www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THƠ VIỆT ÂM
Của Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 04:

 

Sau mấy bức thư gửi bạn, Thanh hiên Thi Tập ghi lại cảm hứng của tác giả ngày qua sông Long Vĩ.

 

Độ Long Vĩ Giang

Cố quốc hồi đầu lệ

西

Tây phong nhất lộ trần

Tài qua Long Vĩ thủy

便

Tiện thị dị hương nhân

Bạch phát sa trung hiện

Ly hồng hải thượng văn

Tân bằng tân khẩu vọng

Vị ngă nhất triêm cân.

 

dịch là:

 

Sang Sông Long Vĩ

Ngoảnh nh́n quê cũ lệ trào

Gió tây cuốn bụi nghẹn ngào đường xa

Bến sông Long Vĩ vùa qua

Đă là nước lă đă là người dưng

Bên cồn hiện rơ tóc sương

Tiếng hồng khắc khoải khơi trùng lẻ loi

Bạn bè trên bến trông vời

V́ ta khăn ướt lệ rơi chân t́nh.

 

Giới nghiên cứu cho hay Long Vĩ là tên gọi khúc sông Lam gần ra tới biển, chẩy qua làng Tiên Điền. Nhưng không ai rơ là Nguyễn Du qua sông Long Vĩ để đi đâu và trong dịp nào.

Qua những h́nh ảnh trong bài thơ, Nguyễn Du ra đi mà mới qua sông đă thấy ḿnh tới nơi xa lạ, đă cảm thấy ḿnh thêm già. Nhưng chuyến đi, có nhiều bạn bè bà con đưa tiễn đông đủ, hẳn là một chuyến đi xa và đă đưọc sửa soạn kỹ.

 

Nguyễn Du c̣n ghi lại h́nh ảnh chuyến sang sông này trong ba bài sau đây:

 

Biệt Nguyễn Đại Lang

 

Tam Thủ

 

Kỳ Nhất

Ngă thả phù giang khứ

Tống quân quy cố khâu

Càn khôn dư thảo ốc

宿

Phong vũ túc cô chu

Thu dạ ngư long trập

鹿

Thâm sơn mi lộc du

Hưu kỳ bất thậm viễn

Tương kiến tại trung châu.

 

Kỳ Nhị

 

Tống quân quy cố khâu

Ngă diệc phù Giang Hán

Thiên lư bất tương văn 

Nhất tâm vị thường gian

Dạ hắc sài hổ kiêu

Nguyệt minh hồng nhạn tán

Lưỡng địa các tương vọng

Phù vân ưng bất đoạn.

 

Kỳ Tam

 

Quân quy ngă diệc khứ

Các tại loạn ly trung

Sinh tử giao t́nh tại

Tồn vong khổ tiết đồng

Sài môn khai dạ nguyệt

Tàn lạp tẩu thu phong

Thiên lư bất tương kiến

Phù vân mê thái không.

 

dịch là:

 

Từ Biệt Anh Nguyễn

Ba Bài

 

Bài Một

 

Thế nào tôi cũng ra đi

Anh về g̣ cũ ngập ngừng tiễn anh

Đất trời c̣n mái nhà tranh

Gió mưa thuyền lẻ bập bềnh ruổi rong

Đêm thu ẩn kín cá rồng

Rừng sâu chạy nhẩy thoả ḷng hươu nai

Ngày vui sắp tới nay mai

Hẹn nhau gặp lại đàng ngoài trung châu.

 

Bài Hai

 

Anh về g̣ cũ tiễn anh

C̣n tôi tôi sẽ một ḿnh sang sông

Ngàn xa rồi bặt tin hồng

Nhớ nhau cách biệt bên ḷng nào nguôi

Sói hùm tác quái đêm dài

Trăng trong tan tác cánh hồng lẻ đôi

Nhớ thương đôi ngả đôi người

Ngang trời bàng bạc mây trôi bềnh bồng

 

Bài ba

 

Tiễn anh về tôi ra đi

Đôi ta loạn lạc chia ly âu đành

Đinh ninh sống thác vẹn t́nh

Mất c̣n c̣n mất đôi ḿnh khổ chung

Cửa sài then ngỏ giăi trăng

Gió thu nón rách lang thang quê người

Ngàn trùng ngăn cách xa xôi

Bầu trời mờ mịt mây trôi lững lờ.

 

Trong cả ba bài tiễn biệt trên, tác giả là người sẽ sang sông, giă biệt người anh lúc người anh tiễn ông sắp quay về. Bốn câu cuối bài thứ nhất, cho thấy người sang sông tin chắc ở tương lai sáng láng, và hẹn gặp lại người anh trong một ngày gần đó. Nhưng mối bịn rịn lúc chia tay, trong hai bài sau như thêm nồng nàn, người đi tiễn chưa muốn quay về, người sang sông chưa xuống thuyền. Hai người c̣n đứng bên nhau, nhưng dường cùng chia nhau nổi thương nhớ v́ cảnh tương lai bất chắc.

 

Tiếp theo ba bài Biệt Nguyễn Đại Lang, Thanh Hiên Thi Tập chép liền ba bài mang đậm mầu Thiền, Lăo. Bài thứ nhất là bài:

 

Đạo Ư

 

Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh

Tỉnh thủy vô ba đào

Bất bị nhân khiên xả

Thử tâm trung bất dao

Túng bị nhân khiên xả

Nhất dao hoàn phục chỉ

Trạm trạm nhất phiến tâm

Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh.

dịch là:

 

Giăi Ư

 

Giếng sâu giăi ánh trăng xuông

Nước không gợnsóng như gương một làn

Không người khấy động tĩnh an

Tâm này tĩnh lặng bóng trăng in h́nh

Có người khuấy động th́nh ĺnh

Thoáng qua dao động sóng dềnh lại yên

Giữ sao ḷng tâm tĩnh một niềm

Để trăng ḷng giếng vẹn tuyền như xưa.

