www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THƠ VIỆT ÂM
Của Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 03:

 

Nguyễn Du cố gắng xưa đuổi mối buồn này, nhưng dương như ông không mấy thành công, như ghi trong bài kế tiếp:

Bát Muộn

 

Thập tải trần ai ám ngọc trừ

Bách niên thành phủ bán hoang khư

Yêu ma trùng điểu cao phi tận

Trỉ uế càn khôn huyết chiến dư

Tang tử binh tiền thiên lư lệ

Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư

Ngư long lănh lạc nhàn thu dạ

Bạch chủng u hoài vị nhất sư

dịch là

Xua Nỗi Buồn

Mười năm thềm ngọc bụi dầy

Thành xưa phủ cũ giở đây hoang tàn

Côn trùng chim chóc tan đàn

Đất trời nhơ nhớp điêu tàn chiến chinh

Khóc quê vạn dặm đao binh

Anh em bè bạn nghĩa t́nh trang thư

Cá rồng vắng lặng đêm thu

Đau buồn trăm mối hận thù khôn nguôi.

 

Bốn câu đầu của bài Bát Muộn trên đây, ghi lại cảnh tàn phế của dinh cơ họ Nguyễn Tiên Điền sau khi bị quân Tây Sơn triệt hạ, thêm vào cảnh buồn đó là nỗi xa vắng anh em bè bạn của tác giả. Câu thứ bẩy là một câu trong bài Thu Hứng, kỳ thất, của Đỗ Phủ, mà tác giả ngâm để xua đuổi nỗi buồn, nhưng hận thù c̣n mang nặng không nguôi.

Trong cảnh tản cư không có ngày mai này, những ước mong trong những đêm đau ốm khó ngủ, không có ai để tỏ bày, đó là thi cảnh và tâm cảnh của Nguyễn Du trong bài dưới đây:

Trệ Khách

 

Trệ khách yêm lưu Nam Hải trung

Tịch liêu lương dạ dữ thùy đồng

Thiên hà bi động thiên hà thủy

Thú cổ hàn xâm hạ dạ phong

Nhân đáo cùng đồ vô hảo mộng

Thiên hồi khổ hải xúc phù tung

Phong trần đội lư lưu b́ cốt

Khách chẩm tiêu tiêu lương mấn bồng.

 

Người Khách Bê Trệ

 

Miệt nam bê trệ năm dài

Đêm thanh vắng lặng chẳng ai bạn cùng

Sông ngân xao động tiếng hồng

Cuối hè gió lạnh th́ thùng trống canh

Đường cùng ước mộng chẳng thành

Trời hành bể khổ lênh đênh không nhà

Kiếp gió bụi xương bọc da

Bơ phờ gối khách loà x̣a tóc mai.

 

Nguyễn Du chua chát thay người khác viết thành bài dường như để khuyến cao những kẻ gặp thời đua sống xa hoa:

Đại Nhân Hư Bút

Thác lạc nhân gia nhĩ thũy tân

Cư nhiên biệt chiếm nhất thành xuân

西

Đông tây kiều các kiêm thiên khởi

Hồ Hán y quan đặc địa phân

Mục túc thu quan kim lặc mă

Bồ đào xuân túy ngọc lâu nhân

Niên niên tự đắc phồn hoa thắng

Bất quản nam minh kỷ độ trần.

dịch là:

Thay Người Viết Đùa

Nhấp nhô bến Nhị nhà dân

Riêng ông chiếm trọn vẻ xuân một thành

Đông tay lầu gác lênh khênh

Áo quần Hô Hán kiệu kênh khác người

Đai vàng ngựa kén rau tươi

Rượu nho lầu ngọc buổi trời xuân sang

Phồn hoa hưởng thụ tháng năm

Quản chi gió bụi bờ nam mịt mờ.

 

Tiếp theo bài Đại Nhân Hư Bút, Thanh Hiên Thi Tập chuyển sang ḍng thơ đề vịnh những địa điểm Nguyễn Du từng đi qua.

Bắt đầu là bài:

Hoàng Mai Kiều Văn Thiếu

Hoàng Mai kiều thương tịch dương hồng

Hoàng Mai kiều hạ thủy lưu đông

Nguyên khí phù trầm thương hải ngoại

T́nh lam thốn thổ loạn lưu trung

Đoản thoa ngư chẩm co chu nguyệt

Trường địch đồng xuy cổ kính phong

Đại địa văn chương tuỳ xứ kiến

Quân tâm hà sự thái mang mang.

dịch là:

Cảnh Chiều Trên Cầu Hoàng Mai

Cầu Hoàng Mai xế bóng hồng

Dưới cầu nước cuốn về đông dạt dào

Biển xanh nguyên khí dâng cao

Khói lam cuồn cuộn nao nao giữa ḍng

Thuyền trăng gối áo thong dong

Lối xưa tiếng sáo mục đồng gió đưa

Văn chương đất rộng tùy mơ

Vội vàng chi để t́nh thơ rộn ràng

 

