www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THƠ VIỆT ÂM
Của Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 08:

 

南 中 雜 吟

Nam Trung Tạp Ngâm

 

Tiếp Kỳ 07

 

 

Hai bài cuối chép trong Nam Trung Tạp Ngâm là hai bài Nguyễn Du viết thay người đi thú lâu năm mong được về quê quán, để giăy bày niềm mong ước của ông được về quê hương.


代 作 久 戌 思 歸
Đại Tác Cửu Thú Tư Quy
二 首
Nhị Thủ


其 一
Kỳ Nhất


關 外 秋 風 送 笛 吹
Quan ngoại thu phong tống địch xuy
班 超 頭 白 未 成 歸
Ban Siêu đầu bạch vị thành quy
十 年 許 國 君 恩 重
Thập niên hứa quốc quân ân trọng
千 里 離 家 旅 夢 遲
Thiên lư ly gia lữ mộng tŕ
夜 繡 榮 花 身 外 幻
Dạ tú vinh hoa hân njgoại huyễn
朝 雲 名 利 眼 前 非
Triêu vân danh lợi nhăn tiền phi
隴 阡 歲 歲 瓜 田 熟
Lũng niên tuế tuế qua điền thục
苦 盡 甘 來 尚 有 期
Khổ tận cam lai thượng hữu kỳ.

 


其 二
Kỷ Nhị


千 仞 橫 山 一 帶 河
Thiên nhẫn Hoành Sơn nhất đái hà
白 雲 回 扌 隔 天 涯
Bạch vân hồi thủ cách thiên nhai
新 秋 氣 候 催 寒 杵
Tân thu khí hậu thôi hàn chữ
故 國 關 山 寄 夜 笳
Cố quốc giang sơn kư dạ già
天 地 一 身 忠 易 孝
Thiên địa nhất thân trung dịch hiếu
風 塵 萬 里 國 忘 家
Phong trần vạn lư quốc vong gia
月 中 橫 笛 太 無 賴
Nguyệt trung hoành địch thái vô lại
半 夜 江 城 吹 落 花
Bán dạ giang thành xuy lạc hoa.


dịch là:

Viết Thay Người Đi Thú
Lâu Năm Nhớ Nhà
Hai bài


I


Ải xa tiếng sáo gió đưa
Chàng Siêu đầu bạc vẫn chưa được về
Mười năm việc nước nặng nề
Đêm dài tàn mộng nhớ quê bàng hoàng
Hăo huyền vinh hiển nào màng
Lợi danh trước mắt mây vàng sương mai
Bao năm dưa chín hẹn sai
Hạn qua rồi cũng tới ngày về quê.


II


Sông ngănThiên Nhẫn Hoành San
Chân trời trắng xóa mây ngàn bốn phương
Thu về chẩy vải nện sương
Kèn đêm gợi mối đoạn trường nhớ quê
Lấy trung thay hiếu trọn bề
Quên nhà v́ nước chẳng nề gió mưa
Dưới trăng tiếng sáo vẳng đưa
Lạc Hoa réo rắt canh khuya bên thành.


Thanh Hiên Thi Tập có chép bài Đại Nhân Hư Bút của Nguyễn Du, thay người viết đùa để mô tả cảnh sống sa sỉ của một người giầu có phung phí không nghĩ tói cảnh gió bụi ỏ biển Nam. Hai bài cuối Nam Trung Tạp Ngâm trên đây, Nguyễn Du cũng viết thay người lính thú xa nhà đă lâu, mơ về bản quán.
H́nh ảnh tiêu biểu người lính thú xa nhà lâu năm trong bài thứ nhất là h́nh ảnh của Ban Siêu, quen thuộc trong văn học Việt Nam qua câu Chinh Phụ Ngâm:


Chàng Siêu tóc đă điểm sương chưa về.
Ban Siêu là một ông Tướng đới Đông Hán đi chinh phục các nước vùng Tây Vực, hơn ba chục năm, ngày về th́ đă già. Người lính thú trong thơ xa nhà cũng đă mười năm. Trong mộng vẫn mo về bản quán.


Vinh hiển là hăo huyền, danh lợi khác nào nắng chiều sương mai. Đă bao lần hẹn về mà chua được về. Nhưng chắc rồi một mai sẽ có ngày về.


Bài thứ hai ghi lại cảnh người lính thú đóng đồn ở miền Hoành Sơn và Thiên Nhẫn, hai địa điểm ở hai bên bờ sông Gianh. Thi cảnh là cảnh trời vào thu, khiến người lính thú nhớ nhà, nhưng tự nhủ lấy trung thay hiếu, v́ nước chẳng ngại gió mưa, và bên tai c̣n nghe tiếng sáo
năo nuột tấu bài Lạc Hoa.


Người đọc, qua hai bài trên đây, dường như thấy Nguyễn Du không c̣n nôn nóng muốn về Hồng Lĩnh như trong nhiều bài khác. Trong những đêm nhớ nhà người tha hương không c̣n màng vinh hiển, không c̣n ước vọng lợi danh, nhưng vẫn đặt phép công trên niềm riêng, và vững tin là rồi ra sẽ đưọc về bản quán.


北 行 雜 錄
Bắc Hành Tạp Lục


Tập Bắc Hành Tạp Lục gồm 120 bài dưới 110 đề mục, gồm những bài Nguyễn Du sáng tác  trong chuyến đi sứ sang triều đ́nh nhà Thanh (1813-1814).


Ông mở đầu tập thơ bằng một bài ca dài năm mươi câu, kèm theo một tiểu dẫn, ghi lại cuộc tái ngộ giữa ông và một tay đàn lăo luyện trong đội nũ nhạc triếu nhà Lê mà ông đă được gặp, ngoài hai chục năm trước, tại nhà anh ông, lúc đó làm quan cho nhà Tây Sơn , và ông hăy c̣n là một thư sinh. Đó là bài:


Bài Ca Tay Đàn Long Thành17
Tiểu Dẫn:


Tay đàn Long Thành ấy, không rơ tên họ là ǵ. Nghe nói thủa nhỏ nàng học đàn nguyệt trong đội nữ nhạc ở cung vua Lê. Quân Tây Sơn kéo ra, các đội nhạc cổ kẻ chết, người bỏ đi. Nàng lưu lạc ở các chợ, ôm đàn hát rong. Nhưng bài nàng gẩy đều là những khúc cung phụng trong cung cấm, người thường không ai được nghe, khiến tài đàn của nàng nổi tiếng hay nhất một thời.


Hồi c̣n trẻ, đến kinh thành thăm anh tôi, ở gần hồ Giám. Cạnh đó các quan Tây Sơn mở cuộc hát lớn, con hát đẹp có tới vài chục người. Nàng sở trường đàn nguyệt, hát cũng hay và khéo nói khôi hài. Mọi người say mê, đua nhau ban thưởng từng chén rượu lớn, nàng cạn chén ngay, tiền và lụa thưởng nhiều vô kể, chống chất đẩy mặt đất. Lúc đó tôi nấp trong bóng tối, không được thấy rơ lắm. Sau được gặp ở nhà anh tôi. Nàng người thấp, má bầu trán gô, mặt gẫy, không đdẹp lắm, nhưng nước da trắng trẻo thân h́nh đẫy đà, khéo trang diểm, lông mày thanh, má đánh phấn, áo mầu hồng, quần lụa cánh trả, có vẻ phong nhă.


