www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THƠ VIỆT ÂM
Của Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 06:

 

南 中 雜 吟

Nam Trung Tạp Ngâm

 

Nam Trung Tạp Ngâm gồm 40 bài thơ dưới 27 đề mục, Nguyễn Du sáng tác trong bẩy năm làm quan ở Huế và thời gian ông làm Cai Bạ ở Quảng B́nh, và về làm quan tại Huế.

Bài đầu tiên là:

 

鳳 凰 路 上 早 行

Phượng Hoàng Lộ Thượng Tảo Hành

征 夫 懷 往 路

Chinh phu hoài văng lộ

夜 色 尚 濛 濛

Dạ sắc thượng mông mông

月 落 猿 聲 外

Nguyệt lạc viên thanh ngoại

人 行 虎 跡 中

Nhân hành hổ tích trung

力 衰 常 畏 露

Lực suy thường úy lộ

髮 短 不 禁 風

Phá đoản bất câm phong

野 宿 逢 樵 者

Dă túc phùng tiều giả

相 憐 不 在 同

Tương liên bất tại đồng.

 

dịch là:

Sớm Mai Trên Đường

Núi Phượng Hoàng

Người đi người biết dường dài

 

Nửa đêm về sáng ḷng ai lạnh lùng

Trăng tà tiếng vượn năo nùng

Đường đầy vết hổ ngập ngừng bước chân

Gió sương sức yếu ngại ngần

Gió vờn tóc ngắn thương thân tiêu điều

Quán quê trọ gặp bác tiều

Thương nhau chẳng được mọi điều cùng nhau.

 

Theo Lê Thước và Trương Chính, năm giáp tư 1804, Nguyên Du bị bệnh, từ chức tri phủ Thuờng Tín về quê; it lâu sau lại có chỉ triệu vào kinh. Có thể bài thơ này ông làm trên đường Phượng Hoàng, khoảng từ tỉnh lỵ Hà Tĩnh đi vào Trung và có quán Phương Hoàng. H́nh ảnh người tiều phu thường là h́nh ảnh một ẩn sĩ. Hai câu kết cho thấy dường như nghỉ đêm tại quán quê, Nguyễn Du đă gặp được người bạn ẩn sĩ mà trong hoàn cảnh lúc đó, dầu hai người có thân thiết với nhau, cũng không được cùng ở một chốn với nhau.

 

Cuộc sống ở kinh đô, dường như lôi cuốn Nguyễn Du vào một lối sống mới, mà người đọc nh́n thấy qua năm bài dưới đây:

 

Mộng Đắc Thái Liên

Năm Bài

 

 

Kỳ Nhất

 

Khẩn thúc phù điệp quần

Thái liên trạo tiểu đĩnh

Hồ thuỷ hà xung dung

Thuỷ trung hữu nhân ảnh

 

Kỳ Nhị

 

西

Thái thái Tây Hồ liên

Hoa thực câu thướng thuyền

Hoa dĩ tặng sở úy

Thực dĩ tặng sở liên

 

Kỳ Tam

 

Kim thần khứ thái liên

Năi ước đông lân nữ

Bất tri lai bất tri

Cách hoa văn tiếu nữ

 

Kỳ Tứ

 

Cộng tri liên liên hoa

Thùy giả liên liên cán

Kỳ trung hữu chân ti

Khiên liên bất khả đoạn.

 

Kỳ Ngũ

 

Liên diệp hà thanh thanh

Liên hoa kiều doanh doanh

Thái chi vật thương ngẫu

Minh niên bất phục sinh.

 

 

dịch là:

Mộng Hái Sen

Năm bài

 

Bài I

 

Quần nàng cánh bướm xắn cao

Hái sen thuyền nhỏ sóng chao dập dềnh

Nước hồ lai láng mông mênh

Gương soi mặt nước nàng xinh miệng cười

 

Bài II

 

Hồ Tây thư thả hái sen

Gương hoa hái cả một thuyền đầy khoang

Hoa về tặng chốn nể nang

C̣n gương để tặng cô nàng mười thương

 

Bài III

 

Sớm nay ḥ hẹn hái sen

Cùng cô hàng xóm mới quen hôm rầy

Đến không không đến nào hay

Cách hoa khúc khích tiếng ai đang cười.

