www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THƠ VIỆT ÂM
Của Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 02:

 

Cũng trong mùa xuân ở Quỳnh Hải đó, Nguyễn Du có bài:

春 日 偶 興

Xuân Nhật Ngẫu Hứng

患 氣 經 時 戶 不 開

Hoạn khí kinh thời hộ bất khai

逡 巡 寒 暑 故 相 催

Thoan tuần hàn thử cố tương thôi

他 鄉 人 與 去 年 別

Tha hương nhân dữ khứ niên biệt

瓊 海 春 從 何 處 來

Quỳnh Hải xuân ṭng hà xứ lai

南 浦 傖 心 看 綠 草

Nam phố thương tâm khan lục thảo

東 皇 生 意 漏 寒 梅

Đông hoàng sinh ư lậu hàn mai

鄰 翁 奔 走 村 前 廟

Thôn ông bôn tẩu thôn tiền miếu

斗 酒 雙 柑 醉 不 回

Đẩu tửu song cam túy bất hồi.

dịch là:

 

Ngày Xuân Ngẫu Hứng

Trời đông cửa đóng kín bưng

Rét qua nực tới ngập ngừng đổi thay

Quê người năm trước chia tay

Chốn đây Quỳnh Hải xuân nay lại về

Bến nam cỏ biếc năo nề

Đón xuân mai nở e dè tường đông

Quẩn quanh dọn miếu đầu thôn

Rượu bầu cam ngọt lăo ông quên về.

 

Trong hoàn cảnh tản cư về Quỳnh Hải, Nguyễn Du dường như mất nhậy cảm với thời gian. Ông chợt thấy tiết trời đổi từ rét sang nóng mới thấy như có sự đổi mùa sang xuân. Cảm tưởng đó dường như cảm tưởng một người đang sống trọng sự chờ đợi với một hy vọng mong manh. Cảnh chờ đợi kéo dài đă một năm kễ tù khi chia tay. Mùa xuân lại về hy vọng lại nhen nhóm, cái hiện tại như băi cỏ biếc bên bờ nam, cái hy vọng mong manh như cánh hoa mai bên tường đông. Hai câu kết, khó biết nổi là câu ông tự trách, hay câu ông trách người mà ông đặt hy vọng, vẫn lần chần chưa tới, v́ c̣n say rượu.

 

Tóm lại, bài Ngày Xuân Cảm Hứng trên đây cho thấy tâm trạng chờ đợi trong hy vọng lẫn thất vọng ngày Nguyễn Du sống trong cảnh tản cư thiếu thốn tại Quỳnh Hải.

 

Cũng trong hoàn cảnh tản cư về Quỳnh Hải, Nguyễn Du viết hai bài sau:

 

自 嘆

二 首

Tự Thán

Nhị Thủ

 

其 一

Bài I

 

生 未 成 名 身 已 衰

Thân vị thành danh thân dĩ suy

蕭 蕭 白 髮 暮 風 吹

Tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy

性 成 鶴 脛 何 容 斷

Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn

命 等 鴻 毛 不 自 知

Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri

天 地 與 人 屯 骨 相

Thiên địa dữ nhân truân cốt tướng

春 秋 還 汝 老 鬚 眉

Xuân thu hoàn nhữ lăo tu mi

斷 蓬 一 片 西 風 急

Đoạn bồng nhất phiến tay phong cấp

畢 竟 飄 零 何 處 歸

Tất cánh phiêu linh hà xứ quy

 

其 二

Kỳ nhị

 

三 十 行 庚 六 尺 身

Tam thập hành canh lục xích thân

聰 明 穿 鑿 損 天 真

Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân

本 無 文 字 能 憎 命

Bản vô văn tự năng tăng mệnh

何 事 乾 坤 錯 妒 人

Hà sự kiền khôn thác đố nhân

書 劍 無 成 生 計 促

Thư kiếm vô thành sinh kế xúc

春 秋 代 序 白 頭 新

Xuân thu đại tự bạch đầu tân

何 能 洛 髮 歸 林 去

Hà năng lạc phát quy lâm khứ

臥 聽 松 風 響 半 雲

Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân

 

dịch là:

Tự Thán

(Hai bài)

 

I

Thân suy danh vẫn chưa thành

Trời chiều tóc trắng dập dềnh gió bay

Cắt chân tính hạc chẳng thay

Lông hồng đầu gió nào hay mệnh trời

Gian truân tùy cốt tướng người

Râu mày năm tháng sớm rồi bạc phơ

Cánh bồng ĺa gốc gió lùa

Rồi ra phiêu dạt đẩy đưa phương nào.

