www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THƠ VIỆT ÂM
Của Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 07:

 

南 中 雜 吟

Nam Trung Tạp Ngâm

 

Tiếp Kỳ 06

 

Cảnh sống của ông bạn ngoài ṿng cương tỏa, như ghi lại trong bài trên đây dường như tô một nét đậm trên ước mong treo mũ từ quan, chưa đạt của Nguyễn Du, khiến ông viết lần thứ hai, giữ nguyên vận bài trên:

 

Tái Thứ Nguyên Vận

Trạm nguyên lưu thủy phát sơn thôn

陶日

Nhật Lệ triều đầu dũng hải môn

Thanh Vị trọc Kinh đồng bất thức

Hoàng hoa lục trúc lưỡng vong ngôn

Tuế thu thuật mễ kham cung khách

Thiên giả tùng niên cập băo tôn

Phù thế kỷ kinh tang lỗ biến

Sàng đầu y cựu tửu doanh tôn.

 

dịch là:

 

Bài Thứ Hai Nguyên Vận

Nguồn sông Trạm từ non cao

Cửa sông Nhật Lệ dạt dào triều dâng

Vị trong Kinh đục đôi đàng

Quên lời trúc biếc cúc vàng ung dung

Nếp thơm đăi khách đủ dùng

Cháu bồng tuổi thọ bách tùng trời cho

Ḍng đời dâu biển chẳng lo

Đầu giuờng be rượu sẵn chờ đầy vơi.

 

Hai câu đầu Nguyễn Du, theo Đào Duy Anh, tả cảnh sông Trạm, hay sông B́nh Giang, bắt nguồn từ núi Bang Môn, qua 18 thác và vực, rồi chẩy qua Hạt Hải đổ vào sông Nhật Lệ và tuôn ra biển ở phía đông thành Quảng B́nh. Câu thứ ba ông gọi lai cảnh hai nhánh sông Kinh sông Vị, một đục một trong, đổ vào sông Hoàng Hà, Trung Quốc. Đó cũng là điển ngụ ư thói đời trong đục, đời nào nơi nào cũng có. Câu thứ tư là một câu thẫm mầu Thiền sắc Đạo.

 

Trong ngôn ngữ Thiền, trúc xanh cúc vàng là bốn chữ chỉ Phật pháp và Phật thân. Hai chữ vong ngôn là hai chữ quan trọng trong thi ca Đông Á. Hai chữ đó là hai chữ ở trong câu kết bài thơ ngũ ngôn Ẩm Tửu Đệ Ngũ Thủ của Đào Tiềm, bài thơ được coi là tiêu biểu cho thi ca Đông Á. Hai câu đó như sau: 15:

 

Thử trung hữu chân ư

Dục biện dĩ vong ngôn

dịch là:

 

Cảnh này chân ư nẩy ra

Giăi bày muốn nói mà ta quên lời.

 

Trong thi ca Việt Âm, Nguyễn Trải có bài Du Son Tự, với hai câu kết:

 

Cá trung chân hũu ư

Dục ngữ hốt hoàn vong

dịch là:

 

Ḷng riêng ư thật sáng ḷa

Kiếm ḷi những muốn nói ra quên lời

 

Hai chữ vong ngôn, truyền từ Đào Tiềm, qua Nguyễn Trăi tới Nguyễn Du, vẫn giữ nguyên một ư. Ư đó nằm gọn trong hai chữ kiệm ngôn, duy tŕ ư của Đệ Nhất Tổ từ Tây Trúc sang Trung Hoa truyền đạo với chủ trương:

 

bất lập văn tự.

 

Hai câu tiếp theo, tác giả mừng người bạn ông cao tuổi thọ, có cháu ăm trên tay. Trong cảnh đầm ấm đó, cuộc thế này chỉ là cơi phù sinh, mọi truyện dâu biển dường đều như không đáng để ư tới và nhất là be rượu luôn luôn đầy bên đầu giường.