 

Bài IV

 

Yêu sen người thế thường t́nh

Ai người yêu cuống mới tinh hơn đời

Cuống sen trong có tơ trời

Tơ bền cuống gẫy chẳng dời c̣n vương.

 

Bài V

 

Lá sen mướt mát rờn xanh

Hoa sen mơn mởn dập dềnh tỏa hương

Hái sen thương ngó sen cùng

Bằng không năm tới sen hồng c̣n đâu.

 

H́nh ảnh những buổi đi hái sen len sâu vào giấc mộng của Nguyễn Du. qua năm bài Thái Liên trên đây, khiến người đọc nhớ lại h́nh ảnh Nguyễn Du trong những buổi hát phường vải, khi c̣n trai trẻ ở quê nhà.

 

Mùa hè qua, thu về trên đế đô, gợi hứng cho Nguyễn Du viết bài dưới đây với những h́nh ảnh tiêu biểu cho đời làm quan trong triều:


Thu Chí

Hương Giang nhất phiến nguyệt

Kim cổ hứa đa sầu

Văng sữ bi thanh chủng

Tân thu đáo bạch đầu

Hữu h́nh đồ dịch dịch

Vô bệnh cố câu câu

Hồi thủ Lam Giang phố

Nhàn tâm tạ bạch âu

 

dịch là:

 

Vào Thu

 

Sông Hương một mảnh trăng cao

Khơi trong ḷng khách mối sầu cổ kim

Mồ xanh chuyện cũ lắng ch́m

Chớm thu tóc bạc trạnh niềm quan san

Có thân vất vả lo thân

Bệnh không mà bắt gian truân lưng kḥm

Ngoảnh đầu nh́n bến sông Lam

Tạ đàn âu trắng tâm nhàn bâng khuâng.

 

Người đọc lưu ư tới h́nh ảnh nấm mồ xanh mà tác giả coi là câu chuyện cũ đă lắng ch́m, không thấy giới nghiên cứu nói là mộ của ai. Nhớ lại bài Kư Mộng trong Thanh HIên Thi Tập, Nguyễn Du ngủ mê thấy bà vợ chính lặn lội từ xa về trong mộng với ông, phải chăng người đọc có thể nghĩ rằng ông đă vợi quên được mối buồn này? Cái buồn trước mắt hiện tiền là mối lo thân hàng ngày, không phải c̣n là mối lo đói những ngày tản cư mà mối lo giữ ǵn lời ăn tiếng nói, nhất là việc phải khom lưng quỳ gối tại sân rồng. Ông lại nhớ về sông Lam, thèm cái tâm nhàn của đàn âu trắng.

 

Nỗi cực nhọc trong cảnh làm quan triều, một hoạt động không thích hợp với ông, đă được ông ghi rơ bài trong bài ngũ ngôn sau đây:

 

Điệu Khuyển

 

駿

Tuấn mă bất lăo tử

Thiện nữ vô thiện chung

Phàm sinh phụ kỳ khí

Thiên địa phi sở dung

Nhiệm nhĩ thuộc thổ súc

Dữ nhân mao cốt đồng

Tham chiến bất tri chỉ

Vẫn thân hàn sơn trung

Vẫn thân vật thán uyển

Sổ thí vô toàn công.

 

dịch là:

 

Thương Con Chó Chết

 

Ngựa hay ngựa chẳng chết già

Mấy ai liệt nữ tài hoa chết lành

Phàm người khí phách bẩm sinh

Đất trời ghen ghét thường t́nh chẳng tha

Thân ngươi làm chó giữ nhà

Xương lông chẳng khác làm ra khác thường

Chỉ biết tiến chẳng biết ngừng

Hang sâu núi lạnh bỏ xương rối đời

Bỏ xương chớ có trách trời

Uổng công thử thách thiệt tḥi cho ngươi.

 

Không thể bảo bài trên đây là một bài ngụ ngôn, lấy chó để răn người, dầu ư chính nói về nếp sống tri túc tri chỉ, biết đủ biết ngừng. Nguyễn Du lấy tên hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ, tức người Hồng Sơn thích săn bắn, hẳn ông yêu bầy chó săn của ông. Truyện tṛ cùng chó nhiều khi có thể là lởi ḿnh tự nhủ ḿnh. Phải biết đủ phải biết ngừng là lời ông tụ nhủ trên bước đường làm quan, để tránh cái chết vô nghĩa bỏ xương thiệt thân trong núi lạnh.