Bài Hoàng Mai Kiều Văn Thiếu trên đây dường như đánh dấu một khúc rẽ trong tâm cảnh và thi cảnh của Nguyễn Du trong Thanh Hiên Thi Tập. Không c̣n những h́nh ảnh chinh biến, những bực dọc của những ngày di cư, ở nhờ. Người thơ duờng như cởi mở chào đón cảnh vật trong một chiều ngắm cảnh trên cầu Hoàng Mai. Đặc biệt là h́nh ảnh ông câu gối áo ngủ vùi trên chiếc thuyền trăng. H́nh ảnh này gợi cho người đọc bài Giang Thôn Tức Sự của nhà thơ Đụng Tư Không Thư 10:

 

Giang Thôn Tức Sự

Băi điếu quy lai bất hệ thuyền

Giang thôn nguyệt lạc chính kham miên

Túng nhiên nhất dạ phong xuy khứ

Chỉ tại lô hoa thiển thủy biên.

 

Ngư ông gối áo tơi ngủ vùi trên chiếc thuyền câu dưới cầu Hoàng Mai, dương như giống ngư ông trong bài tứ tuyệt Giang Thôn Túc Sự của Tư Không Thự, đă đồng nhất ḿnh với ḍng sông mà được thảnh thơi ngủ vùi không lo thuyền trôi.

Cũng trong cùng tâm cảnh đó, Nguyễn Du ghi lại cảm hứng lúc ông vời trông đền Càn như sau:

 

Dao Vọng Càn Hải Từ

Mang mang hải thủy tiếp thiên xu

Ẩn ước cô từ xuất tiểu châu

Cổ mộc hàn liên phù chữ mộ

T́nh yên thanh dẫn hải môn thu

Hào thiên tương tướng đan tâm tận

Phủ địa Quỳnh Nhai khối nhục vô

Tiếu nhĩ Minh Phi trường xuất tái

Tỳ bà bôi tửu khuyến Thiền Vu.

dịch là:

Vời Trông Đền Cờn

Mênh mông biển tiếp với trời

Đền xưa thấp thoáng chơi vơi bên cồn

Cây cao bóng xế chim vờn

Khói thu se sắt chập chờn chiều rơi

Uổng công lưỡng tướng than trời

Quỳnh Nhai vỗ đất hết người khói hương

Về Hồ cười phi Chiêu Vương

Gẩy đàn chuốc rượu vui cùng Thiền Vu

 

Càn Hải Từ, tên nôm là đền Cờn là một ngôi đền nhỏ thuộc huyện Quỳnh Lưu, t́nh Nghệ An. Đền thờ bà Dương Thái Hậu, vợ vua Tống Đô Tông. Theo tục truyền, khi nhà Tống mất nước, Dương Thái Hậu, vợ vua Tống Đô Tông, do tướng vơ Trương Thế Kiệt hộ tống, cùng các con chạy ra Quỳnh Nhai, thuộc tỉnh Quảng Đông lên thuyền ra biển lánh nạn. Khi đó quân nhà Nguyên đưổi sát tới nơi, chỉ có Thái Hậu và hai con gái lên đưọc thuyền. Hoàng tử Đế Bính được quan văn Lục Tú Phú cơng cùng nhẩy xuống biển chết. Nhận được hung tín, Dương Thái Hậu nói: sở dĩ bà chịu cảnh gian nan này chỉ cốt giữ khối thịt ấy cho ḍng họ Triệu Tống, nay sống mà không c̣n mong ǵ nữa. Sau đó, thuyền đắm, xác Thái hậu giạt vào cửa Cờn, dân địa phương chôn cất và lập đền thờ.

Trước cảnh trời nước bao la, Nguyễn Du vời trông đền Cờn nhắc lại truyện Dương Thái Hậu, chết lưu danh trung tiết, rồi liên tưởng tới Minh Phi tức Vương Chiêu Quân, cung nữ của vua Hán Nguyên Đế, bị mang cống cho chúa Hồ, nàng vẫn đàn hát chuốc rượu cho chúa Hồ là Thiền Vu khiến người đời chê cười. Đối chiếu Dương Thái Hậu với Vương Chiêu Quân, phải chăng Nguyễn Du muốn ghi lại nhưng điều ông suy nghĩ về hai chữ trung trinh của đạo Khổng?

Bài thứ ba, trong Thanh Hiên Thi Tập, ghi lại cảm tưởng của Nguyễn Du trước những thắng cảnh của dất nước là bài:

Tái Du Tam Điệp Sơn

Vân tế Tam Điệp Sơn

Thiên nhai khách tái du

Nhăn trung thu đại địa

Hải ngoại kiến ngư chu

Chướng tĩnh phong loan sấu

Thiên hàn thảo mộc thu

Hành nhân hồi thủ xứ

Vô ná cồ hương tâm

dịch là:

Lại Qua Đèo Ba Dội

 

Đèo Ba Dội ngất mây ngàn

Bên trời khách lại một lần trèo qua

Mắt nh́n mặt đất bao la

Thuyền câu mấy lá biển xa dập dềnh

Mù tan dáng núi chênh vênh

Cuói thu cây cỏ kém xanh dầu dầu

Ngoái nh́n ḷng thách trạnh sầu

Quê hương vời vợi biết bao giờ về.