 

Điểm đáng lưu ư là bài Đạo Ư này là bài thơ đầu tiên trong Thanh Hiên Thi Tập Nguyễn Du nói tới chữ tâm và sự tĩnh tâm, chữ chủ chốt của Thiền và Lăo Học. Chủ ư của bài thơ rơ rệt là tác giả muốn giữ cho tâm của ông đưọc tĩnh, dầu có bị người khuấy động cũng chỉ giây lát lại trở lại tĩnh lặng.

 

Rồi tới hai bài:

 

Hành Lạc Từ

Nhị Thủ

Kỳ Nhất

Tuấn khuyển hoàng bạch mao

Kim linh hệ tú cảnh

Khinh sam thiếu niên lang

Khiên hướng nam sơn lĩnh

Nam sơn đa hương mi

Huyết nhục cam thả ph́

Kim đao thiết ngọc soạn

Mỹ tửu lũy bách chi

Nhân sinh vô bách tải

Hành lạc đương cập kỳ

Vô vi thủ bần tiện

Cùng niên bất khai mi

Di Tề vô đại danh

Chích Cược vô đại lợi

Trung thọ chỉ bát thập

Hà sự thiên niên kế

Hữu khuyển thả tu sát

Hữu tửu thả tu khuynh

Nhăn tiền đắc táng dĩ nan nhận

Hà sự mang mang thân hậu danh.

Kỳ Nhị

Sơn thượng hữu đào hoa

 

Xước ước như hồng ỷ

Thanh thần lộng xuân nghiên

Nhật mộ trước nê chỉ

Hảo hoa vô bách nhật

Nhân thọ vô bách tuế

Thế sự đa suy di

Phù sinh hành lạc sự

Tịch thượng hữu kỷ kiều như hoa

Hồ trung hữu tửu như kim ba

Thúy quản ngọc tiêu hoăn cánh cấp

Đắc cao ca xứ thả cao ca

Quân bất kiến:

Vương Nhung nha trù thủ tự chóc

Nhật nhật cối kế thường bất túc

Tam công đài khuynh hảo lư tử

Kim tiền tán tác tha nhân phúc

Hựu bất kiến:

Phùng Đạo văn niên xưng cực quư

Lịch triều bất ly khanh tướng vị

Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không

Thiên tải đồ lưu trường lạc tự

Nhăn tiền phú quư như phù vân

Lăng đắc kim nhân tiếu cổ nhân

Cổ nhân phần doanh dĩ luy luy

Kim nhân bôn tẩu hà phân phân

 

Cổ kim hiền ngu nhất khâu thổ

Sinh tử quan đầu mạc năng độ

Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan

西

Tây phong nhật lạc thiên tương mộ.

 

dịch là:

 

Hành Lạc Từ

Hai bài

Bài I

Cầy tơ đốm trắng lông vàng

Cổ đeo một chiếc nhạc vàng thêm xinh

Chàng trai áo ngắn phong phanh

Núi Nam ngắm hướng tênh tênh bước về

Núi Nam có lắm nai quê

Tiết thơm thịt béo khó chê mọi đàng

Món ngon bát ngọc dao vàng

Rượu tăm trăm chén nào màng tỉnh say

Đời người trăm tuổi mấy ai

Kíp thời hành lạc kẻo mai xuân tàn

Giữ chi nếp sống nghèo nàn

Quanh năm quần quật làm ăn ngập đầu

Di Tề nào có danh cao

Lại coi Chích Cược có giầu hơn ai

Tám mươi tuổi đà sống dai

Ngàn năm lo chuyện đường dài uổng công

C̣n cầy c̣n miếng dồi ngon

C̣n be rượu trắng ta c̣n bữa say

Mất c̣n trước mắt nào hay

Ngàn năm danh lợi lăo đây cóc cần.

Bài II

Non xanh rực rỡ hoa đào

Lụa hồng một dải ngàn cao ngang trời

Sớm mai giỡn cợt hoa tươi

Đầu hôm đă vội tả tơi khe lầy

Mùa hoa nào đủ trăm ngày

Sống lâu trăm tuổi đời nay mấy người

Vần xoay thay đổi truyện đời

Phù sinh một kiếp chẳng chơi cũng già

Tiệc hoa kỹ nữ như hoa

Rượu thơm lóng lánh sao sa sóng vàng

Nhặt khoan đàn sáo nhịp nhàng

Chung vui câu hát rộn ràng tiếng ca

Anh thấy chăng:

Vương Nhung tay bấm thẻ ngà

Lo quanh tínhquẩn chẳng qua tham nhiều

Quan hết thời gốc mận xiêu

Bao nhiêu vàng bạc bấy nhiêu trả người

Lại thấy chăng:

Họ Phùng danh vọng cao vời

Bốn triều khanh tướng chẳng dời đỉnh chung

Dỉnh chung rốt cuộc bằng không

 

Ngàn năm Trường Lạc một chương để đời

Giầu sang mây nổi đầy vơi

Người nay ai lại dám cười người xưa

Người xưa đều chết yên mồ

Người nay sao vẫn hồ đồ bôn ba

Hiền ngu chết cũng ra ma

Ai người thát cảnh khiêng ra ngoài đồng

Mời anh vui chén rưỡu nồng

Trời tây bóng xế ngoài song tối rồi.