Nàng hay uống rượu, hay nói pha tṛ, con mắt long lanh, không coi ai ra ǵ. Khi ở nhà anh tôi, mỗi lần uống rượu th́ nàng uống say đến nỗi nôn bừa bải, nằm lăn ra đất, các bạn có chê trách cũng không để tâm. Sau đó vài năm tôi dời nhà về nam, mấy năm liền không trở
lại Long Thành.


Mùa xuân năm nay, tôi phụng mệnh sang sứ Trung Quốc, trên đường đi qua Long Thành, các quan mỏ tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên Phủ, gọi tất cả vài chục nữ nhạc, tôi đều không biết mặt biết tên. Chị em thay nhau múa hát. Rồi nghe một khúc đàn nguyệt trong trẻo nổi lên, khác hẳn nhũng khúc thường nghe, tôi lấy làm lạ, nh́n người gẩy đànth́ thấy một chị gầy g̣, vẻ tiểu tụy, sắc mặt đen sạm, xấu như qủy, áo quần mặc toàn vải thô bạc thếch, vá nhiều miếng trắng, ngồi im ở cuối chiếu, chẳng hề nói cười, h́nh dung thật khó coi. Tôi không biết nàng là ai, nhưng nghe tiếng đàn th́ dường như đă từng quen biết, nên động ḷng thương.


Tiệc xong, hỏi th́ chính là người trước kia đă gặp.
Than ôi! người ấy sao đến nỗi thế! Tôi bồi hồi, không yên, ngửng lên cúi xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa và nay. Người ta trong cơi trăm năm, nhưng sự vinh nhục buồn vui thật không lường được. Sau khi từ biệt, trên đường đi, cảm thương vô hạn nên làm bài ca sau để ghi lại mối cảm hứng.


龍 城 琴 者 歌
Long Thành Cầm Giả Ca
龍 城 佳人
Long Thành giai nhân
姓 氏 不 記 清
Tính thị bất kư thanh
獨 擅 阮 琴
Độc thiện Nguyễn cầm
舉 城 之 人 以 琴 名
Cử thành chi nhân dĩ cầm danh
學 得 先 朝 宮 中 供 奉 曲 5
Học đắc tiên triều trung cung phụng khúc
自 是 天 上 人 間 第 一 名
Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất danh
余 憶 少 時 曾 一 見
Dư ức thiếu thời tằng nhất kiến
鑑 湖 湖 遍 夜 開 宴
Giám hồ hồ biên dạ khai yến
其 時 三 七 正 芳 年
Kỳ thời tam thất chính phương niên
 

紅 妝 奄 曖 桃 花 面 10Hồng trang yểm ái đào hoa diện
酡 顏 憨 態 最 宜
Đà nhan hám thái tối nghi nhân
歷 亂 五 聲 隨 手 變
Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến
緩 如 疏 風 渡 松 林
Hoăn như sơ phong độ tùng lâm
清 如 雙 鶴 鳴 在 陰
Thanh như song hạc minh tại âm
烈 如 薦 福 碑 頭 碎 霹 靂 15Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái tích lịch
哀 如 莊 舄 病 中 為 越 吟
Ai như Trang Tích bệnh trung vi Việt ngâm
聽 者 靡 靡 不 知 倦
Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện
便 是 中 和 大 內 音
Tiện thi Trung Ḥa đại nội âm
西 山 諸 臣 滿 座 盡 傾 捯
Tây Sơn chư thần măn tọa tận khuynh đảo
徹 夜 追 歡 不 知 飽 20Triệt dạ truy hoan bất tri băo
左 拋 友 擲 爭 纏 頭
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
泥 土 金 錢 殊 草 草
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
豪 花 意 氣 凌 王 候
Hào hoa ư khí lăng vương hầu
五 陵 少 年 不 足 道
Ngũ lăng thiếu niên bất túc đạo
并 將 三 十 六 宮 春 25Tinh tương tam thập lục cung xuân
活 做 長 安 無 價 寶
Hoạt tố Trường An vô giá bảo
此 席 回 頭 二 十 年
Thử tịch hồi đầu nhị thập niên
西 山 敗 後 余 南 遷
Tây Sơn bại hậu dư nam thiên
咫 尺 龍 城 不 復 見
Chỉ xích Long Thành bất phục kiến
何 況 城 中 歌 舞 筳 30Hà huống thành trung ca vũ diên
宣 撫 使 君 為 余 重 買 笑
Tuyên phủ sú quân vị dư trùng măi tiếu
席 中 歌 妓 皆 年 少
Tịch trung ca kỷ giai niên thiếu
席 末 一 人 髮 半 花
Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa
顏 瘦 神 枯 形 略 小
Nhan sấu thần khô h́nh lược tiểu
狼 射 殘 眉 不 飾 妝
Lang tạ tàn my bất sức trang
誰 知 就 是 當 時 成 中 第 一 妙 35Thùy tri tựu thị đương thời thành trung đệ nhất diệu
舊 曲 聲 聲 暗 淚 垂
Cựu khúc thanh thanh ám lệ thùy

耳 中 靜 聽 心 中 悲
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
猛 然 憶 起 二 十 年 前 事
Mănh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
鑑 湖 席 中 曾 見 之 40Giám hồ tịch trung tằng kiến chi
城 郭 推 移 人 事 改
Thành quách suy di nhân sự cải
幾 處 桑 田 變 滄 海
Kỷ xứ tang điền biến thương hải
西 山 基 業 盡 消 亡
Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong
歌 舞 空 遺 一 人 在
Ca vũ không di nhất nhân tại
瞬 息 百 年 能 幾 時 45Thuấn tức bách niên năng kỷ th́
傖 心 往 事 淚 沾 衣
Thương tâm văng sự lệ triêm y
南 河 歸 來 頭 盡 白
Nam hà quy lai đầu tận bạch
怪 底 佳 人 顏 色 衰
Quái để giai nhân nhan sắc suy
雙 眼 瞪 瞪 空 想 像
Song nhăn trừng trừng không tưởng tượng
可 憐 對 面 不 相 知 50Khả liện đối diện bất tương tri.