 

Tâm cảnh của Nguyễn Du trong bài Điệu Khuyển trên đây c̣n là thi hứng của ông trong ba bài:

 

 

Ngẫu Thư Công Quán Bích

 

Tam Thủ

 

Kỳ Nhất

 

Triêu xan nhất vu phạn

Mộ dục nhất bồn thuỷ

Bế môn tạ tri giao

Khai song kiến kinh kỷ

Song ngoại kinh kỷ mạn thả trường

Mỹ nhân du du cách cao tường

Đỗ vũ thanh khứ hĩ

Hồn hề quy lai bi cố hương.

 

Kỳ Nhị

 

Xương hạp môn tiền xuân sắc lan

Cách giang dao đối Ngự B́nh san

Xuân ṭng giang thượng lai hà xứ

Nhân ỷ thiên nhai trệ nhất quan

滿

Măn địa phồn thanh văn dạ vũ

Nhất sàng cô muộn địch xuân hàn

Đào hoa mạc tượng đông quân ư

Bằng hữu phong di tính tối toan.

 

kỳ Tam

 

Đông vọng giang đầu vọng cố giao

Phù vân vô định thủy thao thao

Phong xuy cổ trủng phù vinh tận

Nhật lạc b́nh sa chiến cốt cao

Sơn nguyệt giang phong như hữu đăi

Nham thê cốc ẩm bất từ lao

B́nh sinh dĩ tuyệt vân tiêu mộng

Phạ kiến bàng nhân vấn vũ mao.

 

dịch là:

 

Ngẫu Nhiên Đề Thơ

Trên Vách Công Quán

 

Ba Bài

 

I

 

Sớm mai ăn một lưng cơm

Chiều về tắm mát một bồn nước trong

Cổng cài tạm lánh bạn ḷng

Cành kinh cây kỷ ngoài song vươn dài

Ngoài song kinh kỷ vươn dài

Mỹ nhân đằng đẵng tường dầy vách cao

Xuân tàn tiếng cuốc khơi sầu

Ơi hồn nhớ nước ở đâu sớm về.

 

II

 

Trước thềm xuân đă hồ tàn

Cách sông núi Ngự ngút ngàn mây cao

Cảnh xuân nước cuốn về đâu

Phận quan lần lữa buộc nhau bên trời

Đêm dài nghe tiếng mưa rơi

Lạnh lùng gối chiếc lẻ đôi sớm chiều

Hoa đào chớ cậy xuân yêu

Cả ghen d́ gió lắm điều kề bên

 

III

 

Ngoái nh́n quê cũ đầu sông

Mây trôi nước cuốn bềnh bồng bao la

Vinh hoa hăo nấm mồ xa

Đống xương tử sỉ chiều tà cồn hoang

Hẹn ḥ sông núi gió trăng

Gian lao uống suối ở hang chẳng sờn

Công danh mộng cũ tiêu ṃn

E người gạn hỏi mất c̣n cánh lông.

 

Giới nghiên cứu cho biết công quán là ngôi nhà công tại Huế, triều đ́nh cấp cho các quan, có gia đ́nh vẫn c̣n ở quê.

 

Trong bài thứ nhất, Nguyễn Du cho thấy cảnh ở công quán ăn cơm trọ, tắm nước bồn, không có bè bạn, ngoài cửa sổ chỉ cây dại mọc dài, người đẹp kín cống cao tường, chỉ c̣n nghe tiếng cuốc kêu khêu nỗi nhớ nhà. Trong câu thứ sáu có hai chữ mỹ nhân đă gây tranh căi trong giới nghiên cúu. Phe chủ trương Nguyễn Du có chí pḥ Lê, cho hai chữ này chỉ nhà vua; giới đối nghịch lại giảng hai chữ này là người đẹp. cả hai phe cùng không đưa ra một bằng chứng nào khác và để ngỏ để người đọc phán đoán.

 

Bài thứ hai tác giả tả cảnh một ḿnh một bóng ở nhà công quán, thêm nỗi buồn v́ phận làm quan bó buôc, khúm núm trước sân rồng, lại c̣n e sợ bị gièm pha.