 

Người đọc it ai không ngạc nhiên lần đầu đọc bài Hành Lạc Từ I. Thật vậy, người ta thường nói truyện ăn thịt chó, nhưng dường như không có một văn thi sĩ nào viềt về việc ăn thịt chó như Nguyễn Du.

 

H́nh ảnh bữa thịt chó, có bát ngọc dao vàng, có rưọu tăm trăm chén, đặt trong mạch thơ con người đối mặt với cái chết, cần gấp gáp t́m vui, khiến người đọc, qua mười hai câu đầu,  nhớ tới câu tục ngữ:

 

Sống ở đời ăn miếng dồi chó

 

Thế rồi trong mười câu sau, tác giả nói tới Di Tề, nói tới Chích Cược: Di Tề chết dói dưới Thú Dương v́ chữ danh, Chích Cược chết bên g̣ Đông Lăng v́ lợi, là hai truyện Trang Tử nhiều lần bàn tới trong sách Nam Hoa Kinh. Đời người lại nggắn ngủi, chẳng mấy ai sống đủ trăm tuổi, vậy thời c̣n cầy c̣n miếng dồi ngon, c̣n rưỡu c̣n bữa say. Danh vọng ngàn sau đâu lăo có cần.

 

Bài Hành Lạc Từ II cũng cùng một ư thơ: đời sống con người ngắn ngủi chẳng khác ǵ bông hoa đào sớm nỏ tối tàn. Không chơi cũng già, vậy thời sao không vui cùng cầm kỳ tửu sắc.

 

Tác giả lấy điển Vương Nhung, một trong Trúc Lâm Thất Hiền, suốt đời tính toán làm giầu lúc chết tiền bạc bao nhiêu cũng trả đủ bấy nhiêu cho người. Phùng Đạo, người Ngũ Đại, làm quan to suốt bốn triều Đường Tấn Hán Chu, nhưng rốt cuộc lúc chết để lại không có ǵ ngoài tự truyện Trường Lạc của ông.

 

Hiền ngu đều phải chết, vậy mời anh vui chén rượu này, trời tây xế bóng một ngày lại qua.

Người đọc nhận ra rằng đây là lần thứ hai Nguyễn Du dùng h́nh ảnh cái chết trong thơ. Lần thứ nhất là lần ông xét lại cái chết v́ chữ trung của vơ tướng Trương Thế Kiệt và văn quan Lục Tú Phú tại núi B́nh Chương và của Bá Di Thúc Tề tại núi Thú Dương, trong mười ngày bị giam trong ngục, như ghi trong bài Mi Trung Mạn Hứng. Câu hỏi là những điều Nguyễn Du tự hỏi trong mười tuần đó có liên quan ǵ tới nếp sống coi thường danh lợi, vui cái vui của bữa tiệc hoa như trong hai bài từ trên đây?

 

Tiếp theo hai bài hành trên đây, Nguyển Du ghi trong một bài ngũ ngôn mười vần, cảm nghĩ của ông, hay đúng hơn cảm nghĩ của con người nhỏ bé đứng trước cảnh nước lớn bên ḍng sông Lam, tiêu biểu cho sức mạnh thiên nhiên và cái bất nhân của con tạo :

 

Lam Giang

Thanh thần vọng Lam Giang

Lam Giang trướng thu thủy

Ngư miết du khâu lăng

Ngư mă mê nhai sĩ

Di ngạn băng bạo lôi

Hồng đào kiến kỳ quỷ

Nguy hiểm thắng nhân tâm 

Khuynh phúc diệc thiên ư

Ngă vọng Lam Giang đầu

Thốn tâm thường chúy chúy

Thường khủng nhất thất túc

Cốt một vô để chỉ

Như hà thế gian nhân

Thừa hiểm bất tri úy

Khứ giả hà thao thao

Lai giả thượng vị dĩ

Đế đức bản hảo sinh

Na đắc trường như thị

Nghĩ khu Thiên Nhận Sơn

Điền b́nh ngũ bách lư.

 

dịch là:

 

Sông Lam

 

Sớm mai ra ngắm sông Lam

Mùa thu nước lớn ḍng Lam đục ngầu

Nước dâng giải vượt cồn cao

Đồng sâu ngập trắng ngựa trâu lạc đường

Ầm ầm đất lỡ bờ sông

Hiện h́nh qủy dữ sóng hồng nhấp nhô

Hiểm nguy dạ luống sững sờ

Long trời lở đất hẳn do ư trời

Nh́n ḍng Lam những bồi hồi

Mối lo ngơm ngớp phận người nhỏ thay

Sa chân sẩy bước nơi đây

Ch́m sâu mất tích phút giây tức th́

Thế mà người thế coi khi

Liều thân xông xáo hiểm nguy chẳng sờn

Kẻ trước cuồn cuộn bước rồn

Người sau nối gót gian nan chẳng ngừng

Hiếu sinh trời đất lẽ thường

Cảnh này để vậy dửng dưng chẳng màng

Chẳng xẻ dẫy Thiên Nhận San

Lấp bằng trăm dặm Lam Giang giúp đời.