dịch là


Bài Ca “Tay Đàn Long Thành”
Có người đẹp đất Long Thành
Chẳng ai biết rơ tính danh là ǵ
Nguyễn cầm nổi tiếng một th́
Thiên tài đàn nguyệt kinh kỳ gọi tên
5 Học đàn triều trước chân truyền
Một chương Cung Phụng tài riêng hơn đời
Nhớ ngày trai trẻ xa vời
Tiệc bên hồ Giám gặp người tài danh
Tuổi vừa hăm mốt xuân xanh
10Áo hồng ghen thắm nét thanh hoa đào
Men tô cặp má đỏ au
Năm cung réo rắt năm đầu ngón tay
Khoan như gió thoảng thông gầy
Trong như tiếng hạc ngang mây gọi đàn
15Mạnh như sét đánh bia tàn
Buồn như tiếng mẹ mớ tràn trong mơ
Người nghe sửng sốt sững sờ
Rơ là tiếng nhạc điện vua Trung Ḥa
Quan Tây Sơn chiếu tiệc hoa
20Mải vui quên cả canh gà tàn đêm
Tranh nhau gieo thưởng say mèm
Coi như bùn đất bạc tiền văi vung
Hào hoa nào kèm đế vương
Kể chi bọn trẻ ngông cuồng Ngũ Lăng
25Dường ba mươi sáu cung xuân

 

Đúc nên vật báu Trường An đêm này
Hai mươi năm ấy đến nay
Tây Sơn suy xụp ta rày về Nam
Long Thành gang tấc cách ngăn
30Huống chi câu hát tiếng đàn năm xưa
Nặng t́nh sứ bộ tiễn đưa
Tiệc hoa kỹ nữ tuổi vừa tṛn trăng
Tóc sương cuối chiếu một nàng
Thân h́nh nhỏ bé khô khan bơ phờ
35Mày thô lâu chẳng điểm tô
Thiên tài đàn nguyệt ai ngờ nổi trôi
Khúc xưa từng tiếng nhạc trời
Tai nghe ruột xót lệ rơi ṛng ṛng
Truyện xưa hai chục năm tṛn
40Tiệc bên hồ Gián riêng ḷng chưa quên
Cảnh đời dâu biển nào bền
Thành xiêu quách đổ mấy phen đổi dời
Tây Sơn nghiệp cả đâu rồi
Mà làng ca vũ c̣n người ngồi đây
45Trăm năm chớp mắt chưa đầy
Cảm thương truyện cũ đắng cay lệ trào
Vào nam ra bắc bạc đầu
Trách ǵ nhan sắc pha mầu gió sương
Ngỡ ngàng đôi mắt trừng trừng
Quen mà hóa lạ xót thương nên ḷi.


Đọc hết Long Thành Cầm Giả Ca người đọc thơ chợt liên tưởng tới bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, dài tám mươi tám câu. Cả hai bài cùng dùng tiếng đàn nối kết cầm giả với người thơ. Nhưng dường như sự tương đồng giữa hai áng thơ ngừng tại đây. Tỳ Bà Hành ghi lại cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa tay đàn và người thơ. Tay đàn đă về già, rơi vào cảnh cùng khốn, tiếc nuối lại thời son trẻ của ḿnh. Người thơ đang bị biếm đi vùng đất nghèo khổ, bởi đó có sự thông cảm qua tiếng đàn, giữa người đàn và người thơ, và người thơ v́ nguời đàn viết thành bài thơ dài. Long Thành Cầm Giả Cả kể lại cuộc tái ngộ giữa tay đàn và người thơ, nhân dịp quan tổng trấn Bắc Thành mở tiệc tiếp đón sứ bộ, do người thơ hướng dẫn, dừng chân tại Thăng Long. Tiếng đàn khiến người thơ nhớ lại cuộc hội ngộ đầu tiên giữa ông và cầm giả hai chục năm về trước tại một bữa tiệc của các quan Tây Sơn, mà ông không được dự, bên hồ Giám. Hai chục năm đó là thời gian diễn tiến của một cuộc đại hóa. Mọi sự đều vô thường: thành xiêu quách đổ, triều chính thay đổi vài ba lần. Trong đại hóa đó, thời gian đă làm cả cẩm giả và nhà thơ cùng già đi, nhưng cả hai vẫn c̣n sống nổi qua cuộc đại hóa.


Cuộc đại hóa như một ngọn sóng, đưa cầm giả từ đỉnh sóng xuống sâu ḷng sóng, và ngược lại đưa người thơ từ ḷng sóng lên ngọn sóng. Lên hay xuống âu là mệnh trời. Người thơ và cầm giả cùng nhận ra nhau, nhưng không một lời trao đổi. Nhà thơ v́ cầm giả và cũng v́ đại hóa viết thành áng thơ dài.


Nhân vụ sứ bộ tạm nghỉ tại Thăng Long, Nguyễn Du viết ba bài dưới đây. Một là:


昇 龍
Thăng Long


二 首
Nhị Thủ
傘 嶺 瀘 江 歲 歲 同
Tản lỉnh Lô giang tuế tuế đồng
白 頭 猶 得 見 昇 龍
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
千 年 巨 室 成 官 道

Thiên niên cự thất thành quan đạo
一 片 新 城 沒 故 宮
Nhất phiến tân thành một cố cung
相 識 美 人 看 抱 子
Tương thức mỹ nhân khán băo tủ
同 遊 俠 少 盡 成 翁
Đồng du hiệp thiếu tận thành ông
關 心 一 夜 苦 無 睡
Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy
短 笛 聲 聲 明 月 中
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung
二 首
Nhị Thủ
古 時 明 月 照 新 成
Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
猶 是 昇 龍 舊 帝 京
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
衢 巷 四 開 迷 舊 跡
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
管 弦 一 變 雜 新 聲
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
千 年 富 貴 供 爭 奪
Thiên niên phú quư cung tranh đoạt
早 歲 親 朋 半 死 生
Tảo tuế thân bàng bán tủ sinh
世 事 浮 沉 休 嘆 息
Thế sụ phù trầm hưu thán tức
自 家 頭 白 亦 星 星
Tự gia dầu bạch diệc tinh tinh.


dịch là:


Thăng Long
Hai Bài


I


Lô chưa cạn Tản chưa ṃn
Bạc đầu lại thấy Thăng Long tủi mừng
Nhà xưa nay phá làm đường
Thành đây xóa cảnh cổ cung huy hoàng
Giai nhân con bế con bồng
Bạn chơi ngày trước nên ông cả rồi
Suốt đêm thao thức không thôi
Vẳng nghe tiếng sáo khắp trời sáng trăng


I I


Trăng soi thành mới lung linh
Thăng Long đất cũ đế kinh bao đời
Dọc ngang đường mới đổi dời
Sáo đàn nhịp điệu khác thời trước xa
Ngàn năm phú quư tranh đua
Bạn bè quá nửa thân sơ mất rồi
Há than ch́m nổi việc đời
Trên đầu mái tóc rối bời trắng tinh.

 

Giới nghiên cứu tính ra là Nguyễn Du trở lại Thăng Long sau khoảng mụi năm. Làn sóng đại hóa, mà ông ghi lại trong bài Long Thành Cầm Giả Ca, cũng thấy rơ tại cảnh Thăng Long: nhà xưa phá mở đường, thành mới xóa cảnh cung điện cũ, người đẹp nay con bế con dắt, bạn chơi thành ông già. Suốt đêm người thơ không ngủ, nằm nghe tiếng sáo nh́n trăng sáng.