 

Tiếp theo Nguyễn Du ghi lại cảnh chớm thu ở Lệ Thành:

 

Tạp Ngâm

 

Bạch vân sơ khỏi Lệ Giang thành

Thử khí tài thu thiên khí thanh

Thành ngoại sơn sơn giai mộ sắc

Giang đầu thụ thụ các thu thanh

Tha hương bạch phát lăo bất tử

Tạc tuế hoàng hoa kim cánh sinh

Vị ngă Hồng Sơn tạ tùng thạch

[]

Tái vô diện mục kiến đồng minh.

dịch là:

Tạp Ngâm

Mây về phủ trắng Lệ Thành

Khí thu dịu nóng trong xanh ṿm trời

Thành ngoài sắc núi sẫm rồi

Xạc xào cây bến bồi hồi tiếng thu

Quê người già chẳng chết cho

Cúc vàng năm ngoái c̣n chờ nở hoa

Thông núi Hồng tạ giùm ta

Tưởng ngày giáp mặt bạn xưa thẹn thùng.

 

Câu thứ tám chép trong nguyên bản chỉ có bẩy chữ, giới nghiên cứu đồng ư thêm vào chữ vô để giữ cùng ư thơ trong trọn bài. Người đọc thơ dường nhu thấy Nguyễn Du bắt đầu thấy cảnh vật Lệ Thành dễ chịu hơn: cái nóng gió Lào đă dịu bớt, nhưng trận mưa dường đă tạnh, ông đă lại nghe thấy tiếng th trong hàng cây đầu sông. tóc ông bạc hơn, nhưng dường sức khỏe lại khá hơn.

 

Đám cúc ông trồng lại năm ngoái lại sắp nở hoa. Ông gửi lời chào thông đá Hồng Lĩnh, tại quê nhà, và khác mọi bài thơ đă viết trước đây, trong bài này dường như ông không c̣n nôn nóng nghĩ đến chuyện từ quan, nhưng vẫn c̣n cảm thấy như ḿnh lỗi hẹn với thông với đá Hồng Lĩnh.

 

Người đọc c̣n nhận ra ư thơ trên đây trong hai bài kế tiếp:

 

Giang Đầu Tản Bộ

 

Hai Bài

 

Tản phát cuồng ca tứ sở chi

Lục tần phong khởi tịch dương vi

Bạch vân lưu thủy đồng vô tận

Ngư phủ phù vân lương bất nghi

Vô lụy vị ưng chiêu quỷ trách

Bất tài đa khủng tốc quan phi

Niên niên thu sắc hồn như hứa

Nhân tại tha hương bất tự tri.

 

 

Kỳ Nhị

 

Xúc ca thanh đoản mạn thanh trường

Bạch phát tiêu tiêu cổ đạo bàng

Tế giản thủy thanh lưu tích vũ

B́nh sa nhân ảnh tại tà dương

Quyên ai mạc báo sinh hà bổ

Nhi nữ thành quần tử bất phương

Hồi thủ cố hương thu sắc viễn

Hoành sơn vân thụ chính thương thương.

 

dịch là:

 

Tản Bộ Đầu Sông

Hai Bài

I

Dạo chơi sổ tác nghêu ngao

Chiều tà gió thoảng nao nao băi tần

Bao la nước chẩy mây vần

Quen rồi chim biển kết thân ông chải

Chẳng vương quỵ lụy trách ai

Việc quan e lẫn sợ sai e dè

Năm năm vẻ cũ thu về

Ḷng người lữ khách bộn bề nào hay.