 

Bài thơ ghi lại cảnh trời nước, núi biển nh́n từ đèo Ba Dội, một cái đèo nổi danh trong văn học Việt Nam, mà tác giả lại có dịp đi qua, trong một buổi cuối thu. Tác giả không cho biết lư do khiến ông thêm một lần trèo qua đèo này. Riêng hai câu kết, không chỉ cho thấy tác giả trạnh nhớ quê hương, mà c̣n gây cho người đọc cảm tưởng là chuyến đi này không phải là một chuyến tiêu dao cùa Nguyễn Du.

Tiếp tới là bài:

Độ Phú Nông Giang Cảm Tác

Nông thủy đông lưu khứ

Thao thao cánh bất hồi

Thanh sơn thương văng sự

Bạch phát phục trùng lai

Xuân nhật thương thuyền hợp

西

Tây phong cổ lủy khai

Du nhân vô hạn cảm

Phương thảo biến thiên nhai.

dịch là:

Qua Sông Phú Nông Cảm Tác

 

Mông mênh sông nước Phú Nông

Một ḍng cuồn cuộn xuôi đông chẳng về

Non xanh việc cũ c̣n kia

Bạc đầu lần lữa lại về nơi đây

Thuyền buôn xuân tới họp đầy

Cổng thành rộng mở gió tây đón mừng

Qua đ̣ hoài cảm vô cùng

Cỏ xanh xanh mướt một vùng chân mây.

 

Giới nghiên cứu chưa rơ Phú Nông là khúc sông nào, nhưng qua bài trên đây, người đọc thấy Nguyễn Du qua sông này như về một chốn cũ, với một hoài cảm mang mầu xanh hy vọng như mầu xanh băi cỏ chân mây.

Tiếp theo những bài ghi lại cảm tác trong những chuyến đi, Thanh Hiên Thi Tập chép hai bài thơ xướng họa giữa Nguyễn Du và anh vợ ông là Đoàn Nguyễn Tuấn như sau:

Hoạ Hải Ông Đoàn Nguyễn Tuấn “Giáp Dần Phụng Mệnh Nhập Phú Xuân Kinh Đăng Tŕnh Lưu Biệt Chư Hữu” Chi Tác

Hoành Sơn sơn ngoại Lĩnh Nam Tŕnh

Đàn kiếm tương tùy thướng ngọc kinh

Thỏ tủy vị hoàn tân đại được

Báo b́ nhưng lụy cựu phù danh

Thương minh thủy dẫn bôi trung lục

Cố quốc thiềm tùy mă hậu minh

Thử khứ gia huynh như kiến vấn

Cùng đồ bạch phát chính tinh tinh.

dịch là:

 

Họa Bài “Nam Giáp Dần Vâng Mệnh Vào Kinh Đô Phú Xuân Lên Đường Làm Thơ Chia Tay Cùng Các Bạn” Của Đoàn Nguyễn Tuấn

 

Từ Hoành Sơn vào Lĩnh Nam

 

Dặm dài quảy gánh gươm đàn trẩy kinh

Thuốc tiên tủy thỏ chưa thành

Vằn beo đà lụy phù danh mất rồi

Chén quỳnh gợn sóng biển khơi

Vó câu trăng giăi quê người nản bon

Nếu anh tôi có hỏi thăm

Rằng nay bạc tóc gian nan cùng đường.

 

Đoàn Nguyễn Tuấn, tức Hải Ông, con Đoàn Nguyễn Thục, từng làm quan với nhà Lê, ra giúp nhà Tây Sơn, làm quan tới chức tả thị lang bộ lại, tước Hải Phái Bá. Đi sứ Trung Quốc năm 1790, có Hải Ông Thi Tập để lại cho đời sau.

Giới nghiên cứu cho biết năm giáp dần là năm 1794, năm đó Nguyễn Du 39 tuổi. Bài họa trên đây cho thấy, qua câu ba và bốn, là Đoàn Nguyễn Tuấn, muốn tu tiên luyện thuốc trường sinh, nhưng v́ tiếng tăm lừng lẫy mà mắc lưới phù danh, c̣n tác giả, vẫn c̣n gian nan vùng ven biển, với nỗi buồn xa quê, hai câu kết là lời ông nhắn gửi anh ông là Nguyễn Nễ, khi đó đă ra giúp triều Tây Sơn.

Các bản Thanh Hiên Thi Tập đều ghi thêm bài nguyên tác của Đoàn Nguyễn Tuấn như sau:

 

Phụ Lục Nguyên Tác

Cầm thư tẩu biến Bắc Nam tŕnh

Hựu phụ công xa thướng đề kinh

Cảm hướng úy đồ tranh tiệp bộ

Thác tương tiểu nghệ tiệp phù danh

Bôi trung thiên địa kỳ hoài khoát

Mă thủ giang sơn lăo nhăn minh

Trịnh trọng liễu đ́nh nhất huy thủ

Luận văn hậu hội thả chu tinh.

dịch là:

 

Phụ Chép Nguyên Tác

 

Bắc Nam cặp sách túi đàn

Công xa rong ruổi dặm ngàn vào kinh

Dám đâu tranh lấy bước nhanh

Lầm khoe nghề mọn phù danh mắc rồi

Chén quỳnh rộng mở đất trời

Mắt già đầu ngựa rạng ngời nuớc non

Chia tay sắc liễu héo hon

Thơ văn bàn luận vẫn c̣n năm sau.