 

II

Thân sáu thước tuổi ba mươi

Thông minh cho lắm tội trời càng tăng

Mệnh dường ghen với thơ văn

Kiền khôn sao khéo ghét lầm riêng ai

Kiếm thư dang dở sinh nhai

Bạc đầu cùng quẫn tháng ngày long đong

Vào rừng xuống tóc những mong

Nằm nh́n mây nổi nghe thông dạt dào.

 

Câu mở đầu bài Tụ Thán I cho biết hoàn cảnh của tác giả: chua thành danh và thân dă bắt đầu suy. H́nh ảnh tấm thân suy nhược là mái tóc trắng bay trong gió chiều. Tác giả dụng như đứng trước một lựa chọn. Bài thơ không cho biết đối tượng của sự lựa chọn. Đó là điểm lôi kéo người đọc. Chỉ cho biết là sự lựa chọn này mang h́nh ảnh cắt chân hạc của sách Nam Hoa Kinh: đ̣i ḥi một điều mang danh là tàn sinh tổn tính. Nguyễn Du đă không theo ngả lựa chọn đó mà kệ cho số mệnh an bài.

 

Sang bài Tự Thán II, tác giả cho biết rơ là đă đến tuổi nhi lập, nhưng v́ trời sinh thông minh nên tội trời càng nặng. Chữ thiên chân tạm dịch là tội trời đây, làm người đọc nghĩ đến cái tội trời sinh khi mới lọt ḷng mẹ là tội phải pḥ vua thờ cha như Nguyễn Công Trứ đă nói rơ.

 

Nguyễn Du tin là nếu không bởi thông minh mà bị số mệnh hành hạ, th́ sao trời đất lại ghét lầm người làm thơ văn. Hoàn cảnh hiện tại của tác già là cả hai đường múa gươm đọc sách đều như vô vọng. Chỉ c̣n nẻo xuống tóc vào rừng, nằm nh́n mây bay, nghe thông reo.

 

Trong hoàn đó, Nguyễn Du đă có dịp đi qua trại quân Vị Hoàng và ghi lại cảm tưởng của ông như sau:

 

渭 潢 營

Vị Hoàng Doanh

 

渭 湟 江 上 渭 湟 營

Vị Hoàng giang thượng Vị Hoàng doanh

樓 檜 參 差 接 太 清

Lâu cối sâm si tiếp thái thanh

古 渡 斜 陽 看 飲 馬

Cổ độ tà dương khan ẩm mă

荒 郊 靜 夜 亂 飛 螢

Hoang giao tĩnh dạ loạn phi huỳnh

古 今 未 見 千 年 國

Cổ kim vị kiến thiên niên quốc

形 勢 空 留 百 戰 名

H́nh thế không lưu bách chiến danh

莫 向 清 華 村 口 望

Mạc hướng Thanh Hoa thôn khẩu vọng

疊 山 不 改 舊 時 青

Điệp Sơn bất cải cựu tḥi thanh.

 

dịch là

 

Đồn Quân Vị Hoàng

 

Vị Hoàng đầu bến quân doanh

Thấp cao sừng sững cây xanh bốn bề

Bến chiều ngựa uống thỏa thuê

Đồng hoang đom đóm lập loè âm u

Triều nào đứng vững ngàn thu

Đất này chiến trân oán thù lưu danh

Vời trông theo ngả vào Thanh

Ngọn đèo Ba Dọi núi xanh trùng trùng.

 

Vị Hoàng là tên nhánh sông Nhị chẩy ngang thành Nam Định. Dưới triều nhà Lê, bên bờ sông có xây doanh trại lớn chống địch từ miền trong ra hay từ ngoài biển vào. Nam 1786 Nguyễn Hữu Chỉnh dẫn quân Tây Sơn, đánh chiếm đồn Vị Hoàng, rồi tiến chiếm Phố Hiến, tức tỉnh lỵ Hưng Yên.

 

Nguyễn Du qua đây, nh́n cảnh cũ, nhớ lại chiến trận mấy năm trước, suy nghĩ về sự tồn vong của các triều đại, nhà Lê mất, chúa Trịnh cũng chấm dứt, Tây Sơn c̣n đang lùi bước trước quân nhà Nguyễn. Chẳng có triều đại nào đứng vững ngàn năm. Phải chăng, hưng vong là lẽ thường trong đại hóa, là điều ông nh́n thấy rơ trước cảnh hoang phế của doanh trại Vị Hoàng?