 

II

Nghêu ngao nhặt ngắn khoan dài

Lối ṃn tóc trắng gió bay bơ phờ

Ḷng khe róc rách tiếng mưa

Cồn xa trong nắng chiều mờ bóng ai

Ơn vua đền đáp bấy nay

Đầy đàn con cái chết rày cũng yên

Quê nhà xa lắc đoái nh́n

Trời thu cây cỏ đắm ch́m hoàng sơn

 

Những lúc tản bộ thường là thời gian để người đi tản bộ suy nghĩ về những câu truyện thường ngày người ta không có nhiều th́ giờ nghĩ tói. Trong bài thứ nhất, Nguyễn Du dùng h́nh ảnh đàn chim trắng tới làm thân với lăo chài dường như để mô tả việc cộng tác giữa ông và nha lại nơi ông làm việc dường như đă có phần nào thân thiện hơn. Đối với thưọng cấp của ông, v́ không màng danh lợi, nên ông như người vô lụy không c̣n sợ ma chê quỷ trách. Đối với công việc hàng ngày, ông tự coi là ḿnh bất tài nên phải cẩn trọng e dè. Năm này sang năm khác mùa thu lại về, nhưng ḷng ông trăm mối bộn bề nên ông không biết đến.

 

Thi cảnh trong bài thứ hai cũng là một cảnh chiều, nhưng ông sổ tóc nghêu ngao ngâm thơ, mặc cho gió thổi bù mái tóc, nghe tiếng nước chẩy trong ḷng khe suối, nh́n bóng người xa ngoài cồn cát. Ông tin rằng công việc ông đang đảm nhiệm đă đủ đền đáp ơn vua, đàn con của ông cũng đă khôn lớn, cái chết có đến lúc này cũng tạm yên. Ông không c̣n ray rứt nhớ quê, quay đầu hướng vế quê ông chỉ thấy cây cối ch́m trong bóng núi Hoành Sơn.

 

Niềm thanh thản của Nguyễn Du gửi gắm trong bài Giang Đầu tản Bộ II chợt tới rồi chợt đi như ông ghi trong bài dưới đây:

 

Ngẫu Đắc

 

Cô thành nhạt mộ khởi âm vân

Thanh thảo man man đáo hải tần

Khoáng dă biến mai vô chủ cốt

Thù phương độc thác hữu quan thân

Sự lai đồ lệ giai kiêu ngă

Lạo khứ văn chương diệc tỵ nhân

Vọng ngoại Hồng Sơn tam bách lư

Tương ṭng hà xứ vấn tiền lân.

 

dịch là:

Ngẫu Đắc

 

Chiều về mây phủ cô thành

Một mầu tới biển cỏ xanh xanh rờn

Vùi nông vô chủ nắm xương

Làm quan sống chết tha phương đành liều

Sai nha tới việc làm kiêu

Về già chữ nghĩa nhiều điều nhớ quên

Non Hồng cách biệt hai miền

Xóm giềng thăm hỏi bốn bên nhắn lời.

 

Cũng như trong bài Giang Đầu Tản Bộ II, h́nh ảnh cái chết tha phương lại về trong câu thứ ba và thứ tư trong bài Ngẫu Đắc trên đây. Nguyễn Du như cảm thấy nha lại dưới quyền ông lúc có việc làm kiêu vói ông, ông cảm thấy ḿnh già đi, nhiều điều nhớ quên quên nhớ. Điểm đáng nói là ông lại nhớ về núi Hồng Lĩnh ờ miền ngoài, nhưng không nhớ tới gia đ́nh, hay thú săn bắn như trong nhiều bài khác, mà ông muốn nhắn lời gởi thăm đôi bên hàng xóm cũ của ông.

 

Ư thơ trong hai bài tới, chép trong Nam Trung Tạp Ngâm, dường như đổi hướng. Không c̣n những nhớ tiếc thời xa xưa, mà trái lại là những ghi nhận về cảnh thái b́nh của đất nước sau mấy trăm năm nội chiến. Điều đáng để ư là Nguyễn Du không ca ngợi chiến thắng của nhà Nguyễn, nhưng ông mừng v́ chiến tranh đă chấm dứt, chém giết không c̣n là một hành động đáng ghi công. Thanh b́nh đă trở về với đất nước.