 

Bài thứ ba, tác giả đón nh́n về quê nhà cách sông cách núi xa xăm, mộng vinh hoa ngày nay chôn xâu dưới nấm mồ, như đống xương vô định. Ngoài kia núi sông gió trăng vẫn c̣n chờ đợi. Giấc mộng b́nh sinh đă dứt, bay bổng tận mây xanh, mà truyện lông cánh ông vẫn c̣n e ngại người đời hỏi tới.

 

Bài thứ ba cho thấy rơ là giấc mộng vinh hoa của Nguyễn Du đă thật sự tàn. Nên khó bảo rằng ông c̣n ư chí pḥ Lê. Có chăng là ông c̣n giấc mộng vui cùng gió trăng sông núi. Thế nên, quyết đoán rằng Nguyễn Du thật thà theo nhà Nguyễn, e rằng không giả thích được tại sao Nguyễn Du không hăng say trên hoạn lộ. Bảo rằng v́ bẩm tính Nguyễn Du tự do phóng khoáng không muốn ra làm quan th́ dường như trái ngược với sự kiện ông ra làm quan, ngoài tỉnh trong triều, trước sau tṛn mười chín năm.

 

Trả lời những thắc mắc này dường như không có cách nào khác hơn là đọc trọn vẹn ba tập thơ của Nguyễn Du.

 

Nam Trung Tạp Ngâp chép tiếp:

 

Tống Nhân

 

Hương Cần quan đạo liễu thanh thanh

Giang bắc giang nam vô hạn t́nh

多妒

Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc

Cố hương thuần lăo thượng kham canh

Triều đ́nh hữu đạo thành quân hiếu

Trúc thạch đa tàm phụ nhĩ minh

Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh

滿

Măn sàng trệ vũ bất kham thinh.

 

dịch là:

 

Tiễn Bạn

 

Hương Cần quan đạo liễu xanh

Đôi bờ nam bắc một t́nh chứa chan

Vườn vua ghen sắc oanh than

T́nh quê đạm bạc canh thuần vẫn ngon

Vua thương chữ hiếu anh tṛn

Lỗi thề trúc đá thẹn ḷng phận tôi

Đèn khuya đối bóng bồi hồi

Lắng nghe tí tách mưa rơi bên giường.

 

Giới nghiên cứu cho biết Hương Cần là một làng cách Huế chừng bốn cây số về phiá bắc, năm bên đường thiên lư. Có người cho rằng h́nh ảnh liễu xanh trong câu thứ nhất mô tả cảnh chia tay giũa tác giả và người về đường ngoài. Câu thứ ba với h́nh ảnh ghen sắc của bầy chim oanh trong vườn thượng uyển mô tả cảnh ghen đua tại sân rồng. Đối với cảnh ghen đua đó là bát canh ngó sen, tiếng chữ là canh thuần tương trưng cảnh yên vui ở nhà. Người bạn của tác giả giữ tṛn chữ hiếu nhờ ơn triều đ́nh trọng đạo, riêng ông lỗi thề mà thẹn với trúc đá. Đêm về khuya, một ḿnh Nguyễn Du ngồi bên đèn nghe mưa Huế tí tách rơi.

 

Nam Trung Tạp Ngâm ghi thêm nỗi ḷng của tác giả trong những năm tháng làm quan xa nhà ở Huế trong năm bài kế tiếp:

 

Ngẫu Hứng

 

Ngũ Thủ

 

Kỳ Nhất

Tam nguyệt xuân th́ trưởng đậu miêu

滿

Hoàng hồ ph́ măn bạch hồ kiêu

Chủ nhân tại lữ bất quy khứ

 

Kỳ Nh́

 

Lô hoa sơ lục cúc sơ hoàng

Thiên lư hương tâm dạ cộng trường

Cưỡng khởi thôi song vọng minh nguyệt

Lục di trùng hợp bất di quang

 

Kỳ Tam

 

Nhất đái ba tiêu lục phúc giai

Bán gian yên hỏa tạp trần ai

Khả liên đ́nh thảo sam trù tận

Tha nhật xuân phong hà xứ lai

 

Kỳ Tứ

 

Cố hương kháng hạn cửu phương nông

Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng

Thí tự thuần lư tối quan thiết

Hoài quy nguyên bất đăi thu phong.