 

Hoàn cảnh khó khăn của Nguyễn Du khiến ông khó ngủ, như ông ghi rơ trong bài:

 

不 寐

Bất Mị

 

不 寐 聽 寒 更

Bất mị thính hàn canh

寒 更 不 肯 盡

Hàn canh bất khẳng tận

關 山 引 夢 長

Quan sơn dẫn mộng trường

砧 杵 催 寒 近

Châm chữ thôi hàn cận

廢 灶 聚 蝦 蟆

Phế táo tụ hà mô

深 堂 出 蚯 蚓

Thâm đường xuất khâu dẫn

暗 誦 問 文 章

Ám tụng vấn văn chương

天 高 何 處 問

Thiên cao hà xứ vấn.

 

dịch là:

Mất ngủ

Canh khuya mất ngủ lạnh lùng

Đêm dài chẳng hết th́ thùng trống canh

Dặm trường dẫn giầc mộng xanh

Th́ thùng chầy vải trạnh t́nh xa xôi

Bếp tàn cóc nhẩy vái trời

Nhà xiêu nền mốc loi nhoi giun ḅ

Thân c̣n năng nghiệp văn thơ

Trời cao ướm hỏi nơi mô gặp trời.

 

Bốn câu đầu dường như là bốn câu quen thuộc trong thơ Việt Âm để mô tả cảnh đêm mùa thu se sắt với tiếng trống canh xen tiếng chầy giặt vải. Bốn câu sau là sáng tác riêng của tác giả, mô tả cái chua chát trong hiện cảnh của ông. Bếp nguội lạnh lâu ngày không nhóm lửa khiến cóc vào làm tổ. Nhà ở nền mốc vách xiêu giun ḅ ra loi nhoi. Thế mà thân ông c̣n nặng nghiệp văn thơ là điều ông muốn hỏi trời. Nhưng trời cao chẳng ai biết trời ở nơi đâu mà hỏi.

 

Ngoài hiện cảnh thiếu thốn vật chất, Nguyễn Du c̣n thêm mối nhớ quê hương, c̣n bận tâm về mối an nguy của các anh chị em ông phân tán mỗi người một nơi, từ lâu biệt tin, những lá thư ông hằng ngày mong đợi vẫn không thấy tới. Nỗi khắc khoải đó ông ghi lại trong bài:

 

山 居 漫 興

Sơn Cư Mạn Hứng

南 去 長 安 千 里 餘

Nam khứ Trường An thiên lư dư

群 峰 深 處 野 人 居

Quần phong thâm xứ dă nhân cư

柴 門 晝 靜 山 雲 閉

Sài môn trú tĩnh sơn vân bế

藥 圃 春 寒 隴 竹 疏

Được phố xuân hàn lũng trúc sơ

一 片 鄉 心 蟾 影 下

Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ

經 年 別 戾 雁 聲 初

Kinh niên biệt lệ nhạc thang sơ

故 鄉 弟 妹 音 耗 絕

Cố hương đệ muội âm hao tuyệt

不 見 平 安 一 紙 書

Nhất kiến b́nh an nhất ch́ thư.

 

dịch là:

Ở Nứi Cảm Hứng 

 

Đế đô ngàn dặm trời nam

Mái quê giữa chốn non lam ẩn ḿnh

Cửa sài mây núi vờn quanh

Rét xuân vườn thuốc dập dềnh trúc thưa

Nhớ quê trăng tỏ thẫn thờ

Biệt ly tiếng nhạn lệ mờ bao năm

Chị em làng cũ biệt tăm

Vắng thư chẳng biết làm ăn thế nào.