 

Tám câu đầu trong bài Lam Giang trên đây là tám câu tả cảnh nước lớn bên bờ sông Lam, với cảnh đồng lúa ngập trắng nước, đất bên bờ sông lở ầm ầm, mà tác giả cho đó là do ư trời tạo nên. Trước cảnh đó Nguyễn Du nh́n ra cái nhỏ bé của kiếp người so với sức mạnh của thiên nhiên. Nhưng dường như thế nhân không nhận ra điều đó, cứ theo nhau lao ḿnh vào chốn nguy hiểm. Điều đó khiến tác giả tự hỏi về đức hiếu sinh của ḷng Trời. Cớ sao thiên nhiên không san bằng núi Thiên Nhận lấp đầy năm trăm dặm sông Lam để cứu đời?

 

Tự đăt câu hỏi đó phải chăng Nguyễn Du đă có câu trả lời: Thiên địa bất nhân trong chương V sách Đạo Đức Kinh của Lăo Tử?

 

Theo một hướng khác, trước cảnh thế nhân nối gót nhau lao vào ṿng nguy hiểm, bất chấp cả mạng sống, người đọc dường như thấy Nguyễn Du thương cho thế nhân lấy cái hữu hạn của con người chạy theo cái vô hạn của thiên nhiên, mà thương cho nhưng người liều chết chạy theo hai chữ lưu danh đời sau. Trong mạch thơ đó, Thanh Hiên Thi Tập chép tiếp bài:

 

,

Ninh Công Thành,

Độc thướng cao sơn nhăn giới tân

Anh hùng văng sự quải giang tân

Nhất thành thượng hạ tậnn kiều mộc

Thập lư uy phong kiến cổ nhân

Thủ địa bắc nam quy nhất trục

Đương th́ tỉnh táo trú tam quân

Thập niên vị tiết nam nhi hận

Đàn kiếm trường ca đối bạch vân.

 

dịch là:

 

Thành Ông Ninh

Lên cao cảnh mới như tranh

Bến sông truyện cũ lưu danh anh hào

Tường thành cây mọc thấp cao

Oai phong mười dặm thủa nào c̣n đây

Bắc nam một mối nơi này

Giếng khô bếp cũ dấu ngày đóng quân

Ḷng trai tiết hận mười xuân

Nh́n mây vỗ kiếm thành vần nghêu ngao

 

Ông Ninh là tên dân gian goi Tinh Ninh hay Trịnh Toàn, em chúa Trịnh Tráng, làm trấn thủ Nghệ An. Thời Trịnh Nguyễn chiến tranh, ông cho đắp nhiều lũy đất ở vùng núi Dũng Quyết, và ở trên bờ sông Lam, gần Bến thủy, nay vẫn c̣n di tích. Khi Trịnh Tạc nối ngôi Trịnh Tráng, có y nghi ngờ Trịnh Toàn, gọi về Thăng Long và giết chết trong ngục.

Nguyễn Du qua thành Ông Ninh, thấy thành xưa cây cỏ mọc dầy, tuy vết ngày oanh liệt ngày xưa c̣n đó, mà thương cảm cho Trịnh Toàn, chỉ v́ chữ danh mà chết thảm trong ngục.

Liên tưởng tới hiện cảnh của ḿnh, ông vổ gươm ngâm vang vần thơ vừa viết xong.

Tiết tới là bài:

 

Khai Song

Môn tiền yên cảnh cận như hà

Nhàn nhật khai song sinh ư đa 

Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa

Nhất đ́nh tích vũ nhĩ di oa

Thanh chiên cựu vật khổ trân tích

Bạch phát hùng tâm không đốt ta

調

Tái bệnh thượng tu điều nhiếp lực

Bất tri thu tứ đáo thùy gia.

 

dịch là:

 

Mở Song

 

Khói mây trước cửa dâng cao

Mở song sinh ư dạt dào dạ trong

Nửa năm cỡi gió cánh bằng

Ứng mưa dời tổ kiến càng ḅ nhanh

Vật xưa ǵn giữ chăn xanh

Hùng tâm đầu bạc cũng đành thở than

Dưỡng bồi bệnh cũ thuốc thang

Ư thu chẳng biết ẩn tàng nhà ai.

 

Dường như khá lâu rồi tác giả chưa mở cửa sổ nh́n ra ngoài, bỗng hôm nay mở song ông thấy nẩy ra trong ḷng nhiều sinh ư. Điểm đặc biệt là ông dùng hai chữ bằng tỷ của sách Trang Tử Nam Hoa Kinh, chương tiêu Dao Du, để mô tả sụ đổi dời, trong sáu tháng qua. nhưng dương như với ông th́ dường như cảnh kiến bị úng mưa dời tổ. Ông vẫn chưa quên được nếp xưa, như Vương Hiến Chi giữ chiếc chăn xanh, tiêu biểu cho cảnh nho sinh ǵn giữ nề nếp nhà nho. Tóc ông đă bạc chẳng c̣n biết làm ǵ hơn thở than. Bệnh cũ tái phát ông phải lo lắng thuốc thang lấy lại sức. Chẳng biết ư thu, hay hứng thơ mùa thu ần náu tại nhà ai?

 

Nguyễn Du c̣n ghi lại tâm cảnh trên đây trong bài kế tiếp:

 

Đối Tủu

Phù tọa nhàn song túy nhỡn khai

Lạc hoa vô số hạ thương đài

Sinh tiền bất tận tôn trung tửu

Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi

Xuân sắc tiệm thiên hoàng diểu khứ

Niên quang ám trục bạch đầu lai

Bách kỳ đăn đắc chung triêu túy

Thế sự phù vân chân khả ai.