 

Tiếp theo hai bài xướng họa trên đây, Thanh Hiên Thi Tập chép bài vịnh một cảnh đẹp trên bờ sông Lam gần làng Tiên Điền, quê hương của tác giả.

 

Giang Đ́nh Hữu Cảm

Ức tích ngô ông tạ lăo th́

Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi

Tiên chu kích thủy thần long đấu

Bảo cái phù không thụy hạc phi

Nhất tự y thường vô mịch xứ

Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi

Bách niên đa thiểu thương tâm sự

Cận nhật Trường An đại dĩ phi.

dịch là:

Cảm Xúc Tại Bến Giang Đ́nh

 

Cha xưa cáo lăo từ quan

Xe bồ bốn ngựa thuyền sang bến này

Thuyền tiên rẽ sóng rồng bay

Tàn che phấp phới hạc quây đón chờ

Ấo xiêm từ độ phai mờ

Bùi ngùi ngọn cỏ đôi bờ khói bay

Trăm năm bao truyện đổi thay

Đế đô dâu biển thương thay kiếp người.

 

Bài Giang Đầu Hữu cảm trên đây là một bài Nguyễn Du ghi lại những cảnh huy hoàng của gia đ́nh ông, trong ngày cha ông vể hưu. Cha ông, Nguyễn Nghiễm, đậu tiến sĩ, năm Tân Măo, 1771 về hưu, được thăng Đại Tư Đồ. Chúa Trịnh ban cho ba chiếc thuyền hải mă đưa về làng.

Đó là cảnh Nguyễn Du ghi lại trong bốn câu đầu bài trên đây. Năm sau, Nguyễn Nghiễm lại đưọc chúa mời ra làm Tể Tướng. Năm Giáp Ngọ 1774 làm Tả Tướng Quân đem quân đánh chúa Nguyễn, trên đường hành quân, tuổi già mang bệnh và mất vào năm 1775. Trong câu thứ hai Nguyễn Du dùng chữ bồ tứ, , tức xe bốn ngựa bánh bọc cỏ bồ, để nói lên ư chúa Trịnh vinh danh cha ông như một bậc lăo thần. Bốn câu tiếp theo ghi lại những đổi thay mau chóng tại kinh đô, theo thời thế. Đó là ư chính của bài thơ: tác giả như nói với chính ḿnh về cảnh đổi thay trong đại hóa, mọi sự: nhất là chữ danh, thẩy là vô thường.

Tiếp theo bài Giang Đ́nh Hữu Cảm trên đây, là một số bài ghi lại mối thân t́nh của tác giả với anh ông, với bà vợ ông, mất sớm.

Bắt đầu là bài:

 

Ức Gia Huynh

Lục Tháp thành nam hệ nhất quan

Hải Vân dạ độ thạch toàn ngoan

Cùng xu lam chướng tam niên thú

Cố quốc yên hoa nhị nguyệt hàn

Nhất biệt bất tri hà xứ trú

Trùng phùng đương tác tái sinh khan

Hải thiên mang diểu thiên dư lư

Hồn phách tương cầu mộng diệc nan.

dịch là:

Nhớ Anh

 

Buộc ràng Lục Tháp việc quan

Hải Vân đá dựng gian nan vượt đèo

Ba năm đồn thú đuổi đeo

Tháng hai lạnh giá khói quê nghẹn ngào

Chia tay chảng biết nơi nao

Gặp nhau dường tới kiếp sau không chừng

Mênh mông trời biển ngàn trùng

Gặp nhau trong mộng mọi đường khó khăn

 

Giới nghiên cứu cho hay trong bài này Nguyễn Du tưởng nhớ tới người anh cùng mẹ, tên là Nguyễn Nễ, hiệu Quế Hiên, sinh năm 1761. Khi vua Quang Trung ra bắc, ông đang giữ chức Hiệp Tán Quân Cơ đạo Tây Sơn. Năm 1787, vua Lê Chiêu Thống theo quân nhà Thanh rút về Trung Quốc, ông về trú tại quê mẹ ở huyện Đông Ngàn trấn Kinh Bắc. Sau đó được đề cử ra làm quan với nhà Tây Sơn, được bổ chức Hàn Lâm Thị Thư, làm phó sứ sang cống Trung Quốc. Trở về thăng Tả Nghị Lang, tước Nghi Thành Hầu. Năm 1793 được coi việc văn thư ở Viện Cơ Mật. Năm 1794 thăng Tả Phụng Nghị Bộ Binh, rồi làm Hiệp Tán Nhung Vụ thành Quy Nhơn. Năm sau ông làm Hành Khánh Sứ đi dự lễ nhường ngôi của vua Càn Long cho con là Gia Khánh, về nước lại được thăng thưởng. Sau khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng Đế, ông ra tŕnh diện, được bổ làm quan nhưng được vài năm rồi mất.