 

Thi cảnh và tâm cảnh của Nguyễn Du trong bài Sơn Cư Cảm Hứng trên đây, gặp thời loạn lạc phải vào núi tạm ẩn, trong một đêm trăng sáng, chờ thư không đến, nhớ tới chị em nơi quê nhà nhắc người đọc nhớ tới bài ngụ ngôn của nhà thơ Đường Đỗ Phủ 5  với cùng một thi cảnh và cùng một tâm cảnh:

 

月 夜 憶 舍 第

Nguyệt Dạ Ức Xá Đệ

戍 鼓 斷 人 行

Thú cổ đoạn nhân hành

邊 秋 一 雁 聲

Biên thu nhất nhạn thanh

露 從 今 夜 白

Lộ ṭng kim dạ bạch

月 是 故 薌 明

Nguyệt thị cố hương minh

有 第 皆 分 散

Hữu đệ giai phân tán

無 家 問 死 生

Vô gia vấn tử sinh

寄 書 長 不 達

Kư thư trường bất đạt

況 乃 未 休 兵

Huống năi vị băi binh.

 

dịch là

 

Đêm Trăng Nhớ Anh Em

Trống trận thúc người đi

Tiếng nhạn thu biên giới

Đêm nay sương trắng rơi

Quê nhà trăng sáng rọi

Anh em người mỗi nơi

Sống chết không nơi hỏi

Thư gửi lâu chẳng tới

Chinh chiến măi không thôi.

 

Hoàn cảnh tản cư tạm trú c̣n là thi hứng của Nguyễn Du trong hai bài dưới đây:

 

幽 居

二 首

其 一

桃 花 桃 葉 落 分 分

Đào hoa đào diệp lạc phân phân

門 掩 斜 扉 一 院 貧

Môn yểm tà phi nhất viện bần

住 久 頓 忘 身 是 客

Trú cửu đốn vong thân thị khách

年 深 更 覺 老 隨 身

Niên thâm cánh giác lăo tùy thân

異 鄉 養 拙 初 防 俗

Di hương dưỡng chuyết sơ pḥng tục

亂 世 全 生 久 畏 人

Loạn thế toàn thân cửu úy nhân

流 落 白 頭 成 底 事

Lưu lạc bạch đầu thành để sự

西 風 吹 倒 小 烏 巾

Tây phong xuy đảo tiểu ô cân.

其 二

Bài II

十 載 風 塵 去 國 賒

Thập tải phong trần khứ quốc xa

蕭 蕭 白 髮 寄 人 家

Tiêu tiêu bạch phát kư nhân gia

長 途 日 暮 新 遊 少

Trường đồ nhật mộ tân du thiểu

一 室 春 寒 舊 病 多

Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa

壞 璧 月 明 蟠 蜥 蜴

Hoại bích nguyệt minh bàn tích dịch

荒 池 水 涸 出 蝦 蟆

Hoang tŕ thuỷ hạc xuất hà mô

行 人 莫 誦 登 樓 賦

Hành nhân mạc tụng đăng lâu phú

強 半 惷 光 在 海 涯

Cường bán xuân quang tại hải nhai.

 

dịch là:

 

Ở Chốn U Tịch

Hai bài

I

Cây đào tơi tả lá hoa

Cổng xiêu cánh lệch căn nhà xác xơ

Trọ lâu quen phận ở nhờ

Năm dài chợt thấy bơ vơ thân già

Dưỡng khờ thói lạ pḥng xa

Giữ thân giữa buổi can qua né người

Bạc đầu lưu lạc nổi trôi

Khăn đen gió mới thổi rơi mất rồi.

II

Xa quê gió bụi mười năm

Bơ phờ tóc bạc cam tâm nương nhờ

Đường dài chiều xế bạn thưa

Rét đài nhà lạnh bệnh xưa lại hành

Mối leo vách nát trăng thanh

Ao hoang ếch nhái nhẩy quanh đục ngầu

Người đi quên phú Đăng Lâu

Tuổi xuân góc biển bấy lâu phí hoài.

 

Câu thứ năm trong bài U Cư kỳ 1, Nguyễn Du viết:

Dị hương dưỡng chuyết sơ pḥng tục

dịch xuôi là:

Quê người giả khờ pḥng thói đời người đọc có thể hiểu là v́ Nguyễn Du nghi ngại phong tục quê người mà giả khờ khạo để pḥng thân. Nhưng dường như tại chốn u tịch đâu có cần pḥng thân cẩn mật đến như vậy. Phải chăng Nguyễn Du tới chốn u tịch này, xử thế theo đúng lời Lăo Tử dậy trong Chương XV 6:

 

若 畏 四 鄰

nhược úy tứ lân

nghĩa là:

 

như sợ láng giềng bốn bên bước đầu tiến tới chỗ đạt đươc mức 7:

不 敢 為 天 下 先

bất cảm vi thiên hạ tiên

nghĩa là :

 

không dám đặt ḿnh trên thiên hạ

để đạt tới mức vô danh, vô kỷ, vô công của một chân nhân như trong sách Trang Tử Nam  Hoa Kinh 8.