 

dịch là:

 

Nhắp Rượu Một Ḿnh

 

Bên song vừa tỉnh hơi men

Tả tơi hoa rụng đầy thềm rêu xanh

Sống nay chẳng uống cạn b́nh

Chết mai rượu tưới mộ ḿnh cậy ai

Mầu xuân biến đổi oanh bay

Năm trôi tháng chẩy tóc mai bạc rồi

Say sưa mong được trọn đời

Sự đời mây nổi thương người trần ai.

 

Cũng như trong bài Hành Lạc II, Nguyễn Du so sánh đ̣i người ngắn ngủi như kiếp hoa mau tàn. Thế nên, rượu phải uống tới cạn bầu bằng không cái chết ập đến khó t́m người tưới rượu lên mộ cho ḿnh. Việc đời như mây nổi, thật đáng thương cho kiếp người.

Tiếp theo, Nguyễn Du ghi lại h́nh ảnh một Xóm Núi, trong đó người dân làng sống ngoài ṿng kiểm soát của triều đ́nh, tựa như trong áng thơ Đào Nguyên Kư của Đào Tiềm (365-427) đời Tấn, Trung Quốc:

 

Sơn Thôn

Vạn sơn thâm xú tuyệt phong trần

Thác lạc sài môn bế mộ vân

Trưởng giả y quan do thị Hán

Sơn trung giáp tư quưnh phi Tần

Mục nhi giác trủy hoang giao mộ

Cấp nữ đồng liên ngọc tỉnh xuân

Na đắc khiêu ly phù thế ngoại

Trường tùng thụ hạ tối nghi nhân.

 

dịch là:

Xóm Núi

Ngàn cao xa lánh bụi trần

Của sài lác đác mây vần chiểu buông

Ông già áo Hán c̣n dùng

Ghi năm lịch khác lịch chung đời Tần

Gơ sùng trẻ hát vang ngân

Nước trong giếng ngọcgái xuân kéo gầu

Ngoài ṿng phù thế ước sao

Gốc tùng nằm khểnh thú nào thú hơn.

 

Người đọc tụ hỏi trong bài thơ trên đây, Nguyễn Du ghi lại h́nh ảnh một xóm núi mà ông đi qua và thấy muốn ở lại đó, hay đó là một ước ao một hy vọng của tác giả.

 

Xóm núi ở trong một vùng núi cao, dân cư thưa thớt, bô lăo trong xóm c̣n mặc áo đội mũ kiểu đời Hán. Dân xóm ghi năm tháng theo một cuốn lịch khác với lịch nhà Tần, trai gái trẻ tuổi đều sống thoải mái sung sướng. Các nhà nghiên cứu chú thích về áo mũ kiểu Hán bằng điển Hán Quang Vũ khôi phục cơ nghiệp nhà Hán sau khi bị Vương Măng cướp ngôi, ngày tiến quân vào Lạc Dương thấy phụ lăo c̣n mang y phục kiểu người Hán, để tỏ ḷng

c̣n tưởng nhớ triều cũ. Về việc dùng lịch khác với lịch nhà Tần, là một điển rút từ bài Đào Nguyên Kư của Đào Tiềm, mô tả một số người lánh Tần di tản vào Nguồn Đào, sống cách biệt với đời sống bên ngoài, ăn mặc kiểu xưa, không biết đến mọi thay đổi thời thế ngoài đời.

 

Đằng khác, h́nh ảnh xóm núi trong bài thơ trên đây gợi cho người đọc h́nh ảnh một tiểu quốc, theo mẫu mực của Lăo Tử, trong chương 80 sách Đạo Đức Kinh, chủ trương có bậc Thánh thực thi phép sửa trị không làm để săn sóc bao bọc trăm họ theo lối vô tri vô dục.

 

Tiếp theo, Thanh Hiên Thi Tập dẫn người đọc trở về đời sống thực của Nguyễn Du với bài:

 

Điếu La Thành Ca Giả

Nhất chi nùng diễm hạ bồng doanh

Xuân sắc yên nhiên động lục thành

Thiên hạ hà nhân liên bạc mênh

Trủng trung ưng tự hối phù sinh

Yên chi bất tẩy sinh tiền chướng

Phong nguyệt không lưu tử hậu danh

Tưởng thị nhân gian vô thức thú

Cử tuyền khứ bạn Liễu Kỳ Khanh.

 

dịch là:

 

Viếng Ca Nương Ở La Thành

Bồng Doanh xa xuống một cành

Sắc xuân tươi thắm sáu thành chuyển rung

Thương người mệnh mỏng cánh chuồn

Đáy mồ hối đă lạc đường trầm luân

Sống chưa sạch nợ phấn son

Gió trăng đến chết vẫn c̣n lưu danh

Ngán đời chẳng hiểu nổi ḿnh

Suối vàng t́m Liễu Kỳ Khanh bạn cùng.

 

Bài thơ viết ra để viếng ca nương tại Nghệ An. Nguyễn Du sánh nhan sắc ca nương với nhan sắc một tiên cô Bồng Đảo Doanh Châu giáng xuống trần. Ông sót thương nàng mệnh mỏng lạc đường trầm luân. Sống không ṣng nợ phấn son, chết c̣n mang tiếng trăng gió. Ở đời không ai hiểu cho nàng, nên vội chết mà xuống chín suối làm bạn vói Liễu Kỳ Khanh, một ông tiến sĩ đời Tống, chuyên soạn ca phổ để chị em truyền tụng. Ngày ông chết, chị em xóm B́nh Khang góp tiền mai táng lập ‘hội viếng Liễu’ hàng năm.