Sang bài thứ hai, ông cũng ghi lại những chuyển biến tại Thăng Long: sau cả ngàn năm là đất đế kinh, nay triều đ́nh đă dời vào Huế. Đường phố khác xưa, cả nhịp đàn tiếng sáo, tượng trưng cho hoạt động văn hóa, cũng thay đổi khác trước. Bạn bè nửa mất nửa c̣n.


Ông tụ nhủ chẳng nên than thở v́ thế sự. Trên đầu ông mái tóc cũng trắng hết rồi.


Bài thứ hai là bài Nguyễn Du ghi lại t́nh người trong chuyển biến của đại hóa:


遇 家 弟 舊 歌 姬
Ngộ Gia Đệ Cựu Ca Cơ
繁 華 人 物 亂 來 非
Phồn hoa nhân vật loạn lai phi
玄 鶴 歸 來 幾 個 知
Huyền hạc quy lai kỷ cá tri
紅 袖 曾 聞 歌 宛 轉
Hồng tụ tằng văn ca uyển chuyển
白 頭 相 見 哭 流 離
Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly
覆 盆 已 矣 難 收 水
Phúc bồn dĩ hĩ nam thu thuỷ
斷 藕 傷 哉 未 絕 絲
Đoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ti
見 說 嫁 人 已 三 子
Kiến thuyết giá nhân dĩ tam tử
可 憐 猶 著 去 時 衣
Khả liên do trước khứ thời y.


dịch là:


Gặp Nàng Hầu Cũ Của Em
T́nh người loạn lạc khác xưa
Hạc đen trở lại trước giờ nhớ quên
Áo hồng tiếng hát nghe quen
Bạc đầu gặp gỡ khóc niềm nổi trôi
Bồn nghiêng nước đổ đành thôi
Cuống sen dầu gẫu tơ trời c̣n vương
Lấy chồng nay đă ba con
Thương cho áo cũ hăy c̣n mầu xưa.


Giới nghiên cứu cho rằng người em Nguyễn Du trong bài trên đây là Nguyễn Ức, em cùng mẹ với ông. Nguyễn Ức tập ấm làm quan vơ trong cung vua Lê Chiêu Thống. Dưới triều vua Gia Long được triệu vào Huế làm thiêm sự bộ Công, phụ trách việc xây dựng miếu điện.


Loạn lạc, ḷng nguời đổi khác, nay Nguyễn Du như cánh hạc đen, trở lại chốn cũ, kẻ nhớ người quên. Ông nghe tiếng hát quen mà nhận ra người ca từng là nàng hầu của em ông, gặp nhau mà rớt nước mắt v́ thời thế. Bồn nghiêng nước đổ làm sao vớt lại được. Cuống sen dầu gẫy nhưng tơ mành c̣n vương. Giờ nàng lấy chồng đă có ba con. Tấm áo mặc trên người vẫn là tấm áo năm xưa. Phải chăng đó là h́nh ảnh của t́nh người trong đại hóa?
Trên đường ngược Bắc sang Trung Quốc, năm nay (1813) Nguyễn Du lại đi qua Ải Chi Lăng và thành Lạng Sơn, những địa điểm ông đă qua nhân dịp đi đón sứ bộ nhà Thanh sang phong vương cho vua Gia Long (1802) mười một năm về trước.


Trước khi tới Ải Chi Lăng, ông đi qua Miếu Mă Viện và đề lại bài:


夾 城 馬 伏 波 廟
Giáp Thành Mă Phục Ba Miếu

六 十 老 人 筋 力 衰
Lục thập lăo nhân cân lực suy
據 鞍 被 甲 疾 如 飛
Cứ yên bị giáp tật như phi
殿 庭 只 博 君 王 笑
Điện đ́nh chỉ bác quân vương tiếu
鄉 里 寧 知 兄 弟 悲
Hương lư ninh tri huynh đệ bi
銅 柱 槿 能 欺 越 女
Đồng trụ cẩn năng khi Việt nữ
珠 車 畢 竟 累 家 兒
Châu xa tất cánh lụy gia nhi
姓 名 合 上 雲 薹 畫
Tính danh hợp thưọng Vân Đài họa
猶 向 南 中 索 歲 時
Do hướng Nam trung sách tuế th́.


dịch là:


Miếu Phục Ba Ở Giáp Thành
Sáu mươi suy yếu chuyện thường
Riêng ông binh giáp yên cương hơn đời
Sân rồng mong đưọc vua cười
Anh em thương sót t́nh người dửng dưng
Gái Nam nạt nộ cột đồng
Xe châu để lụy cả ḍng gia nhi
Vân Đài tên họ chẳng ghi
Hướng Nam sách nhiễu đ̣i ǵ nữa đây.


Theo giới nghiên cứu, Giáp Thành, ở phía nam ải Chi Lăng. Phục Ba Miếu là miếu thờ tướng nhà Hán Mă Viện đă mang quân sang đánh Hai Bà Trưng. Theo Hậu Hán Thư, khi ngoài sáu chục tuổi c̣n xin vua cho đi đánh dẹp ở Man Động Ngũ Khê, trong tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Vua Hán không cho, Mă Viện mặc áo giáp, nhẩy lên lưng ngựa tỏ sức mạnh của ḿnh. Vua cười và phán rằng: ‘Ông c̣n quắc thước lắm’. Em họ Mă Viện là Thiếu Du lo cho Mă Viện mà nói rằng: “Kẻ sĩ chỉ cần lo đủ cơm áo, làm nguời dân lành trong làng, đi xe nhỏ cưỡi ngựa gầu, lo giữ mồ mả tổ tiên, cần chi phải khổ thân đi kiếm công danh.” Câu thứ năm Nguyễn Du nhắc tới truyền thuyết về câu đồng trụ triết Giao Chỉ diệt, của Mă Viện sau khi thắng quân Hai Bà Trưng. Tiếp theo là tích Mă Viện quen ăn ư dĩ để chống chướng khí ở miền Nam, khi trở về nước cũng tải về một xe. Rồi đến chuyện vua Hán cho tạc tượng hai mươi tám công thần ở Vân Đài mà không cho tạc tưọng Mă Viện. Khi Mă Viện chết, có người tâu vua là Mă Viện chở về một xe hạt trai, làm vua Hán nổi giận, vợ con không dám mang xác về quê, vả phải chôn ở phía tây thành Hồ Nam.