Nguyễn Du ghi lại cảm nghĩ của ông trong những ngày tản cư, như thấy trong hai bài kế tiếp:

 

漫 興

二 首

Mạn Hứng

nhị thủ

其 一

 

kỳ nhất

 

百 年 身 世 委 風 塵

Bách niên thân thế ủy phong trần

旅 食 江 津 又 海 津

Lữ thực giang tân hựu hải tân

高 興 久 無 黃 閣 夢

Cao hứng cửu vô hoàng các mộng

虛 名 未 放 白 頭 人

Hư danh vị phóng bạch đầu nhân

三 春 積 病 貧 無 藥

Tam xuân tích bệnh bần vô được

卅 載 浮 生 患 有 身

Táp tải phù sinh hoạn hũu thân

遙 憶 家 薌 千 里 外

Dao ước gia hương thiên lư ngoại

澤 車 段 馬 愧 東 鄰

Trạch xa đoạn mă quí đông lân.

 

其 二

kỳ nhị

 

行 腳 無 根 任 轉 蓬

Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng

江 南 江 北 一 囊 空

Giang nam giang bắc nhất nang không

百 年 窮 死 文 章 裡

Bách niên cùng tử văn chương lư

六 尺 浮 生 天 地 中

Lục xích phù sinh thiên địa trung

萬 里 黃 冠 將 暮 景

Vạn lư hoàng quang tương mộ cảnh

一 頭 白 髮 散 西 風

Nhất đầu bạch phát tản tây phong

無 窮 今 古 傷 心 處

Vô cùng kim cổ thương tâm xứ

依 舊 青 山 夕 照 紅

Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng.

 

dịch là:

Mạn Hứng

hai bài

I

Trăm năm thân thế long đong

Ăn nhờ băi biển bờ sông phong trần

Gác vàng mộng cũ đà tàn

Bạc đầu chưa thoát nẻo đàng hư danh

Ba năm không thuốc bệnh lành

Có thân có khổ phù sinh nửa đời

Dăm ngàn quê cũ xa vời

Ngựa gầy xe nhỏ thẹn người xóm đông.

 

II

Chân không bén rễ bông lông

Bến nam bờ bắc tay không đi về

Nghiệp văn sống chết chẳng nề

Tấm thân sáu thước mải mê ṿng trời

Mũ vàng muôn dặm chiều rơi

Trên đầu tóc trắng rối bời gió thu

Đau ḷng truyện cũ thật hư

Vừng hồng nắng tắt mịt mù non xanh.

 

Trong bài Mạn Hứng I, như ghi lại nỗi khó khăn của ông trong những năm tháng tản cư về miền bờ sông băi biển. Giấc mộng gác vàng nay đă tàn, bệnh cũ ba năm không thuốc thang cũng lành, có thân có khổ ai chẳng vậy, xa quê nhớ nhà cũng nguôi ngoai, nhưng dầu nay tóc đă bạc ông c̣n thấy ḿnh bị giàng buộc với chữ hư danh. Bốn chữ trạch xa đoạn mă trong câu chót, theo giới b́nh giảng thơ Nguyễn Du, thời ông đă trích lời Mă Thiếu Du, người em họ của Mă Viện, theo sách Hậu Hán Thư, nói với anh: “Kẻ sĩ sinh ra ở đời, chỉ cần đủ cơm ăn áo mặc, ngồi xe nhỏ cưởi ngụa c̣m, làm viên lại ở quận, giữ được mồ mả ở làng, đủ là người tốt được rồi”, trái với Mă Viện có chí lớn lập công to, dầu phải chết ở chiến trường lấy da ngựa bọc thây. Nguyễn Du thẹn với người bên xóm đông vui với cỗ xe nhỏ con ngựa gầy, phải chăng bởi chợt thấy ḿnh chưa thoát khỏi chữ hư danh ?

 

Trong bài Mạn Hứng II, ông cũng ghi lại cảnh sống như cỏ bồng trốc rễ của ông, nhưng ông thấy ḿnh hăy c̣n mê say với văn thơ. Ông thoáng thấy h́nh bóng ḿnh với chiếc mũ vàng, tức trở thành một đạo sĩ, nhưng gió tây hiện c̣n thổi bù mái tóc trắng của ông. Những truyện đau ḷng chỉ là những điều vô thường, cái thường hằng là núi xanh trong nắng nhạt chiều vàng trước mắt ông.