 

Bắt đầu là bài:

Pháo Đài

 

Nam bắc xa thư kháng đại đồng

Pháo đài hư thiết thổ thành đông

Sơn băng thạch liệt thành do tráng

Hán đoạt Tần tranh sự dĩ không

Tạc giả đại khuy sinh vật đức

Nhĩ lai bất quư sát nhân công

Thanh b́nh thời tiết vô tranh chiến

Ngưu độc ưu sừ chính trọng nông.

 

dịch là:

Pháo Đài

Mừng nay thống nhất bắc nam

Thành đông đài pháo bỏ hoang điêu tàn

Thành c̣n vững núi đá tan

Hết rồi truyện cũ Hán Tần chiến chinh

Tránh hại vật trọng hiếu sinh

Giết người chẳng được tôn vinh hơn đời

Thanh b́nh gặp hội vận trời

Trâu ḅ cầy cấy đến thời trọng nông.

 

Niềm vui dường như là một niềm vui chân thật của tác giả. Vui mừng v́ nam bắc nay một nhà, Những thành tŕ pháo đài đều bỏ hoang điêu tàn. Truyện chiến chinh đă hết. Nêu cao đức hiếu sinh, tránh giết tróc. Coi trọng việc nông tang, tất cả đều là những h́nh ảnh mới mẻ không hề thấy trong Thanh Hiên Thi Tập và trong cả hai mươi tám bài trong Nam Trung Tạp Ngâm trên đây.

 

Tiếp theo là bài:

 

Thành Hạ Khí Mă

 

Thùy gia lăo mă khí thành âm

Mao ám b́ can sấu bất câm

Thạch lũy thu hàn kinh thảo đoản

Sa trường nhật mộ trận vân thâm

Cơ lai bất tác cầu nhân thái

Lăo khứ chung hoài báo quốc tâm

Nại đắc phong sương toàn nhĩ tính

Mạc giao ky trập tái tương xâm.

 

dịch là:

Ngựa Hoang Chân Thành

Ngựa già ai bỏ chân thành

Da khô lông trụi thân ḿnh xác xơ

Cỏ cằn lũy đá cuối thu

Cồn xa bảng lảng mây mờ chiều buông

Đói ḷng chẳng cậy người thương

Về già nợ nước sắt son vẫn bền

Gió sương giữ tính vẹn tuyền

Yên cương tránh chẳng đóng lên lưng gầy.

 

H́nh ảnh con ngựa hoang dưới chân thành là h́nh ảnh Lăo Tử dùng để mô tả cảnh cuộc chiến đă tàn, chiến mă thành vô dụng. Trong bốn câu đầu, h́nh ảnh con ngựa già gặm cỏ khô dưới chân thành một chiều thu, dương như là h́nh ảnh người lính già sau cuộc chiến, thiếu thốn mà không nhờ vả vào người khác, dầu nợ nước c̣n sắt son giữ bền, nhưng giờ đây dường muốn giữ vẹn tuyền bẩm tính, chẳng muốn bị đóng ngàm bịt móng tháng yên

cương lên lưng một lần nữa.

 

Dường như Nguyễn Du đă thuyên chuyển về Huế, nên thi cảnh trong mười bài cuối Nam Trung Tạp Ngâm không c̣n là h́nh ảnh Quảng B́nh.

 

Bắt đầu là bài:

 

Vọng Thiên Thai Tự

 

Thiên Thai sơn tại đế thành đông

Cách nhất điều giang tự bất thông

Cổ tự thu mai hoàng diệp lư

Tiên triều tăng lăo bạch vân trung

Khả liên bạch phát cung khu dịch

Bất dữ thanh sơn sơn thủy chung

Kư đắc niên tiền tằng nhất đáo

Cảnh Hưng do quải cựu thời chung

 

dịch là:

 

Ngắm Cảnh Chùa Thiên Thai

Thành đông có núi Thiên Thai

Cách ngăn một nhánh sông dài khó sang

Vào thu chùa cổ lá vàng

Có sư triều trước có ngàn mây cao

Thương thân khu dịch bạc đầu

Thủy chung hẹn với non sâu lỡ làng

Nhớ hồi năm truớc ghé sang

Cảnh Hưng ngày đúc chuông vàng c̣n ghi.