 

Kỳ Ngũ

 

Hữu nhất nhân yên lương khả ai

Phá y tàn lạp sắc như hôi

Tị nhân đăn mịch dạo bàng tẩu

Tri thị Thăng Long thành lư lai.

 

 

dịch là:

Ngẫu Hứng

Năm bài

 

I

Tháng ba đậu lúa cỏn non

Cáo vàng hồ trắng béo tṛn chạy chơi

Chủ nhân đất khách bên trời

Non Hồng để mặc tay người tiều phu.

 

II

Lau chớm bạc cúc chớm vàng

Đêm dài dằng dặc dặm ngàn nhớ quê

Bên song gượng đón trăng về

Cây xanh rậm rạp bốn bề vắng trăng.

 

III

Rợp hè tầu chuối xanh rờn

Mịt mù tro bụi khói ṿn nửa gian

Rẫy ṿm cỏ dại đầu sân

Xuân về chẳng biết gió xuân ngả nào.

 

IV

Quê nhà hạn hán trời hành

Nhà mười miệng trẻ mặt xanh vơ vàng

Uớc mong thuần vực từ quan

Sớm ra phải đợi thu sang mới về.

 

V

Có người đói rét lang thang

Rách bươm áo nón vỏ vàng mầu da

Gặp người khép nép lánh xa

Từ Thăng Long đến mà ra cảnh này.

 

Năm bài Ngẫu Hứng trên đây ghi lại năm tâm cảnh của Nguyễn Du.

 

Bài thứ nhất như một giấc mơ của Hồng Sơn Liệp Hộ: ông nhớ lại việc trồng lúa đậu, cùng những kinh nghiệm về loài hồ loài cáo vào dịp tháng hai. Ông tiếc cho ông đang sống tại nơi công quán xa quê, thú vui săn bắn ở cả trong tay người bạn tiều phu của ông.

 

Bài thứ hai cũng lại là tâm cảnh nhớ nhà một đêm thu ở nhà công quán. Ông chờ trăng lên một ḿnh, nhưng cành lá cây kinh cây kỷ rậm rạp, như ông viết trong bài Ngẫu Thư Công Quán Bích kỳ nhất, ngoài song khiến ông không nh́n thấy trăng.

 

Bài thứ ba ông viết về tàu lá chuối bên thềm nhà và nửa gian nhà bụi bậm. Ông tiếc cho sân cỏ đă bị dẫy sạch mà lo cho mùa xuân tới không biết gió thổi từ phương nào về. Bài thứ hai, và bài thứ ba cùng cho người đọc không những thấy niềm nhậy cảm của Nguyễn Du với ngoại cảnh thiên nhiên liền vói ông, đồng thời lại thấy như ông muốn dùng cành lá cây kinh cây kỷ hay tàu lá chuối để mă hóa những truyện ông không tiện ghi rơ hơn.

 

Bài thứ tư ông ghi lại tin quê ông bị hạn hán. Mười miệng trẻ, con ông đă bị thiếu ăn. Giới nghiên cúu cho biết là Nguyễn Du có ba vợ. Bà cả họ Đoàn Nguyễn, sinh một con trai và mất sớm, bà kế họ Vơ, cũng sinh một con trai. Bà thiếp sinh đưọc mười trai sáu gái ở lại quê nhà, không vào kinh theo ông. Với một gánh nặng gia đ́nh như vậy dầu tha thiết muốn từ quan về hưu, nay lại gặp cảnh hạn hán, phải chăng dường như ông phải lui truyên xin nghỉ việc quan tới mùa thu?

 

Bài chót ông ghi h́nh ảnh một người gặp cảnh đói rét, áo nón xơ xác, mặt mày xanh xao, mà ông đoán là người Thăng Long mới đến kinh kỳ. Có nhà b́nh giải cho bài này là bài ông tự họa ngày mới tới Huế. Nhưng nhiều người khác bác bỏ ư kiến này.