Lục Tháp là tên gọi thành Qui Nhơn, sau này là B́nh Định, có sáu tháp Chàm. Trong bốn câu đầu, Nguyễn Du thương ghi lại mối thương nhớ người anh vất vả việc quan quân, trèo đèo vượt núi, trong chốn lam sơn chướng khí, trong khi ông được yên ổn nơi quê nhà. Bốn câu sau tác giả nói lên nỗi khó khăn được gặp lại anh, trong kiếp này, và cả ngay trong giấc mộng.

Người đọc tự hỏi là nỗi khó khăn ấy là do t́nh h́nh nội chiến lúc đó, hay là do khác biệt chính kiến giữa Nguyễn Nễ ra làm quan giúp Tây Sơn và Nguyễn Du căm thù nhà Tây Sơn, dầu ḷng ông vẫn thương nhớ người anh?

Nếu Nguyễn Du không gặp được anh ông trong mộng, thời trong mộng ông lại được gặp bà vợ chính vắn số của ông, như ông ghi lại trong bài:

 

Kư Mộng

Thệ thủy nhật dạ lưu

Du tử hành vị quy

Kinh niên bất tương kiến

Hà dĩ úy tương tư

Mộng trung phân minh kiến

Tầm ngă giang chi mi

Nhan sắc thị trù tích

Y sức đa sâm si

Th́ ngôn khổ bệnh hoạn

Kế ngôn cửu biệt ly

Đái khấp bất chung ngữ

仿 彿

Phảng phất như cách duy

B́nh sinh bất thức lộ

Mộng hồn hoàn thị phi

Điệp Sơn đa hổ ti

Lam thủy đa giao ly

Đạo lộ hiểm thả ác

Nhược chất tương hà y

Mộng lai cô đăng thanh

Mộng khứ hàn phong xuy

Mỹ nhân bất tương kiến

Nhu t́nh loạn như ti

Không ốc lậu tà nguyệt

Chiếu ngă đan thường y.

Dịch là:

Ghi Lại Giấc Mộng

 

Ngày đêm ḍng nước chẩy xuôi

Người đi măi xa xôi không về

Bao năm cách trở sơn khê

Chẳng ǵ khuây khỏa nhớ kia mong này

Rơ ràng trong mộng đêm nay

Bên sông lận đận thân gầy t́m ta

Dung nhan dường vẫn như xưa

Áo quân xốc xếch gió mưa bạc mầu

Thoạt đầu kể chuyện ốm đau

Rồi than xa cách bấy lâu bên trời

Sụt sùi nói chẳng hết lời

Màn đâu thấp thoáng ngăn đôi đôi ḿnh

Suốt đời đường lối chẳng rành

Thực hư chẳng rơ mộng xanh chập chờn

Hùm beo Ba Dội đầy đường

Sông Lam sóng cả thuồng luồng cách ngăn

Dặm dài hiểm trở khó khăn

Tay mềm chân yếu xa gần cậy ai

Mộng về đèn lụi đêm dài

Mộng đi lạnh lẽo song ngoài gió đưa

Tỏ mờ bóng dáng người xưa

Rối bời một mớ tơ ṿ ḷng ta

Khắp nhà vàng ánh trăng tà

Soi trên tấm áo xót xa nỗi ḿnh.

 

Giới nghiên cứu đồng ư rằng người trong giấc mộng của Nguyễn Du trong bài thơ trên đây là bà vợ chính của ông, em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn. Hai chữ mỹ nhân trong câu thứ 21, đă có nhà nghiên cứu bàn rằng người trong mộng này là vua Lê Chiêu Thống, và v́ ḷng hoài Lê, Nguyễn Du đă được gặp vua trong mộng, viện lẽ rằng hai chũ mỹ nhân trong văn học Trung Quốc đôi lúc có nghĩa là nhà vua. Sau đó nhiều năm, nhà nghiên cứu này tự sửa sai và đồng ư cùng giới nghiên cứu cho rằng người đó chính là bà Nguyễn Du.

 

Câu thứ 12:               彷 彿

                           Phảng phất như cách duy

dịch là:

Màn đâu phảng phất ngăn đôi đôi ḿnh

cho người đọc thấy nỗi thương nhớ vợ của Nguyễn Du, chẳng kém nỗi thương nhớ Dương Quư Phi của vua Đường Minh Hoàng, như Bạch Cư Dị mô tả trong bài Trường Hận Ca, khiến vua phải sai phương sĩ Lâm Cùng Hồng Đô Khách cưỡi mây đè gió kiếm quư phi cho vua. Khi phương sĩ t́m gặp được quư phi, nhà vua chỉ đưọc nh́n thấy quư phi thấp thoáng sau một tấm màn.

Thi cảnh và tâm cảnh của Nguyễn Du trong bài Kư Mộng này c̣n đưa người đọc tới một bài từ của Tô Đông Pha11 cũng v́ thương nhớ bà vợ chính, mang cùng một đầu đề như sau:

Kư Mộng

Giang Thành Tử

Thập niên sinh tử lưỡng mang mang

Bất tư lượng

Tự nan vong

Thiên lư cô phần

Vô xứ thoại thê lương

使

Ṭng sứ tương phùng ứng bất thức

滿

Trần măn diện

Mấn như sương

Dạ lai u mộng hốt hoàn hương

Tiểu hiên song

Thượng sơ trang

Tương cố vô ngôn

Duy hũu lệ thiên hàng

Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ

Minh nguyệt dạ

Đoản tùng cang.