Ba chữ Hương lư ninh trong câu thứ năm bài Giáp Thành Mă Phục Ba Miếu gợi cho người đọc bốn chữ trạch xa đoạn mă trong câu kết bài Mạn Hứng I, Thanh Hiên Thi Tập. Cả hai cùng trích dẫn lời Thiếu Du, em họ của Mă Viện bàn về ḷng ham danh vọng của Mă Viện. Điểm đáng chú ư khác là Nguyễn Du viết bài Mạn Hứng I trong tḥi gian tản cư ăn nhờ ở đậu thiếu thốn vật chất, và lần thứ hai lúc đang hướng dẫn sứ bộ sang triều đ́nh nhà Thanh. Người đọc không khỏi tự hỏi là phải chăng h́nh ảnh Thiếu Du trong bài Mạn Hứng giúp Nguyễn Du yên ḷng trong cảnh khó khăn; trái lại h́nh ảnh Thiếu Du trong bài Giáp Thành Mă Phục Ba Miếu nói lên cái vô nghĩa của hai chữ danh vọng. Hai chữ này trói buộc ông gần hai chục năm qua mà ông cố gỡ không ra.


Qua ải Chi Lăng, Nguyễn Du viết bài:


鬼 門 關
Quỷ Môn Quan

連 峰 高 插 入 青 雲
Liên phong cao sáp nhập thanh vân
南 北 關 頭 就 此 分
Nam bắc quan đầu tựu thử phân
如 此 有 名 生 死 地
Như thử hữu danh sinh tử địa
可 憐 無 數 去 來 人
Khả liên vô số khú lai nhân
塞 途 叢 莽 藏 蛇 虎
Tắc đồ tùng măng tàng xà hổ
布 野 煙 嵐 聚 鬼 神
Bố dă yên lam tụ qủy thần
終 古 寒 風 吹 白 骨
Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt
奇 功 何 取 漢 將 軍
Kỳ công hà thủ Hán tướng quân.


dịch là:


Ải Quỷ Môn


Núi non ṿi vọn mây xanh
Đôi bờ Nam Bắc phân ranh chốn này
Hiểm nghèo sống chết nơi đây
Đi mười về một bỏ thây thương người
Hang hùm tổ rắn khắp nơi
Ma thiêng khí độc đầy trời chướng lam
Gió đùa xương trắng ngàn năm
Kỳ công tướng Hán hỏi làm sao khen.


Đối chiếu bài Quỷ môn Quan trên đây với bài Quỷ Môn Đạo Trung, chép trong Thanh Hiên Thi Tập, mà tác giả làm ngoài mười năm trước, người đọc thấy rơ là lần qua ải Chi Lăng này Nguyễn Du không c̣n bận tâm v́ nỗi nhớ nhà, không thèm một giấc ngủ yên ổn trong một buổi sáng lạnh trời; trái lại ông ông ghi lại chi tiết cảnh bên đường, b́nh tĩnh bàn về cái chết phi lư của hàng vạn quân, để một ông tướng lập được kỳ công, danh ghi sử xanh.


Tiếp theo là bài:


諒 城 道 中
Lạng Thành Đạo Trung
群 峰 湧 浪 石 鳴 濤
Quần phong dũng lăng thạch ming đào
蛟 有 幽 宮 鵑 有 巢
Giao hữu u cung quyên hữu sào
泉 水 合 流 江 水 闊
Tuyền thuỷ hợp lưu giang thuỷ khoát
子 山 不 及 母 山 高
Tử sơn bất cập mẫu sơn cao
團 城 雲 石 夕 相 候
Đoàn thành vân thạch tịch tương hậu
鴻 嶺 親 朋 日 漸 遙
Hồng lĩnh thân bằng nhật tịiệm dao
怪 得 柔 情 輕 割 斷
Quái đắc nhu t́nh khinh cát đoạn
筐 中 攜 有 筆 如 刀
Khuông trung huề hữu bút như đao.


dịch là:

 

Trên Đường Lạng Sơn


Gió dường sóng vỗ núi cao
Ầm ầm hang giải xạc xào tổ quyên
Sông sâu ḥa nước trăm nguồn
Ngọn con ngọn mẹ trùng trùng núi xanh
Đá mây ḥ hẹn Đoàn Thành
Bạn bè Hồng Lĩnh ngày xanh xa dần
T́nh riêng đứt đoạn nhẹ thân
Tháp c̣n bút sắc chẳng cần đến dao.


Đối chiếu bài Lạng Thành Đạo Trung trên đây với bài Lạng Sơn Đạo Trung trong Thanh Hiên Thi Tập, người đọc không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi giũa hai h́nh ảnh của tâm cảnh Nguyễn Du. Trong bài Lạng Sơn Đạo Trung, tâm cảnh Nguyễn Du nghiên về lẽ vô vi: trước cảnh đẹp bên đường, Nguyễn Du ước về đó t́m chỗ ẩn cư, vui với cảnh thiền, thấy ḿnh không được bằng một chú bé chăn trâu, thấy ḿnh già nua, ước mơ từ quan, chán cả việc đọc sách. Trái lại, trong bài Lạng Thành Đạo Trung, trên cùng một khúc đường, trước cùng một cảnh đẹp,ông chợt thấy như t́nh cảm với bạn bè nơi quê nhà như dần dần lắng xuống, đến mức dường như đă bị cắt đứt khiến ông như thấy nhẹ ḿnh. Trong tráp ông c̣n nhiều ngọn bút sắc chẳng cần đến dao, là câu kết của bài thơ. Ông chưa cho biết ông dùng cái sắc của ngọn bút làm ǵ. Người đọc không có cách nào hơn là đọc tiếp tập Bắc Hành Tạp Ngâm của ông để t́m câu trả lời cho câu hỏi này.


Bắc Hành Tạp Ngâm chép tiếp bài thù tạc sau đây:


溜 別 舊 契 黃
Lưu Biệt Cựu Khế Hoàng
卅 年 故 友 重 逢 日
Táp niên cố hữu trùng phùng nhật
萬 里 前 途 一 蹴 初
Vạn lư tiền đồ nhát xúc sơ
道 路 日 來 情 未 竟
Đạo lộ nhật lai t́nh vị cánh
雲 山 別 後 意 何 如
Vân sơn biệt hậu ư hà như
悵 然 分 手 重 關 外
Trướng nhiên phân thủ trùng quan ngoại
老 矣 全 身 百 戰 餘
Lăo hĩ toàn thân bách chiến dư
他 日 南 歸 相 會 訪
Tha nhật nam quy tương hội phỏng
六 頭 江 上 有 樵 漁
Lục Đầu giang thượng hữu tiều ngư.


dịch là:


Từ Biệt Bạn Cũ Họ Hoàng


Ba mươi năm gặp lại nhau
Chuyến đi vạn dặm khởi đầu từ nay
Truyện qua ngày ngắn t́nh dài
Truyện sau mây núi chia tay khó lường
Ải ngoài tiễn biệt buồn vương
Toàn thân trăm trận xin mừng cho anh
Về Nam nối lại thân t́nh
Lục Đầu bến nước đôi ḿnh hẹn nhau.