 

H́nh ảnh mười miệng con đói nơi quê nhà đang bị hạn hán c̣n đến với Nguyễn Du trong bài:

 

Ngẫu Đề

 

Bạch địa đ́nh tŕ dạ sắc không

Thâm đường tiễu tiễu hạ liêm lung

Đinh đông châm chữ thiên gia nguyệt

Tiêu tác ba tiêu nhất viện phong

Thạp khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc

Nhất thân ngoạ bệnh đế thành đông

Tri giao quái ngă sầu đa mộng

Thiên hạ hà nhân bất mộng trung.

 

dịch là:

 

Ngẫu Đề

 

Thềm ngoài vắng lặng đêm trong

Gian nhà tĩnh mịch nửa song rủ mành

Trăng suông chầy vải th́nh th́nh

Tầu tiêu gió đập dập dềnh đầu sân

Quê ngoài mười miệng thiếu ăn

Thành đông đau ốm một thân bên trời

Người cười mơ mộng một đ̣i

Hỏi trong thiên hạ ai người không mơ.

 

Tác giả dẫn ngụi đọc từ ngoài thềm, trong đêm vắng vào trong nhà. Từ ngoài nhà tiếng chầy vải, từ xa, tới tiếng tàu lá chuối bên thềm lọt vào gian nhà. Rồi tác giả cho hay bày con nơi quê nhà c̣n đang đói ăn, riêng ông ở mé đông thành một ḿnh vẫn đau yếu. Bạn bè chế cuời ông suốt đời mộng mơ. Ông hỏi ngược lại ai là nguời không bao giờ mơ trong thiên hạ này? Điểm đánh ghi nhận là câu chuyện nhà mười miệng thiếu ăn đeo đẳng ông từ bài Ngẫu Hứng IV, lại trở lại với ông trong bài Ngẫu Đề này. Hai câu kết cho biết là bạn bè cười ông suốt đời sầu mộng. Quay lại bài Ngẫu Hứng IV, dường như trước cành thiếu thốn vật chất của mười đứa con ông đă có hành động thích đáng: lui ngày ông xin từ quan tới sang thu.

 

Giấc mộng mà Nguyễn Du nói tới trong hai câu kết trên đây c̣n len vào giấc ngủ của ông như ghi trong bài:

 

Thủy Liên Đạo Trung Tảo Hành

 

Bi mạc bi hề hành đạo nan

宿

Thảo đầu lộ túc phạm suy nhan

Bách niên cổ đạo giai thành hác

Nhất giải b́nh lâm bất kiến san

Đa bệnh nhất thân cung đạo lộ

Ngũ canh tàn mộng tục hương quan

Ngẫu phùng quy khách hướng dư thoại

Tạc tuế triều thiên sạ phóng hoàn.

 

dịch là

 

Sớm Mai Trên Đường Thủy Liên

 

Buồn cho đường lối gian nan

Màn sương nệm cỏ dung nhan thêm sầu

Trăm năm đường lở thành hào

Rừng dầy che rặng núi cao cuối trời

Đường trường đau ốm quê người

Tàn năm canh mộng trông vời quê xa

T́nh cờ gặp khách ngược ra

Vào chầu tṛn một năm qua được về.

 

Giới nghiên cứu đoán chừng là Nguyên Du viết bài này trong chuyến di hành vào Quảng B́nh nhận chức Cai Bạ. Dầu được ra làm quan tỉnh, nhẹ bớt cảnh khúm núm trước sân rồng, giấc mộng về cố hương vẫn không dời ông. Một tia hy vọng là ông gặp dưọc người khách đường xa cho hay là năm ngoái vào chầu vua, năm nay đă đưọc cho về.

 

Tiếp theo là bài:

 

Tân Thu Ngẫu Hứng

 

Giang thành nhất ngọa duyệt tam chu

Bắc vọng gia hương thiên tận đầu

Lệ Thủy Cẩm Sơn giai thị khách

Bạch vân hồng thụ bất thăng thu

Thử thân dĩ tác phàn lung vật

Hà xứ trùng tầm hăn mạn du

Mạc hướng thiên nhai thán luân lạc

Hà nam kim thĩ đế vương chu.

 

dịch là:

 

Ngẫu Hứng Đầu Thu

 

Ba năm nằm cơi Giang Thành

Vời trông trời bắc quê ḿnh xa xôi

Cẩm Sơn Nhật Lệ đất người

Vào thu cây đỏ mây trôi bềnh bồng

Thân này chim nhốt trong lồng

T́m đâu ra cảnh thong dong mà t́m

Chớ than lưu lạc nổi ch́m

Bờ nam nay cũng là miền đất vua.