Dịch là:

Ghi Lại Giấc Mộng

Tô Thức

Điệu Gang Thành Tử

Mười năm sống chết những mang mang

Chẳng tính lường

Riêng khó quên

Ngàn dặm mồ hoang

Kể sao hết thê lương

Bằng được gặp nhau e khó nhận

Bụi in mặt

Tóc nhuốm sương.

Đêm qua trong mộng về cố hương

Thấy qua song

Đang điểm trang

Nh́n nhau không lời

Mà lệ nhỏ muôn hàng

Thương cảm năm năm nỗi đoạn trường

Đêm trăng sáng

Ngắn bóng thông.

 

Trở lại bài Kư Mộng của Nguyễn Du, hai câu 15 và 16 có hai địa danh: Điệp Sơn và Lam Thuỷ làm người đọc thấy là khi viết bài này Nguyễn Du đă trở vể quê nhà, bên đèo Ba Dội và trên ḅ sông Lam.

Tiếp theo bài Mộng Kư, Thanh Hiên Thi Tập chép bài dưới đây, ghi lại truyện Nguyễn Du bị hạ ngục. Giới nghiên cứu tham khảo gia phả họ Nguyễn ở Tiên Điền cho hay là mùa đông năm Bính Th́n, 1796, Nguyễn Du t́m đường vào Gia Định theo pḥ Nguyễn Ánh. Việc tiết lộ, ông bị tướng Tây Sơn là Quận Công Thận bắt giam. Quận Công Thận là bạn thân của Nguyễn Nễ, người anh cùng mẹ vói Nguyễn Du, v́ vậy ông chỉ bị giam trong ṿng mươi tuần

th́ đưọc tha.

Mi Trung Mạn Hứng

Chung Tử viện cầm thao Nam âm

Trang tích bệnh trung do Việt ngâm

Tứ hải phong trần gia quốc lệ

Thập tuần lao ngục tử sinh tâm

B́nh Chương di hận hà th́ liễu

Cô Trúc cao phong bất khả tầm

Ngă hữu thốn tâm vô dữ ngữ

Hồng Sơn sơn hạ Quế Giang thâm.

dịch là:

 

Mạn Hứng Trong Tù

 

Khúc nam Chung Tử tấu đàn

Chàng Trang tiếng Việt ngâm tràn quên đau

Non sông gió bụi lệ sầu

Mười tuần sống chết ngục lao hỏi ḷng

Bao giờ tan hận B́nh Chương

Cao phong Cô Trúc noi gương mấy người

Tấc ḷng không nói nên lời

Non Hồng sông Quế đời đời cao sâu.

 

Đọc bài Mi Trung Mạn Hứng trên đây, người đọc hiểu rơ thêm về hai chữ cùng đồ trong câu kết bài Nguyễn Du họa thơ Đoàn Nguyễn Tuấn. Nhà nho có bốn chữ: dĩ cùng tắc biến, Nguyễn Du đến bước cùng đă lựa chọn: ông t́m đường vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh, đứng vào phe đối lập với Nguyễn Nễ anh ruột ông và Đoàn Nguyễn Tuấn anh vợ ông, cả hai cùng làm quan với nhà Tây Sơn. Nhưng thời của Nguyễn Du chưa tới ông bị bắt, bị hạ ngục. Trong mười tuần bị giam trong ngục ông đă suy nghĩ nhiều về cái nợ tang bồng. Yêu nước hay đúng hơn thờ một chúa là t́nh cảm tự nhiên của con nguời. Như truyện Chung Tử tức Chung Nghi, chép trong Tả Truyên, vốn người nước Sở thời Xuân Thu, bị quân nhà Tấn bắt làm tù binh. Chàng vẫn đội mũ người nước Sỏ lại tài đánh đàn. Quan nhà Tấn thấy vậy cho chàng mượn một cây đàn, chàng chỉ tấu những khúc nhạc phương Nam mà thôi. Lại có truyện Trang Tích, người nước Việt cũng thời Xuân Thu, làm quan ở nước Sở. Trong khi nằm bệnh, vua nuớc Sở hỏi: “Tích là người nước Việt, lại vốn nghèo hèn, nay làm quan nước Sở, không biết c̣n nhớ nước Việt không?” Vua cho người theo ḍ, thấy trong khi đau ốm Tích hát tiếng Việt, tỏ rằng Tích vẫn nhớ nước Việt. Nhưng nay nước nhà đang cơn nội chiến, gió bụi bốn phương, khiến Nguyễn Du Đau ḷng, và trong mười tuần qua ở trong lao thất, ông có dịp hỏi ông về cái chết v́ chữ Trung. Ông tự đặt câu hỏi về mối hận của B́nh Chương tức Trương Thế Kiệt, tướng vơ nhà Tống thời Tống mạt, cùng tướng văn Lục Tú Phu bảo vệ Dương Thái Hậu và hoàng tử Đế Bính chạy trốn quân Nguyên. Chẳng may Đế B́nh không kịp lên thuyền; rồi thuyền tới chân núi B́nh Chương th́ gặp nạn đắm chết hết, mối hận này không biết đến bao giờ tan. Lại c̣n tấm gương của hai anh em Bá Di Thúc Tề, người nước Cô Trúc, chư hầu nhà Ân, bị mất nước về tay nhà Chu, lên ẩn tại núi Thú Dương, từ chối không ăn thóc nhà Chu mà chết đói. Tầm gương đó t́m đâu ra được người noi theo?