 

Núi Thiên Thai là một trái núi nhỏ ở phía đông thành Huế. Trên núi có chùa gọi là chùa Thiên Thai. Câu năm câu sáu tác giả tỏ ư thương thân bề bộn việc quan, khiến lỗi hẹn cói núi xanh. Tác giả cũng c̣n nhớ tới quả chuông đúc từ đời Cảnh Hưng làn trước thăm chùa ông đă được xem.

 

Tiếp theo là hai bài Nguyễn Du viết gửi Ông Thiêm Sự bộ Công, người họ Trần.

 

Giản Công Bộ Thiêm Sự Trần

Hai Bài

 

Kỳ nhất

 

Thanh sơn ngoại hữu bất quy nhân

Sơn bắc sơn nam tận bạch vân

Thất nguyệt hựu phùng thu đáo nhăn

Thiên nhai vô đái lăo tùy thân

Bách niên cổ lũy yên hà hợp

Nhất đái hàn sa thảo thụ phân

Ỷ biến lan can vô dữ ngữ

Kỷ hồi kinh tọa ức Trần Tuân

 

Kỳ nhị

 

Thanh phong niểu niểu tự giang tân

Minh nguyệt thanh sơn thướng hải tần

Nan đắc tương phùng như thử dạ

Khả liên đồng thị vị quy nhân

Âm phù tuế văn sinh tiên đố

U thất thu hàn hiện quỷ lân

Dạ độc minh minh Chiêu Ẩn phú

Hồng Sơn tàm phụ nhất sơn vân.

dịch là:

Gửi Trần Thiêm Sự Bộ Công

Hai Bài

 

I

Ngoài non xanh người chưa về

Núi nam núi bắc đôi bề trắng mây

Tiết thu tháng bẩy heo may

Cái già đeo đẳng bấy nay bên trời

Lũy trăm năm ráng đầy vơi

Cồn dài cát trắng cắt dời rặng cây

Khắp lan can không một ai

Bao lần kinh động nhớ hoài Trần Tuân.

 

II

Gió hiu hắt nổi bên sông

Trăng lên núi biếc biển đông rơ dần

Gặp được nhau bao gian truân

Đôi ta một cảnh khó khăn nẻo về

Âm Phù mọt nhấm long b́a

Căn nhà thu lạnh lập loè đóm bay

Phú Chiêu Ẩn chẳng dời tay

Thẹn ḿnh chót phụ làn mây non Hồng.

 

Căn cứ vào câu thú tám bài I, giới nghiên cứu đoán chừng ông Thiêm Sự Họ Trần này là ông Trần Văn Tuân tham tri bộ Lại dưới triều vua Gia Long, cùng thời vói nguyễn Du, dường như không để ư tới đầu đề bài thơ ghi rơ ông bạn Nguyễn Du là thiêm sự bộ Công. Theo câu thứ tư trong bài II th́ rơ là Nguyễn Du và ông bạn cùng muốn về hưu mà chưa được như ư.

 

Sách đọc của hai nguời là kinh Âm Phù của Đạo Giáo, và v́ say mê bài phú Chiêu Ẩn Sĩ của Hoài Nam Tiểu Sơn, chép trong phần sau của Sỡ Từ, đại ư kêu goi cao ẩn sĩ ra giúp Hoài Nam Vương, theo Đào Duy Anh, Nguyễn Du đă ra giúp nhà Nguyễn, khiến ngày nay thẹn với mây  núi Hồng Lĩnh.

 

Huế vào thu, gợi hứng cho Nguyễn Du viết bài:

 

Thu Nhật Kư Hứng

 

西

Tây phong tái đáo bất quy nhân

Đốn giác hàn uy dĩ thập phân

Cố quốc hà sơn khan lạc nhật

Tha hương thân thế thác phù vân

Hốt kinh lăo cảnh kim triêu thị

Hà xứ thu thanh tạc dạ văn

Tự thẩn bạch dầu khiếm thu thập

滿

Măn đ́nh hoàng diệp lạc phân phân.