 

Giới nghiên cứu cho biết Giang Thành là thành Đông Hải, tức Đồng Hới, bên sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng B́nh. Câm Son là tên núi, Lệ Thủy là tên sông, hai địa danh thuộc Quảng B́nh.

Trời Quảng B́nh đă vào thu, mây trắng cây đỏ, mà tác giả chỉ thấy ḿnh như bị giam trong lồng, không biết t́m đâu ra thú giải trí. Nhưng rồi ông tụ an ủi, là nơi ông đang nhậm chúc chưa phải là chốn chân trời, v́ đất bên bờ nam Nhật Lệ nay đă là đất của nhà vua rồi.

 

Cái mơ ước từ quan cũa Nguyễn Du dương như luôn luôn đi đôi với cái nợ áo cơm. Cái giàng co này dường như làm nhà thơ nhiều đêm thức trắng, như ông ghi trong bài:

 

 

Dạ Tọa

 

Tứ bích cùng thanh náo dạ miên

Ải sàng di hướng khúc lan biên

Vi phong bất động sương thùy địa

滿

Tà nguyệt vô quang tinh măn thiên

Kim cổ nhàn sầu lai túy hậu

Thuần lô hương tứ tại thu tiên

Bạch đầu sở kế duy y thực

Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên.

 

dịch là:

 

Ngồi Trắng Đêm

 

Dế than phá giấc bốn bên

Đẩy giường ra tận đầu hiên ta nằm

Gió im sương đất giăng màn

Đầy trời sao tỏ trăng tàn hết đêm

Hả say buồn truyện cổ kim

Đầu thu thuần vược trạnh niềm phân vân

Bạc đầu nặng nợ áo cơm

Tiếc ngày niên thiếu thơ ngâm như cuồng.

 

Câu thứ bẩy trong bài trên đây, tác giả cho hay là ông đă bạc đầu rồi mà c̣n chỉ nghĩ đến truyện áo cơm. Chác hẳn không phải truyện áo cơm cho riêng chính ông, v́ dầu lương một vị đường quan, cấp cai bạ, dầu có đạm bạc đến đâu chắc cũng dư cho việc cơm áo cho cá nhân người làm quan, vậy câu truyện áo cơm này hẳn là câu truyện áo cơm cho đàn con gần hai chục miệng ở quê nhà. Phải chăng v́ vậy mà việc xin từ quan của ông làm ông phải suy đi tính lại.

 

Ư muốn từ quan Nguyễn Du thấy rơ trong bài ông viết tặng ông bạn đă ra ngoài ṿng cương tỏa như sau:

 

Tặng Nhân

 

Doanh doanh nhất thủy giới cô thôn

Trung hữu cao nhân bất xuất môn

鹿

Tiêu lộc mộng trường tâm bất cạnh

Tần Tùy văng sự khẩu năng ngôn

滿

Xuân vân măn kính quần mi lộc

Thu đạo đăng trường đốc tử tôn

Ngă dục quải quan ṭng thử thệ

Dữ ông thọ tuế lạc cầm tôn.

 

dịch là:

 

Tặng Người

 

Sông đầy nước bạc bên thôn

Không ra khỏi của cao nhân hơn đời

Mộng tiêu lộc chẳng đua đ̣i

Tần Tùy việc cũ đôi lời đúng sai

Ngày xuân vui với hươu nai

Sang thu gặt hái đứng ngoài nhắc con

Những mong treo mũ từ quan

Cùng ông năm tháng rượu đàn vui chung.

 

Giới nghiên cứu cho biết mộng tiêu lộc là chữ rút từ sách Liệt Tử, chép truyện người hái củi giết được con hươu, dấu xuống hốc, lấy là chuối phủ lên; sau đó không nhớ đă dấu con hươu ở đâu, ngờ là ḿnh ngủ mơ bắt được hươu. Nghĩa rộng là những cái có ngoài thân như danh lợi, có đó mất đó, như thật như mơ. Đời sống của người bạn của Nguyễn Du dường như là đời sống ông thuờng mong ước mà chưa đạt được.

 

 


 

 

 

Xem KỲ 07

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com