Mối suy tư đó ông không biết giăi tỏ cùng ai. Ông đành quay về vui với cảnh thiên nhiên Núi Hồng sông Quế.

Mười tuần trong ngục này dường như một khúc rẽ quan trọng trong nếp sống của Nguyễn Du: ông chuyển từ một nhà nho hữu vi sang một chân nhân Lăo Giáo pha mầu Thiền. Ông tự họa h́nh bóng ḿnh trong bài:

 

Thôn Dạ

Thanh Thảo thôn tiền ngoạ lăo ông

Giang Nam dạ sắc thướng liêm lung

滿

Măn thiên minh nguyệt nhất tŕ thủy

Bán bích hàn đăng vạn thụ phong

Lăo khứ vị tri sinh kế chuyết

Chướng tiêu thời giác túc tâm không

Niên niên kết đắc ngư tiều lữ

Tiếu ngạo hồ yên dă thảo trung.

dịch là:

Xóm Đêm

 

Xóm Thanh Thảo có lăo ông

Bờ nam đêm xuống đầu sông rèm ngoài

Một trời trăng sáng ao đầy

Ánh đèn leo lét ngọn cây gió đùa

Vụng lo sinh kế tuổi già

Nghiệp duyên âu cũng chỉ là chữ không

Ngư tiều đánh bạn năm ṛng

Khói hồ cỏ nội thoả ḷng cười vang.

 

Bài thơ có hai h́nh ảnh mới. Một là ba chữ chủ chốt của Phật Học: nghiệp, duyên và không trong câu thứ sáu và tiềng cười trong câu kết xuất hiện lần đầu tiên trong Thanh Hiên Thi Tập. Phải chăng v́ qua bài thơ này, Nguyễn Du không bàn tới vọng tưởng của ông, và ngoài

ra dường như ông thoáng có một chút yên vui dầu chưa thấy ông nói tới sự tiến triển trong hoàn cảnh thực tế của ông.

Tiếp tới là lá thư ông viết gửi bạn:

 

Kư Hữu

滿

Mạc mạc trần ai măn thái không

Bế môn cao chẩm ngoạ kỳ trung

Nhất thiên minh nguyệt giao t́nh tại

Bách lư Hồng Sơn chính khí đồng

Măn để phù vân khan thế sự

Yêu gian trường kiếm quải thu phong

Vô ngôn độc đối đ́nh tiền trúc

Sương tuyết tiêu thời hợp hóa long.

dịch là:

Gửi Bạn

Bụi hồng mờ mịt trần gian

Gối cao cửa đóng nằm khan một ḿnh

Đầy trời trăng tỏ giao t́nh

Non Hồng trăm dặm anh linh một ḷng

Việc đời mây nổi coi thường

Gió thu lồng lộng bên lưng kiếm dài

Không lời ngắm trúc sân ngoài

Tạnh sương tan tuyết bổng bay hoá rồng.

 

Giới nghiên cứu văn bản không rơ người nhận lá thư này là ai. Tác giả dùng ánh trăng, một h́nh ảnh quen thuộc trong thơ Đường, để mô tả mối giao t́nh của bạn với ông; lấy trăm dặm núi Hồng để so sánh với chính khi của bạn và ông. Câu thứ năm ông cho bạn hay là nay việc đ̣i ông xem nhu mây nổi. Bạn ông, trước ngọn gió thu, c̣n đeo thanh trường kiềm bên lưng. Ông đứng một ḿnh ngắm trúc trước sân, ông mường tượng thấy đến khi tuyết tan sương tạnh cành trúc đó sẽ hoá rồng.

Chuỗi h́nh ảnh trên đây cho người đọc cảm tưởng như dẫu t́nh bạn c̣n đấy, chính khí chung c̣n đấy, nhưng nay ông coi việc đởi như mây nổi, và bạn ông c̣n mang kiếm dài bên lưng. Dường như ông trả lời bạn về một truyện ǵ đó mà ông không cho biết, ông viết cho bạn hay là ông suy nghĩ về truyện ấy và tin rằng cứ để mặc đại hóa, v́ đến thời th́ cành trúc sẽ hóa thành rồng. Có một điều đáng chú ư khác là, từ đầu Thanh Hiên Thi Tập đến đây, lần này lần thứ tư Nguyễn Du dùng h́nh ảnh một thanh gươm làm thi liệu, ba lần trước thanh gươm của ông nắm trong trong tay, lần này thanh gươm bên lưng một người bạn của ông đang đứng trước đầu gió.