 

Tiếp theo là hai bài:

 

Tạp Thi

Nhị Thủ

 

Kỳ nhất

 

天 

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên

Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên

Xuân lan thu cúc thành hư sự

Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên

Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ

Bạch vân ngọa bệnh Quế Giang biên

Thôn cư bất yếm tần cô tửu

Thượng hữu mang mang tam yhập tiền

 

Kỳ Nhị

 

Hồng sơn nhất sắc lâm b́nh cừ

Thanh tịnh khả vi hàn sĩ cư

Thiên lư bạch vân sinh kỷ tịch

Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư

Tiếu đề tuẫn tục can qua tế

Giam mặc tàng sinh lăo bệnh dư

Nguyệt lạc hoa khai nhăn tiền sự

Tứ thời tâm kính tữ như như.

 

dịch là:

 

Tạp Thi

 

Hai bài

I

Bạc đầu tráng sĩ nh́n trời

Hùng tâm sinh kế cả đôi lỡ làng

Xuân lan thu cúc chẳng màng

Rét đông nực hạ bẽ bàng ḷng trai

Non Hồng đuổi chó nguôi ngoai

Quế Giang nằm bệnh nh́n mây trắng về

Quên buồn chẳng ngại rượu quê

Nửa quan tiền lẻ túi kia hăy c̣n.

II

Nước cừ in bóng non Hồng

Nho nghèo cảnh tĩnh yên ḷng náu nương

Ngàn trùng mây kéo quanh giường

Túi đàn kệ sách đầu tường trăng soi

Loạn ly tùy tục khóc cười

 

Pḥng hờ già bệnh kín lời giữ thân

Lá hoa trước mắt rụng dần

Ḷng gương coi truyện xoay vần nhẹ tênh.

 

Trong bài tạp thi thứ nhất, suốt sáu câu đầu, Nguyễn Du mô tả hiện cảnh đă khiến ông như đứng trước cảnh cùng cực trên cả hai ngả hùng tâm và sinh kế. Truyện xuân lan thu cúc thành thơ bây giờ ông chẳng màng, nhưng đông qua hè tới làm ông buồn phải chăng v́ thời gian trôi qua mà hiện cảnh của ông không đổi. Trong cảnh tuyệt vọng đó, ông vẫn c̣n hai điểm để vui, một là cái thú dắt chó vàng đi chơi, cái thú mà Lư Tư, lúc lâm h́nh tiếc nuối, nhớ

lại ngày chưa bước vào ṿng kiềm tỏa của công danh. Và hai là cái thú uống rượu quê, chẳng mấy đắt tiền và trong túi ông lúc này vẫn c̣n ba chục đồng tiền lẻ.

 

Sang bài thứ hai, trong hiện cảnh thiếu thốn đó, ông vẫn cảm thấy yên ḷng v́ hiện có nơi nương náu yên tịnh, ông vẫn c̣n túi đàn cặp sách, tuy phải giữ lời kín miệng, tuy c̣n đang dưỡng bệnh, tuy hoa lá truớc mắt ông đang rụng dần, nhưng ông coi tất cả mọi truyện đó là những truyện đổi thay của đại hóa. Tâm kính của ông soi mà không cầm giữ khiến mọi biến đổi đó nhẹ tênh.

 

Mạch thơ của hai bài tạp thi trên đây c̣n kéo dài sang bài dưới đây:

 

Mạn Hứng

Long Vĩ châu biên hữu bạch âu

Lam Giang đường thượng hữu hàn nho

Nhất sinh từ phú tri vô ích

滿

Măn giá cầm thư đồ tự ngu

Bách tuế vi nhân bi thuấn tức

Mộ niên hành lạc tích tu du

西

Ninh tri dị nhật tây lăng hạ

Năng ẩm trùng dương nhất trích vô.

 

dịch là:

 

Mạn Hứng

Băi Long Vĩ có đàn c̣

Bến Lam có lăo đồ nho thân vờ

Một đời vô dụng thi thư

Ngu ngu dại dại ngẩn ngơ sách đàn

Trăm năm ngắn chẳng tầy gang

Dối già hành lạc bẽ bàng tiếc xuân

G̣ tây mai mốt gửi thân

Trùng dương rượu tưới mộ phần há say.

 

Trong thời gian về sống tại quê nhà, bên bờ sông Lam, nh́n sang băi Long Vĩ thấy đàn c̣ trắng, chợt nhớ hiện cảnh thiếu thốn của ḿnh, Nguyễn Du thấy đàn sách là vô dụng, thi thư chỉ làm con người thành ngu dại. Thế rồi Nguyễn Du bứt ra khỏi hiện cảnh đó. Ông nhận ra là đời sống ngắn ngủi, để đến già mới đi t́m mua vui th́ chỉ thấy tiếc nuối tuổi xuân. Biết được ngày nào măn số, đáy mồ c̣n uống được giọt rượu nào nữa không.

 

Người đọc dường như thấy là Nguyễn Du đă dùng men say để xua đuổi mối buồn v́ những mong ước chưa tới, mối buồn đó ngăn cách ông với niềm yên tịnh của ông. Thế nên vui cái vui nho nhỏ hiện tại là điều cần thiết để dập tắt mối buồn v́ hy vọng chẳng thành, để lấy lại cân bằng cho niềm yên tịnh trong ḷng.

