 風 流
Tối điên cuồng xú tối phong lưu.
其 十 四
Kỳ Mười Bốn
長 裙 褶 褶 曳 輕 綃
Trường quần tập tập duệ khinh tiêu
雲 髻 峨 峨 擁 翠 翹
Vân thúy nga nga ủng thúy kiều
嬴 得 鬼 頭 滿 曩 口
Doanh đắc qủy đầu măn nẵng khẩu
憑 君 無 福 也 能 消
Bằng quân vô phúc dă năng tiêu.
其 十 五
Kỳ Thập Ngũ
船 尾 燈 籠 四 尺 竿
Thuyền vĩ dăng lung tứ xích can
船 頭 畫 虎 黑 斑 斑
Thuyền đầu họa hổ hắc ban ban
布 旂 上 寫 巡 河 字
Bố kỳ thuong tả tuần hà tụ
只 詰 花 船 不 詰 奸
Chỉ cật hoa thuyền bất cật gian.
dịch là:
Cảnh Thương Ngô
Theo Điệu Ca Trúc Chi
Mười Lăm Khúc
I
Quế Lâm nước lũ mông mênh
Nhà bè theo sóng dập dềnh thấp cao
Xế trưa gió động ào ào
Trên sông thuyền Quảng ra vào như nêm.
II
Văn Xương sáng rực đêm đêm
Lung linh mặt nước ánh đèn long lanh
Thuyền chơi qua lại bồng bềnh
Đầy sông tiếng hát lênh đênh khoan ḥ.
III
Mưa tầm tă mây lũng lờ
Cửu Nghi sác núi mịt mờ ngất cao
Mồ vua Ngu đặt noi nao
Tiếng đàn mặt nước đưỏng dâu hai bà.
IV
Thanh Sơn lầu gác như nêm

Ngày ngày mờ khói đêm đêm đơ đèn
Chừa xua chưa hỏi được tên
Sư già ngon giấc ngủ bên mây mù.
V
Chèo hoa quẫy sóng như bay
Cuộc đua thuyền măn trời tây chiều về
Gặp người Nam chăảng e dẻ
Hạt bầu trắng nhở hề hề nhăn răng.
VI
Đ́ đùng pháo nổ khói xanh
Băi xa đàn nhạn giật ḿnh bay cao
Lưng trời t́m hướng xứ nào
Thương Ngô ngược bắc thẳng vào Hành Dương
VII
Trường Giang sóng gợn không bờ
Thuyền choi dăm lá mịt mờ bóng đêm
Vắng trăng không cả ánh đèn
Tỳ bà văng vẳng bên thuyền thoáng nghe.
VIII
Ḥn Kê Lung nổi giữa sông
Ḷng tṛi ngàn lớp khói vương la đà
Hẹn chủ thuyển sẵn chèo hoa
Lên Thiền Phi miếu hai Bà thắp hương.
IX
Bắc thành lựu đỏ đỏ thêm
Cửa nam gió thoảng liễu mềm khoe xinh
Lựu tàn liễu rối mặc t́nh
Một đêm thuận gió tới thành Quảng Đông
X
Thước hai ống điếu trúc hoa
Vũ Tiền thoang thoảng hương trà thanh tao
Ngưọc xuôi giáp mặn chẳng chảo
Cửa bồng ngồi tựa nôn nao giận chồng.
XI
Thuyền rồng chữ nhất hàng mười
Khua chiêng góng trống tế người Linh Quân
Hoa vàng cài tóc gái xuân
Mải vui ra tận mũi thuyền lấn chen.
XII
Chèo lan thuyền quế rộn ràng
Lượn đi lượn lại dọc ngang lững lờ
Năm ba thuyền khéo điểm tô
Khách phong lưu nhất vải thô trên người.
XIII
Thướt tha dáng liễu bên thành
Mùa thu chưa tới lá xanh khoe mềm

Lắng nh́n trước gió làm duyên
Càng điên cuồng lắm càng thêm mặn mà.
XIV
Thướt tha lụa mỏng quần dài
Búi cao lông thúy trâm cài tóc tiên
Nếu may được bạc sẵn tiền
Cho bằng vô phúc t́nh duyên vẫn nồng.
XV
Cột dèn bốn thước đuôi thuyền
Mũi thuyền vẽ hổ vằn đen vằn vàng
Tuần Hà đề chữ rơ ràng
Thuyền hoa xét hỏi thuyền gian tảng lờ


15. 陶 淵 明 詩 選 , ibid. 張 67.

16. 唐 詩 三 百 首. 退 士 編 訂. 新 生 出 版 社. 香 港. 章 二 二 二
 

17. Theo bản dịch của Đào Duy Anh. Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, Văn Học, Hà Nội 1988, tr.189

 

 

 

 

 

Xem KỲ 10

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com