 

dịch là:

 

Ghi Hứng Ngày Thu

 

Gió thu tới chưa được về

Chợt nghe rét mướt sắt se gấp mười

Chiều tà non nước trông vời

Quê người thân thế nổi trôi không nhà

Sáng nay chợt sợ cảnh già

Tiếng thu xào xạc đêm qua chốn nào

Trách ḿnh vụng tính bạc đầu

Lá vàng lả tả xạc xào dầy sân.

 

Gió thu lại về, nhưng tác giả chưa được nghỉ hưu. Cái lạnh như lạnh thêm gấp mười. Niềm nhớ quê làm người xa quê thấy ḿnh như mây nổi, thấy sợ cảnh già, chẳng c̣n biết tiếng thu ẩn náu nơi nào. Chỉ c̣n trách ḿnh vụng tính. Đầy sân lá vàng rơi lả tả.

 

Tiếp tới, trong cùng một mạch thơ, là bài:

 

Sơn Trung Tức Sự

Điệp điệp tằng loan thạch tác đôi

Yên la bố địa mật nan khai

Hốt phùng giă thú thụ gian xuất

Tri hữu tiều phu lâm hạ lai

Thiêu dă tân ngân thanh thảo tận

Ỷ sơn cựu kính bạch vân thôi

Sơn linh cố tuyệt khinh ph́ lộ

Biến liệt nguy cương dữ hiểm nhai.

 

dịch là:

Tức Sự Trong Núi

 

Núi trùng điệp đá ngổn ngang

Cỏ lan mờ lối dọc ngang đặc dầy

Thú rùng sợ lủi lùm cây

Biết người hái củi đâu đây bên rừng

Đốt nương cỏ cháy bừng bừng

Núi xa mây trắng từng từng dâng cao

Sơn linh phú quư cấm vào

Cách ngăn vách dốc vực sâu đặt bày.

 

Tác giả nhân dịp leo núi, ghi lại cảnh núi non trùng điệp, cỏ dại ngăn lối; thú rùng sợ hăi lùi trốn, khi có người hái củi tới gần; vết cỏ cháy v́ đốt cỏ làm nương; ngọn núi xa nhả mây trắng. Thần núi dường như muốn ngăn lối kẻ giầu sang, áo lông ngựa béo, mà bầy dặt vách dốc vực sâu hiểm trở.

Trong tỉnh Quảng B́nh, nơi Nguyễn Du giữ chức Cai Bạ, có sông Gianh, một con sông đă từng là ranh giới hai miền Đàng Ngoài và Đàng Trong suốt cuộc chiến tranh Nam Bắc. Ḍng sông này đem lại cho Nguyễn Du thi hứng để viết bài sau đây:

 

Độ Linh Giang

B́nh sa tận xứ thủy thiên phù

Hạo hạo yên ba cổ độ thu

Nhất vọng thiên nhai thông cự hải

Lịch triều cương giới tại trung lưu

Tam quân cựu bích phi hoàng diệp

Bách chiến tàn hài tọa lục vu

Bắc thượng thổ dân mạc tương tỵ

Táp niên tiền thị ngă đồng châu.

 

dịch là:

Qua Sông Danh

 

Cồn xa nước tiếp với trời

Thu về bến cũ chiều rơi khói lồng

Bến sông ra biền mênh mông

Mấy triều cương giới giữa ḍng chia đôi

Lá vàng lũy cổ rơi rơi

Cỏ xanh xương trắng chôn vùi vạn quân

Chớ nghi bờ bắc t́nh dân

Ba mươi năm trước người thân cùng làng.