 

Mạch thơ đó nối dài trong hai bài cùng một đề dưới đây:

 

Ngọa Bệnh

Nhị Thủ

 

Kỳ Nhất

 

Đa bệnh đa sầu khí bất thư

Thập tuần khốn ngọa Quế Giang cư

Lệ thần nhập thất thôn nhân phách

Cơ thử duyên sàng khiết ngă thư

Vị hữu văn chương sinh nghiệt chướng

Bất dung trần cấu tạp thanh hư

Tam lan song hạ ngâm thanh tuyệt

Điểm điểm tinh thần du thái sơ.

 

Kỳ Nhị

 

Xuân hàn hạ thử cố tương xâm

Nhất ngọa Hồng Sơn tuế nguyệt thâm

Minh kính hiểu hàn khai lăo sấu

Sài phi dạ tĩnh bế thân ngâm

Thập niên túc tật vô nhân vấn

Cửu chuyển hoàn đan hà xứ tầm

An đắc huyền quan minh nguyệt hiện

Dương quang hạ chiếu phá quần âm.

 

dịch là:

 

Nằm Bệnh

Hai Bài

 

I

 

Bệnh sầu sầu bệnh cả lo

Bên bờ sông Quế nằm co mười tuần

Thần ôn tới bắt thần hồn

Leo giường gặm sách chuột con trêu người

Văn chương há hại nghiệp trời

Sạch trong chẳng lấm bụi đời nhớp nhơ

Bên song ngâm trọn vần thơ

Tinh thần bay bổng thái hư nhẹ nhàng.

 

II

 

 Xuân sang hạ tới đổi thay

Non Hồng một rặng ốm dài mấy năm

Soi gương thấy thẹn cho thân

Cửa cài đêm vắng nằm than chán chường

Mười năm bệnh cũ bi thương

Chín lần thuốc luyện không đường kiếm ra

Cửa huyền đợi ánh trăng ngà

Phá tan u ám gần xa cơi này.

 

Nằm dưỡng bệnh thường là hứng thơ của nhiều nhà thơ. Trong bài thứ nhất, Nguyễn Du cho hay là ông nằm dưỡng bện bên bờ sông Quế đă nhiều tháng qua. Cũng có đôi lúc nguy kịch, khiến bệnh tật làm ông buồn. Sang câu thứ năm và thứ sáu, người dọc thấy như ông có phần phấn khỏi hơn: ông đoan quyết với ông là nghiệp văn không làm hại nghiệp trời. Ông giũ cho ḿnh trong sạch không vẩn bụi đời. Nh́n qua song ông thấy mấy gị lan, và vần thơ ông ngâm cũng vừa dứt, ông thấy tnh thần nhẹ nhơm bổng bay tới cơi hư vô.

 

Sang bài thứ hai, Nguyễn Du cho hay là ông nằm dưỡng bệnh cả mùa xuân năm qua, nay mùa hè đă tới. Sáng dậy soi gương thấy ḿnh gầy yếu mà thương thân, cửa ngoài đóng kín, ông nằm dưỡng bệnh cũ, chẳng biết than thân cùng ai. Thuốc thang t́m kiếm không ra đủ.

 

Nhưng niềm lạc quan của ông không xút kém, ông chờ trăng lên phá tan cái u tối quanh ông.

Người đọc dường như thấy, dầu bị bệnh hành cả nhiều tháng trong cảnh thiếu thốn, Nguyễn Du vẫn lấy cái thú ngắm một gị lan, ngâm một câu thơ làm niềm vui để giữ được niềm b́nh thản trong tâm.

 

Thanh Hiên Thi Tập, không cho biết chi tiết về chuyến đi này của Nguyễn Du, nhưng ghi lại cảm xúc của tác giả như sau trong chuyến đi trong đêm tối đó như sau:

 

Đi Trong Đêm Tối

Lăo nạp an miên Hồng Lĩnh vân

宿

Phù âu tĩnh túc noăn sa tân

Nam minh tàn nguyệt phù thiên lư

Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân

Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu

Bạch đầu vô lại chuyết tàng thân

Bất sầu cửu lộ triêm y duệ

Thả hỷ tu mi bất nhiễm trần.

dịch là:

 

Chuyến đi đêm

 

Non Hồng yên giấc sư già

Co chân c̣ trắng băi xa ngủ vùi

Biển nam trăng lặn chân trời

Đường xưa gió lạnh ghẹo người quan san

Đêm dài dằng dặc chẳng tàn

Bạc đầu vụng dại ẩn thân kiếm đường

Chẳng lo áo uớt gió sương

Mày râu mừng nỗi bụi đường chẳng phai.

 

Tiếp nối ư thơ vui truyện hiện tại, dầu là nḥ nhoi, để tạm quên những khó khăn trong viễn ành tương lai, trong bài Dạ Hành này, Nguyễn Du tạm quên nhưng khó nhọc trong chuyến đi này: chẳng lo sương sa ướt áo mà mừng v́ râu mày chưa nhiễm bụi đường.

 

Rồi tới ba bài cùng một đề:

 

Tạp Ngâm

Tam Thủ

 

Kỳ Nhất

 

Thu thanh nhất da độ Lam Hà

Vô ảnh vô h́nh nhập ngă gia

西

Vạn lư tây phong lai bạch phát

Nhất song thu sắc tại hoàng hoa

Bách niên ai lạc hà thời liễu

Tứ bích đồ thu bất yếm đa

Đ́nh thực cô tùng cao bách xích

Bất tri thanh đế nại nhân hà.

 

Kỳ Nhị

 

Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian

U cư sầu cực hốt tri hoan

Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt

Xử sĩ môn tiền thanh giả san

Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt

Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan 

Táo đầu chung nhật vô yên hoả

Song ngoại hoàng hoa tú khả xan.