Tiếp theo lá thư trên là hai lá thư ông viết gửi bạn là Huyền Hư Tử. Giới nghiên cứu không t́m ra Huyền Hư Tử là ai, nhưng hai chữ Huyền và chư Hư cho thấy là nhân vật này thuộc giới tu hành, chẳng là Lăo th́ cũng là Thiền. Bài thứ nhất là:

Kư Huyền Hư Tử

Thiên thai sơn tiền độc bế môn

西 滿

Tây phong trần cấu măn trung nguyên

Điền gia bất trị Nam Sơn đậu

Bần hộ thường không Bắc Hải tôn

Bắc hạc phù vân thời nhất kiến

Thanh phong minh nguyệt dạ vô ngôn

Viễn lai thức thủ tương tầm lộ

Gia tại Hồng Sơn đệ nhất thôn.

dịch là:

 

Gửi Huyền Hư Tử

 

Núi Thiên Thai đáng cửa sài

Trung nguyên cát bụi gió tây mịt mùng

Đậu Nam Sơn người không trồng

Cảnh nghèo rượu Bắc ṿ không bao lần

Hạc mây gặp gỡ khó khăn

Hỏi thăm trăng gió gió trăng kín lời

Xa xôi mách lối nhắn người

Non Hồng xóm nhất nhà tôi dễ t́m

 

Mở đầu bức thư, tác giả cho bạn hay ḿnh đang trong cảnh ở ần bên chân núi Hồng Sơn.

Vùng trung nguyên c̣n ch́m đắm trong cát bụi v́ gió tây thổi mạnh. Chữ gió tây này, có nhà nghiên cúu cho rằng dù dể ngầm chỉ nhà Tây Sơn.Trong câu thứ ba, chũ Nam Sơn đâu, lấy từ diển người Dương Vận đời Hán Tuyên Đế thống trách triều đ́nh không dùng ḿnh, trong bài này nhiều nhà nghiên cúu cho là Nguyễn Du muốn nói tới việc ông không cộng tác với nhà Tây Sơn và trong câu thứ tư tác giả nói tới hiện cảnh thanh bạch của ḿnh, nhưng vẫn muốn được dón tiếp bạn tại nhà v́ chữ Bắc Hải tôn lấy điển người Khổng Dung làm thái thú Bắc Hải trong nhà lúc nào cũng có rượu đăi khách. Tiếp theo, ông cho hay là tuy bạn ông hiện thời nay đây mai đó, việc gặp nhau rất khó, tin tức thăm hỏi củng không, nhưng ông vẫn mong

bạn ông tới chơi và chỉ lối tới nhà ông.

 

Bài tiếp theo cũng là thư gửi Huyền Hư, ở phía Bắc sông Lam, nên có nhiều nhà nghiên cứu cho là Huyền Hư Tử lúc đó ở Bắc Hà.

Kư Bắc Giang Huyền Hư Tử

Trường An khứ bất tức

Hương tứ tại thiên nhai

Thiên nhai bất khả kiến

Đăn kiến trần dữ sa

西

Tây phong thoát mộc diệp

Bạch lộ tổn hoàng hoa

Trân trọng hảo tự ái

Thu cao sương lộ đa.

dịch là:

 

Gừi Huyền Hư Tử Bên Bờ Bắc

 

Dời kinh đi măi chưa về

Xa xăm nhắn gửi t́nh quê bên trời

Bên trời nào thấy bóng người

Chỉ toàn cát bụi tơi bời đó đây

Gió tây thổi rụng lá cây

Sương rơi trắng soá cúc gầy xác xơ

Giữ ǵn xin chớ thờ ơ

Muộn thu sương móc gió mưa càng nhiều

 

Nhiều nhà nghiên cứu đoán hai chữ Bắc Giang là bên bờ Bắc sông Lam, nơi quê tác giả. Hai câu đầu cho người đọc thấy là kể từ ngày xa kinh đô chưa có dịp quay về, nay ở chốn quê nhà có thư này gửi bạn. Chốn quê nhà vắng nhớ bạn, chốn quê nhà khắp nơi chỉ có gió bụi. Gió tây, như h́nh ảnh chỉ nhà Tây Sơn, làm cây rụng lá, móc trắng làm lụi khóm cúc vàng. Cuối thư tác giả nhắc nhở bạn nên bảo trọng v́ thời tiết cuối thu sương gió càng nhiều, có thể hiểu là tác giả nhắc bạn bảo trọng v́ t́nh h́nh càng ngày càng thêm nguy hiểm.

 

  

 

 

Đón Xem KỲ 04

 


5. 杜 甫 全 書, Kwong Chi book Co., Hong Kông, 張 132.

6 Lăo Tử Đạo Đức Kinh, Bản dịch của Nghiêm Toản, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tập 1, tr. 80-81.

7. Lăo Tử Đạo Đúc Kinh, sách đă dẫn, tập 2, tr. 290-291,

8. Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống,

9. 掏 淵 明 詩 選 , 徐 巍 選 注 , Joint Publication, Hong Kong Co. 1982, p. 138

10. Tư Không Thụ, Toàn Đường Thi,

11. Tô Đông Pha

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com