Giới nghiên cứu không t́m ra ông bạn họ Hoàng này của Nguyễn Du là ai. Qua thơ, rơ là hai người quen biết nhau đă ba mươi năm. Gặp lại nhau truyện ngày qua nói không bao giờ hết. Truyện ngày sau chuyến chia tay này khó biết trước được. Giờ đây dạ buồn v́ chia ly, nhưng mừng v́ bạn từng xông pha trăm trận mà c̣n toàn thân. Hẹn chuyến về gặp nhau ở bến Lục Đầu nối lại thân t́nh.
Điểm người đọc lưu ư là tâm trạng tác giả không muốn dài lời về quá khứ, cùng nói lên nỗi bất trắc của tương lai. Vui buồn là niềm vui buồn hiện tiền. Đó là tâm cảnh khác hẳn tâm cảnh trong những bài đặt trước bài này trong cả ba tập thơ Việt Âm của Nguyễn Du.


Nguyễn Du cùng sứ bộ vào Trung Quốc qua:


鎮 南 關
Trấn Nam Quan


李 陳 舊 事 杳 難 尋
Lư Trần cựu sự yểu nan tầm
三 百 年 來 直 到 今
Tam bách niên lai trực dáo kim
兩 國 平 分 孤 壘 面
Lưỡng quốc b́nh phân cô lũy diện
一 關 雄 鎮 萬 山 心
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm
地 偏 每 為 傳 聞 誤
Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ
天 近 纔 知 降 澤 深
Thiên cận tài tri giáng trạch thâm
帝 闕 回 頭 碧 雲 表
Đế quốc hồi đầu bích vân biểu
鈞 韶 耳 畔 有 餘 音
Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.


dịch là:


Ải Trấn Nam


Lư Trần vết tích khó t́m
Truyện qua rầy đă ba trăm năm dài
Một thành đôi nước ngăn hai
Giữa muôn ngọn núi ải đây vẫn c̣n
Cơi xa lầm hiểu lẫn đồn
Gần trời mưa móc đội ơn sâu dầy
Ngoái nh́n cửa khuyết biếc mây
Quân thiều nghe vằng bên tai oai hùng.


Ải Trấn Nam là tên người Trung Quốc gọi Ải Nam Quan. Có nghĩa là cửa ải trấn giữ phía Nam. Trong hai câu đầu, qua ải Nam Quan, Nguyễn Du nhắc tới truyện thời nhà Lư nhà Trần, phải chăng là muốn nói tới truyện Lư Thường Kiệt đánh quân nhà Tống, truyện Hưng Đạo Vương thắng quân Nguyên, và truyện gần hơn nữa, mới trải ba trăm năm là truyện Lê Lợi đuổi quân nhà Minh? Giữa vạn ngọn núi, cửa quan hùng vĩ chia đôi hai nước. Bốn câu sau dường như phản ảnh ngôn ngữ ngoại giao của triều vua Gia Long với triều đ́nh nhà Thanh.


Qua ải Trấn Nam, sứ bộ vào đường:


南 關 道 中
Nam Quan Đạo Trung


玉 書 捧 下 五 雲 端
Ngọc thư phủng hạ ngũ vân đoan
萬 里 單 車 渡 漢 關
Vạn lư đan xa độ Hán Quan
一 路 偕 來 惟 白 髮

Nhất lộ giai lai duy bạch phát
二 旬 初 見 但 青 山
Nhị tuần sơ kiến đăn thanh san
君 恩 似 海 毫 無 報
Quân ân tự hải hào vô báo
春 雨 如 膏 骨 自 寒
Xuân vũ như cao cốt tự hàn
王 道 蕩 平 休 問 訊
Vương đạo đăng b́nh hưu vấn tấn
明 江 北 上 是 長 安
Minh Giang bắc thướng thị Trường An.


dịch là:


Trên Đường Nam Quan


Mây năm sắc chiếu vua ban
Một xe vượt ải Hán Quan dặm trường
Rối bươm tóc trắng dọc đường
Hai tuần điệp điệp trùng trùng núi xanh
Ơn vua báo đáp chưa thành
Mưa xuân như mỡ rét hành buốt xương
Đường vua thẳng khỏi hỏi đường
Qua Minh Giang là đến Trường An rồi.


Sứ bộ đă vào đất Trung Quốc, bài thơ này của Nguyễn Du bỗng có nhiều chữ mang mầu sắc Trung Hoa. Trong hai câu đầu, chữ ngọc thư dùng để chỉ chiếu vua ban; chữ ngũ vân nghĩa là mây năm sắc chỉ triều đ́nh, Hán Quan là ải Nam Quan gọi theo người Trung Quốc.


Câu thử ba mang h́nh ảnh Nguyễn Du với mái tóc trắng. Đối với cảnh núi xanh, xuốt hai tuần du hành qua, trong câu thứ tư. Câu thứ năm cho thấy mối lo đền đáp ơn vua của tác giả trong khi mưa xuân rét mướt thấu xương hành hạ thân ông. Có một điều phấn khỏi là đă tới đường cái quan bằng phẳng khỏi phải hỏi thăm đường lối: đến sông Minh Giang rồi thẳng đường tới kinh đô Bắc Kinh.


Tiếp tới là bài:


幕 府 即 事
Mạc Phủ Tức Sự
徹 夜 鑼 聲 不 暫 停
Triệt da la thanh bất tạm đ́nh
孤 燈 相 對 到 天 明
Cô đăng tương đối đáo thiên minh
經 旬 去 國 心 如 死
Kinh tuần khứ quốc tâm như tử
一 路 逢 人 面 賮 生
Nhất lộ phùng nhân diện tẫn sinh
山 麓 積 泥 深 沒 馬
Sơn mộc tích nê thâm một mă
谿 泉 伏 怪 老 成 精
Khê tuyền phục quái lăo thành tinh
客 情 至 此 已 無 限
Khách t́nh dĩ thử dĩ vô hạn
又 是 燕 山 萬 里 行
Hựu thị Yên Sơn vạn lư hành.

 

Mạc Phủ Tức Sự


Inh tai tiếng kẻng suốt đêm
Một thân chờ sáng bên đèn nhớ mong
Nước xa chết lặng tấc ḷng
Gặp toàn người lạ bên đường quan san
Bùn sâu ngựa nản chân bon
Bê khe yêu qiái chập chờn thành tinh
Nơi đây đằng dẵng mối t́nh
Yên Sơn thăm thẳm hành tŕnh c̣n xa.


Mạc phủ đồng nghĩa vói tướng phủ là nơi làm việc tạm thời của quan vơ. Nguyễn Du ghi lại trong bài này nhưng điều tai nghe mắt thấy trong mấy tuần qua. Ông không c̣n nhớ quê mà ông nhớ nước. Không c̣n gặp được những khuôn mặt quen thuộc của người đồng hương, đường xá lại khó đi, và đích tới là Yên Kinh th́ c̣n xa vạn dặm.


Rồi sứ bộ lên thuyền tại bến Minh Giang, như dự trù.