 

Không những chỉ có sông Danh mà cả sông Di ở phiá bắc Quảng B́nh, cũng là môt thắng cảnh gọi hứng cho Nguyễn Du, như ông ghi lại trong bài:

 

Di Giang Khẩu Hương Vọng

Vọng vọng gia hương tự nhật biên

Hoành sơn chỉ cách nhất sơn điên

Khả lân quy lộ tài tam nhật

Độc băo hương tâm dĩ tứ niên

Yến đảo thu hàn thanh nhập hải

Nễ giang triều trướng bạch hàm thiên

Ngoại châu kim dữ ngô châu biệt

Khán khán nhân phong bất tự tiền.

 

dịch là:

 

Từ Cửa Ṛn Ngóng Về Quê

Bên trời quê cũ cách ngăn

Hoành Sơn một giải dặm ngàn xa xôi

Đường về ba bửa tới nơi

Bốn năm đằng đăng đôi tṛi nhó thương

Thu tàn Ḥn Én mờ sương

Chiều về sông Nễ sóng lồng bóng mây

Châu nhà khác với châu đây

Thói xưa tục cũ đổi thay hết rồi.

 

Sông Di, c̣n tên là sông Nễ, đổ ra biển ỏ cửa Cảnh Dương hay c̣n gọi là cửa Ṛn, nh́n ra Ḥn Én. Nguyễn Du ngắm cảnh ở cửa Ṛn mà nhớ về quê ông ỏ bên kia Đèo Ngang, đường đi thời đó chỉ mất ba ngày, mà thấy như xa xăm tự bên trời. Chỗ ông đang ở là Châu Ngoài, thói tục khác hẳn với thói tục nơi quê ông. Phải chăng v́ vậy mà t́nh quê càng thêm nồng nàn?

 

Sau hai bài ghi lại thắng cảnh ở vùng Quảng B́nh, Nam Trung Tạp Ngâm chép tiếp hai bài thơ thù tạc giữa Nguyễn Du và hai người bạn.

 

Một là bài:

Y Nguyên Vận Kư

Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên

西

Nhất dạ tây phong đáo hải my

Đồng niên giao nghị thượng y y

Đại canh hữu thiệt sinh thường túc

Khứ quốc hà tâm lăo bất quy

Tiêu khát nhật tăng Tư Mă bệnh

Mộng hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi

Lâm Giang vị cảm đề Anh Vũ

Hoàn hữu trung nguyên nhất đại nhi.

 

dịch là:

Y Theo Nguyên Vận Gửi

Ông Ngô Tứ Nguyên ở Thanh Oai

Gió tây đêm lộng biển đông

T́nh ta từ nhỏ vẫn không đổi dời

Lưỡi thay cầy đủ sống rồi

Già về quê cũ ai người không mong

Bệnh Tư Mă ngày một tăng

Mộng hồn vẫn nhớ Thiếu Lăng đêm trường

Đề thơ Anh Vũ xin nhường

Trả người lăo luyện nhất vùng trung nguyên.

 

Giới nghiên cứu không t́m ra Ngô Tứ Nguyên là ai. Có người cho là chữ Tứ Nguyên phải là người đỗ đầu bốn khoa: thi đầu xứ, thi hương, thi hội và thi đ́nh. Có người t́m trong gia phả họ Ngô tại Thanh Oai, một người khoảng cùng tuổi với Nguyễn Du, th́ chỉ thấy Ngô Th́ Hoàng, em ruột Ngô Th́ Nhậm và đoán rằng ông Ngô Th́ Hoàng là người bạn xướng họa cùng Nguyễn Du. Nhưng ông Ngô Th́ Hoàng chỉ đậu tú tài và ở nhà dậy học không ra làm quan. Thế nên câu hỏi Ngô Tứ Nguyên là ai vẫn bỏ ngỏ.

Đây là một bài thơ Nguyễn Du dùng nhiều điển tích cầu kỳ. Bệnh tiêu khát là bệnh tiểu đường và Tư Mă Tương Như mắc bệnh này cũng như Ngô Tứ Nguyên.