 

Kỳ Tam

 

Mạc mạc thu quang bát nguyệt thâm

Mang mang thiên khí bán th́ âm

Thụ phong cao trúc minh thiên lại

Linh vũ hoàng hoa bố địa câm

Viễn tụ hàn xâm du tử mộng

Trùng đàm thanh cộng chủ nhân tâm

Xuất môn từ bộ khán thu sắc

Khán tại phong đầu phong thụ lâm.

 

dịch là:

 

Tạp Ngâm

 

Ba bài

I

 

Tiếng thu đêm vượt ḍng Lam

Không h́nh không ảnh tới lầm nhà ta

Gió tây nhuộm tóc trắng ra

Mầu thu khóm cúc nở hoa song ngoài

Buồn vui hết kiếp nào hay

Đồ thư bốn vách kệ đầy c̣n ham

Trồng thông trăm thước trước sân

Chẳng hay trời sẽ xoay vần ra sao.

 

II

 

Đầu Long Vĩ nhà một buồng

Ẩn nơi u tịch đăi buồn làm vui

Ḷng người khoáng đạt trăng soi

Trước nhà xử sĩ cao vời núi xanh

Gối đầu chồng sách bệnh hành

Rượu vào cặp má như h́nh đỡ nhăn

Suốt ngày bếp lạnh khói tàn

Muốn ăn cả đóa hoa vàng ngoài song.

 

III

 

Mênh mang tháng tám muộn thu

Nửa râm nửa nắng âm u cảnh trời

Gió đưa cành trúc sáo trời

Được mưa khóm cúc rực tươi hoa vàng

Mộng du tử gửi non ngàn

Đầm sâu nước lặng như hồn người thơ 

  Của ngoài ngon mắt sắc thu
Rừng phong nửa rơ nửa mờ đầu sông.


Ba bài Tạp Ngâm trên đây, tuy cùng lấy mùa thu làm thi cảnh, nhưng ghi lại ba tâm cảnh khác biệt của tác giả. Bài thứ nhất qua bốn câu đầu cho thấy thi cảnh là một cảnh thu muộn, khiến người thơ dường như thấy ḿnh già hơn tuổi. Ông đă chợt nh́n thấy cái chết luẩn quất đâu đó, tuy nhiên ông c̣n thấy ham sách, tuy sách đă chất đầy quanh bốn bức tường.
Ông dường như c̣n muốn học hỏi xa hơn nữa, như lấy cái hữu hạn của cái hiểu biết của con người mà đo cái vô cùng của trời đất. Ông muốn trồng một cây thông cao trăm thước trước sân, chẳng cần biết trời xanh sẽ đối xử với ông ra sao. Người đọc chợt thấy h́nh ảnh Nguyễn Du tự họa tựa như h́nh ảnh André Compte-Sponville12 tự họa:


Je désire ce que je fais, ici et maintenant, je fais ce que je désire!


để rồi đưa kết luận:


C’est pourquoi nous pouvons être heureux, c’est pourquoi nous le sommes, parfois: parce que nous faisons ce que nous désirons, parce que nous désirons ce que nous faisons!


Bài thứ hai, qua câu thứ nhất Nguyễn Du cho thấy hiện cảnh thiếu thốn của ông, trong căn nhà đầu bến Long Vĩ. Nhưng trong ḷng ông thanh thản, sáng như ánh trăng, tuy ông c̣n đang dưỡng bệnh. Ông gối đầu lên chồng sách, mượn chút rượu làm hồng đôi má nhăn của ông. Câu thứ bẩy, một lần nữa cho thấy cảnh đói, thiếu thốn của gia đ́nh ông, rồi sang câu thứ tám ông thấy muốn ăn cả cụm cúc vàng ngoài song. Một lần nữa thơ Nguyễn Du đưa người đọc về với André Comte-Sponville:


La faim est un manque, une souffrance, une faiblesse, un malheur; l’apétit, une puissance et un bonheur.


Sang bài thứ ba, cả tám câu đều tả cảnh thu trước mắt. Nguyễn Du, không có một lời về quá khứ, không một chữ về tương lai. Chỉ có cảnh thu hiện tại trước mắt, không có mảy may ước vọng, chỉ c̣n cái tĩnh lặng trong tâm tác giả. Người đọc nhớ tới một câu của Jules
Renard 13:


Je ne désire rien du passé. Je ne compte plus sur l’avenir . Le présent me suffit. Je suis un homme heureux, car j’ai renoncé au bonheur.


Phải chăng trong bài Tạp Ngâm III này, Nguyễn Du đă buông bỏ việc chạy theo hạnh phúc.
Phải chăng cách sống an lạc duy nhất là buông bỏ đến cả hy vọng? Phải chăng như vậy ba bài Tạp Ngâm trên đây là những kinh nghiêm thực tế của ông trên đường đi t́m an lạc, mà Nguyễn Du muốn trao lại cho người đọc ông ngày nay?
 


 

 

 

Xem KỲ 05

 


12. André Compte-Sponville, Le Bonheur, désespérément, Librio, Éditions Pleins Feux, Paris 2000, p.34
13. Jule Renard, Journal,9 Avril 1895, in André Comte-Sponvil, ibid. p.49.
14. Tư Mă Thiên, Sử Kư, bản dịch của Nhữ Thành, nhà xuất bản Văn Hóa, Hà nội 1988,tr. 471 ff

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com