明 江 舟 發
Minh Giang Chu Phát
簫 鼓 鼕 鼕 初 出 門
Tiêu cổ đông dông sơ xuất môn
萬 山 中 斷 一 槎 奔
Vạn sơn trung đoạn nhất tra bôn
浮 雲 乍 散 石 容 瘐
Phù vân sạ tán thạch dung sấu
新 潦 初 生 江 水 渾
Tân lạo sơ sinh giang thủy hồn
別 後 關 山 思 弟 妹
Biệt hậu quan san tư đệ muội
望 中 岩 袖 見 兒 孫
Vọng tung nham tụ kiến nhi tôn
日 斜 莫 向 華 山 過
Nhật tà mặc hướng hoa sơn quá
怕 有 聲 聲 腸 斷 猿
Phạ hữu thanh thanh trường đoạn viên


Dời Bến Minh Giang


Trống kèn dời bến th́ thùng
Thuyền đi núi dựng trùng trùng bên sông
Tan mây trơ đá trời trong
Đục ngầu nước lũ một ḍng cuốn trôi
Anh em cách biệt xa xôi
Nh́n non lởm chởm bồi hồi nhớ con
Chiều tà ngại vượt Hoa San
Than van tiếng vượn quan san năo ḷng.


Sứ bộ lên thuyền ngược bắc, dời bến trong tiếng trống tiếng sáo tiễn đưa. Trên trời mây quang, dưới sông nước lũ, hai bên bờ núi dựng trùng trùng điệp điệp. Nh́n cảnh sông núi Minh Giang, Nguyễn Du lại thấy nhớ anh em nơi quê nhà và nhớ cả đàn con nhỏ của ông, với tiếng vượn than van trên bờ, trong cảnh chiều rơi.


Dưới chân núi Hoa San, bên bờ sông Minh Giang có di tích một chỗ đóng quân của Hoàng Sào. Nơi đó gợi hứng cho Nguyễn Du viết bài:


黃 巢 兵 馬
Hoàng Sào Binh Mă

大 小 花 山 數 里 分
Đại tiểu Hoa Sơn sổ lư phân
黃 巢 遺 蹟 在 江 津
Hoàng Sào di tích tại giang tân
豈 知 金 統 秦 中 帝
Khởi tri Kim Thống Tần Trung Đế
乃 出 孫 山 榜 外 人
Năi xuất Tôn Sơn bảng ngoại nhân
誤 國 每 因 拘 限 量
Ngộ quốc mỗi nhân câu hạn lượng
窮 時 自 可 變 風 雲
Cùng thời tự khả biến phong vân
遠 來 擬 問 天 然 事
Viễn lai nghĩ vấn thiên nhiên sự
舡 戶 搖 頭 若 不 聞
Hang hộ dao đầu nhược bất văn.


dịch là:


Binh Mă Hoàng Sào


Hoa San lớn nhỏ gần nhau
Bên sông c̣n dấu Hoàng Sào đóng quân
Khi nên Kim Thống Trung Tần
Dẫu là ngoài bảng Tôn Sơn một người
Tuyển người giúp nước hẹp ḥi
Lúc cùng có thể đổi dời gió mây
Khách xa ướm hỏi chuyện này
Nhà thuyền giả điếc giả ngây lắc đầu.


Hoàng Sào là người đời Đường, quê ở Tào Châu, tỉnh Sơn Đông. Vào thi đ́nh, tuy văn thơ hơn đời, nhưng ttướng mạo xấu xí, nên không đậu. Sau đó Hoàng Sào dấy loạn, từ Sơn Đông, tiến chiếm Hà Nam, Giang Tây, Phúc Kến, Triết Giang và cả vùng Kinh Tương Lưỡng Quảng, rồi chiếm cả Trường An. Vua Đường Huy Tông bỏ chạy vào đất Thục. Hoàng Sào tự xưng Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Tề, trị v́ trong mười năm (875-884), sau bị quân Lư
Quốc Dung đánh bại và bị giết.


Trên bờ sông Minh Giang, trong huyện Minh Ninh, tỉnh Quảng Tây, có di tích chỗ Hoàng Sào đóng quân.


Trong câu thứ ba, Nguyễn Du dùng chữ Kim Thống Tần Trung để chỉ việc Hoàng Sào tự xưng hoàng đế,v́ lẻ Thiểm Tây xưa là đất của nhà Tần. Trong câu sau ông dùng chữ Tôn Sơn bảng ngoại, để tóm tắt truyện hoàng Sào thi trượt v́ người Tôn Sơn đời Tống, đi thi đỗ cuối bảng, bạn bè ḥi thăm th́ tự an ủi là sau ḿnh c̣n nhiều tên ở ngoài bảng. Giới phê b́nh có người cho rằng Nguyễn Du muốn phê b́nh v́ chính sách tuyển người của triều đ́nh nhà Đường hẹp ḥi, đă đẩy Hoàng Sào vào đường cùng đi làm loạn. Ông gợi truyện cùng nhà thuyền về việc này, nhưng nhà thuyền không hưởng ứng.


Tiếp theo Nguyễn Du viết một bài thơ dài dưới đề tựa:


寧 明 江 舟 行
Ninh Minh Giang Chu Hành
粵 西 山 中 多 澗 泉
Việt tay sơn trung đa giản tuyền
千 年 合 注 成 一 川
Thiên niên hợp chú thành nhất xuyên
自 高 而 下 如 潑 天
Tự cao nhi hạ như phát thiên
灘 上 何 所 聞

Than thượng hà sở văn
應 龍 激 怒 雷 田 田 5
Ứng long kích nộ lôi điền điền
灘 下 何 所 見
Than hạ hà sở kiến
弩 機 劇 發 水 離 絃
Nỗ cơ kịch phát thủy ly huyền
一 瀉 萬 里 無 停 堙
Nhất tả vạn lư vô đ́nh nhân
高 山 夾 岸 如 牆 垣
Cao sơn giáp ngạn như tường viên
中 有 怪 石 森 森 然 10Trung hữu quái thạch sâm sâm nhiên
有 如 龍 蛇 虎 豹 牛 馬 羅 其 前
Hữu như long xà hổ báo ngưu mă la kỳ tiền
大 者 如 屋 小 如 拳
Đại giả như ốc tiểu như quyền
高 者 如 立 低 如 眠
Cao giả như lập đê như miên
直 者 如 走 曲 如 旋
Trực giả như tẩu khúc như tuyền
千 形 萬 狀 難 盡 言 15Thiên h́nh vạn trạng nan tận ngôn
蛟 螭 出 沒 成 重 淵
Giao ly xuất một thành trùng uyên
湧 濤 噴 沫 日 夜 爭 豗 喧
Dũng đào phún mạt nhật dạ tranh hôi huyên
夏 潦 初 漲 沸 如 煎
Hạ lạo sơ trướng phí như tiên
一 行 三 日 心 懸 懸
Nhất hành tam nhật tâm huyền huyền
心 懸 懸 多 所 畏 20Tâm huyền huyền đa sở uư
危 乎 殆 哉 汩 沒 無 底
Nguy hồ đăi tai cốt một vô để
共 道 中 華 路 坦 平
Cộng đạo Trung Hoa lộ thản b́nh
中 華 道 中 夫 如 是
Trung Hoa đạo trung phù như thị
窩 盤 屈 曲 似 人 心
Oa bàn khuất khúc tự nhân tâm
危 亡 傾 覆 皆 天 意 25Nguy vong khuynh phúc giai thiên ư
高 才 每 被 文 章 妒
Cao tài mỗi hộ văn chương đố
人 肉 最 為 魑 魅 喜
Nhân nhục tối vi ly mỵ hỷ
風 波 那 得 盡 能 平
Phong ba na đắc tận năng b́nh
忠 信 到 頭 無 足 恃
Trung tín đắc đầu vô túc thị
不 信 出 門 皆 畏 途 30Bất tín xuất môn giai ư đồ
試 望 滔 滔 此 江 水
Thí vọng thao thao thử giang thủy

dịch là:


Thuyền Đi Trên Sông Ninh B́nh
Việt Tây muôn suối ngàn khe
Ngh́n năm cuồn cuộn dồn vể một sông
Từ cao nuớc đổ mênh mông
Nghe thấy chăng
5 Đầu ghềnh sấm động phi long chuyển ḿnh
Thấy chăng mờ mịt cuối ghềnh
Ào ào nỏ máy vô h́nh nhả tên
Dặm ngàn nước cuốn triền miên
Đôi bờ vách đá thành liền ngút cao
10Đá nhô chi chít chen nhau
Dường như rồng rắn ngựa trâu một bày
Lớn tầy nhà nhỏ nắm tay
Cao sừng sững thấp nằm đầy ngổn ngang
Thẳng như chạy cong xoáy ṿng
15Ngàn h́nh muôn vẻ nói không hết lời
Giảo ly vùng vẫy vực khơi
Ngày đêm sóng vỗ chẳng nguôi ầm ầm
Mùa hè nước lụt sôi tràn
Thuyền đi ba bữa muôn vàn sợ lo
20Muôn bề nan hiểm khôn ḍ
Ch́m sâu đáy vực khốn to không chừng
Đồn đường Trung Quốc phẳng bằng
Nào ngờ hiểm trở gian nan hại đời
Hiểm nguy nào khác ḷng người
25 Nguy vong nghiêng đổ ư trời sui nên
Tài cao chữ nghĩa ganh ghen
Thịt người ma quỷ vẫn thèm xưa nay
Thoát cơn sóng gió sao đây
Tín trung giữ đủ lúc này vẫn lo
30 Xểnh nhà đường lối khó đo
Chẳng tin gió cả sóng to thử nh́n.

 

Cảnh thuyền vượt ghềnh thác trên sông Ninh Minh trong ba ngày hè nước lũ làm Nguyễn Du suy nghĩ. Ông cho rằng cái hiểm nguy của con đường đi sứ không đáng sợ bằng cái hiểm nguy khôn ḍ của ḷng người. Ư trời gây nghiêng đổ, ḷng ghanh ghen của con người trong rừng văn trận bút chẳng khác ǵ ma quỷ thèm thịt người. Làm sao ra thoát khỏi cơn sóng gió này. Trung tín cũng không đử giữ cho con người an ḷng. Hai câu kết ông nói ngược ư của Đường Giới, người đời Tống:


B́nh sinh thuọng trung tín
Kim nhật nhiệm phong ba.


nghĩa là:


Suốt đời trọng trung tín
Ngày may mặc sóng gió


Thuyền sứ qua khúc sông Ninh Minh hiểm nghèo, Nguyễn Du lấy lại được mối b́nh tâm như ông ghi trong bài kế tiếp:


望 觀 音 廟
Vọng Quan Âm Miếu
伊 誰 絕 境 構 亭 薹

Y thùy tuyệt cảnh cấu đ́nh đài
伐 盡 松 枝 墜 鶴 胎
Phạt tận tùng chi trũy hạc thai
石 穴 何 年 初 鑿 破
Thạch huyệt hà niên sơ tạc phá
金 身 前 夜 卻 飛 來
Kim thân tiền dạ khước phi lai
停 雲 處 處 僧 眠 定
Đ́nh vân xứ xứ tăng miên định
落 日 山 山 猿 叫 哀
Lạc nhật sơn sơn viên khiếu ai
一 炷 檀 香 消 慧 業
Nhất chú đàn hương tiêu tuệ nghiệp
回 頭 已 隔 萬 重 涯
Hồi đầu dĩ cách vạn trùng nhai.


dịch là:


Ngắm Miếu Quan Âm


Xây đài chọn cảnh ai người
Đốn cành thông trứng hạc rơi nơi nào
Cửa hang đục tự năm nao
Phật vàng đêm trước từ đâu bay về
Sư già yên giấc mây che
Bóng chiều tiếng vượn bốn bề than van
Khói hương tuệ nghiệp tiêu tan
Ngoái trông ngăn cách muôn vàn núi cao.


Trong câu thứ tư, Nguyễn Du dùng tích cổ, tóm tắt trong ba chữ phi lai thạch, về cùa tương Sơ, có ḥn đá từ Quảng châu bay về, được dùng tạc thành tượng Phật. Điều đáng ghi nhận là thi cảnh tịnh lặng trong bài thơ, cũng như trong cảnh miếu Quan Âm dương như phản ảnh niềm tĩnh lặng trong tâm cảnh Nguyễn Du sau mấy ngày liền dao động khi thuyền sứ bộ vưọt khúc sông Ninh Minh dưới chân núi Hoa San.


Niềm tĩnh lặng trong tâm cảnh Nguyễn Du c̣n thấy trong mấy bài tiếp theo. Bắt đầu là bài:


三 江 口 塘 夜 泊
Tam Giang Khẩu Đường Dạ Bạc
西 粵 重 山 一 水 分
Tây Việt trùng sơn nhất thủy phân
兩 山 相 對 石 磷 峋
Lưỡng sơn tương đối thạch lân phân
猿 啼 樹 杪 若 無 路
Viện đề thụ diểu nhược vô lộ
犬 吠 林 中 知 有 人
Khuyển phệ lâm trung tri hữu nhân
四 妄 雲 山 人 獨 老
Tứ vọng vân sơn nhân độc lăo
同 舟 胡 越 各 相 親
Đồng chu Hồ Việt các tương thân
十 年 已 失 還 鄉 路
Thập niên dĩ thất hoàn hương lộ
那 得 家 鄉 入 夢 頻
Na đắc tha hương nhập mộng tần.

 

 

 


15. 陶 淵 明 詩 選 , ibid. 張 67.

16. 唐 詩 三 百 首. 退 士 編 訂. 新 生 出 版 社. 香 港. 章 二 二 二
 

17. Theo bản dịch của Đào Duy Anh. Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, Văn Học, Hà Nội 1988, tr.189

 

 

 

 

 

Xem KỲ 09

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com