Thiếu Lăng tức Đỗ Phủ vốn là nhà thơ mà Nguyễn Du tâm phục.

Thơ Anh Vũ trong câu thứ bẩy nhắc tới bài Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng trong Ṭan Đường Thi của Thôi Hiệu và thoại Lư Bạch đọc thơ Thôi Hiệu đề trên vách Hoàng Hạc Lâu, thán phục Thôi Hiệu và không đề thơ ở đó nữa. Dùng điển này và câu thứ tám, Nguyễn Du khen ngợi thi tài của ông bạn.

 

Bài thơ thù tạc thứ hai chép trong Nam Trung Tạp Ngâm là bài:

Tống Ngô Nhữ Sơn

Công Xuất Trấn Nghệ An

Cẩm La giang thượng khấu chinh an

Bái hội phi nan tích biệt nan

Bát đại kỳ văn hoa lưỡng quốc

Nhất xa cao vũ nhuận toàn hoan

Nhân ṭng đạm bạc tư vi chính

Thiên vị kiềm le bất phóng nhàn

耀

Bắc vọng Hồng Sơn khai đức diệu

Thiên nhai cử tửu khánh hương quan.

 

dịch là:

Tiễn Ngô Nhữ Sơn Ra Làm

Hiệp Trấn Nghệ An

Dừng cương bên bến Cẩm La

Gặp nhau chẳng khó khó là xa nhau

Lừng danh hai nước văn hào

Ơn vua reo rắc dân châu Hoan mừng

Lấy đạm bạc lo việc quan

Bởi trời việc nước muốn nhàn chẳng xong

Đức cao chùm cả núi Hồng

Bên trời nâng chén tôi mừng quê tôi.

 

Ngô Nhữ Sơn, tên thật là Ngô Nhân Tỉnh, gốc người Minh Hương, cư ngụ tại Gia Định, thủa trẻ theo học Vơ Trường Toản, nổi tiếng hay chữ. Làm quan với triề Nguyễn. Đi sứ sang Trung Quốc hai lần (1802 và 1807). Tháng giêng năm Gia Long thứ mười, ong thuyên chuyển làm Hiệp Trấn Nghệ An. Bài thơ trên đây, theo giới nghiên cứu, Nguyễn Du viết trong dịp này.

 

Theo Đào Duy Anh, trong câu thứ nhất, bến Cẩm La tức bến đ̣ Hàn trên sông Nhật Lệ, ở phía nam thành Quảng B́nh. Câu thứ hai dẫn người đọc về một câu thơ Đường nổi tiếng của Lư Thương Ẩn, mở đầu bài Vô Đề 16:

 

Tương kiến th́ nan biệt diệc nan

 

Chữ bát đại trong nguyên bản chỉ tám nhà văn lón của Trung Quốc: Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Tô Tuân, Tô Thúc, Tô Triệt, Tăng Củng và Vương An Thạch. Nguyễn Du dùng hai chũ này để nhác lại truyện Ngô Nhân Tĩnh thủa đi học cùng Trịnh Hoài Đức, và Lê Quang Định cũng nổi tiếng là Gia Định Tam Gia. Câu thứ tư, theo Lê Thước và Trương Chính, Nguyễn Du nhắc tới việc Ngô Nhân Tĩnh xin vua hoăn thu thuế cho dân châu Hoan, tức Nghệ An v́ năm đó vùng này bị nạn đói kém. Câu thứ năm tác giả ca tụng đức đạm bạc của Ngô Nhân Tĩnh trong việc làm quan. Nay Ngô Nhân Tĩnh ra nhậm chức tại Nghệ An nơi quê hương của Nguyễn Du, khiến ông mừng cho dân tỉnh ông.

 


15. 陶 淵 明 詩 選 , ibid. 張 67.

16. 唐 詩 三 百 首. 退 士 編 訂. 新 生 出 版 社. 香 港. 章 二 二 二

 

 

 

 

 

Xem KỲ 08

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com