 Tiếp theo là bài:

 

春 夜

Xuân Dạ

 

黑 夜 韶 光 何 處 尋

Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm

小 窗 開 處 柳 陰 陰

Tiểu song khai xứ liễu âm âm

江 湖 病 到 經 時 久

Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu

風 雨 春 隨 一 夜 深

Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm

羈 旅 多 年 燈 下 淚

Ky lữ đa niên đăng hạ lệ

家 鄉 千 里 月 中 心

Gia hương vạn lư nguyệt trung tâm

南 臺 村 外 龍 江 水

Nam Đài thôn ngoại Long giang thủy

一 片 寒 聲 送 古 今

Nhất phiến hàn thanh tống cổ kim.

 

dịch là:

Đêm Xuân

Đêm xuân đen tối mịt mù

Dập dờn bóng liễu âm u song ngoài

Giang hồ đau ốm bấy nay

 Xuân về mưa gió canh dài thâu canh

 Xa quê năm tháng qua nhanh

Nhớ nhà nhớ ánh trăng thanh ngỡ ngàng

Xóm Nam Đài bến Long Giang

Tiễn đưa tiếng sóng giá băng tấc ḷng.

 

Trong hiện cảnh một đêm xuân gió dập mưa vùi, trời tối đen như mực, lại thêm cảnh đau ốm kéo dài, Nguyễn Du nhỏ lệ nhớ lại những đêm sáng trăng nơi quê nhà, nhớ xóm Nam Đài, nhớ bến Long Giang, với tiếng sóng bên tai những buồi tiễn đưa, như ông ghi trong mấy bài sau đây:

 

留 別 阮 大 郎

Lưu Biệt Nguyễn Đại Lang

西 風 歸 袖 柳 高 林

Tây phong quy tụ liễu cao lâm

傾 盡 離 杯 話 夜 深

Khunynh ntận ly bôi thoại dạ thâm

亂 世 男 兒 羞 對 劍

Loạn thế nam nhi tu đối kiếm

他 鄉 朋 友 重 分 襟

Tha hương bằng hữu trọng phân khâm

高 山 流 水 無 人 識

Cao sơn lưu thủy vô nhân thức

海 角 天 涯 何 處 尋

Hải giác thiên nhai hà xứ tầm

留 取 江 南 一 片 月

Lưu thủ giang nam nhất phiến nguyệt

夜 來 常 照 兩 人 心

Dạ lai thường chiếu lưỡng nhân tâm.

 

dịch là:

 

Lưu Biệt Anh Nguyễn

Gió về rừng liễu áo bay

Biệt ly chén cạn t́nh đầy thâu canh

Ngắm gươm thời loạn hổ ḿnh

Bạn bè đất khách nặng t́nh chia phôi

Chân trời góc biển đôi nơi

Non cao nước chẩy ai người hiểu ta

Trời nam c̣n mảnh trăng ngà

Soi chung đôi ngả đôi ta đêm dài.

 

Giới nghiên cứu không rơ Nguyễn Đại Lang trong bài thơ này là ai. Câu thứ ba đặt ra câu hỏi là tại sao tác giả giữa thời loạn nh́n gươm lại thẹn cho ḿnh? Trong cả tám câu không có chữ nào giúp người đọc hiểu rơ hơn. Phải chăng cần phải đối chiếu với một số bài khác trong toàn bộ thơ của tác giả?

 

Bài tiễn biệt thứ hai là bài:

送 阮 士 友 南 歸

Tống Nguyễn Sĩ Hữu Nam Quy

南 山 有 鳥 含 精 華

Nam Sơn hữu điểu hàm tinh hoa

飛 去 飛 來 輕 網 羅

Phi khứ phi lai khinh vơng la

鴻 嶺 有 人 來 做 主

Hồng Lĩnh hữu nhân lai tố chủ

白 頭 無 賴 不 還 家

Bạch đầu vô lại bát hoàn gia

生 平 文 彩 殘 籠 鳳

Sinh b́nh văn thái tàn lung phượng

浮 世 功 名 走 壑 蛇

Phù thế công danh tẩu hắc xà

歸 去 故 鄉 好 風 月

Quy khứ cố hương hảo phong nguyệt

午 窗 無 夢 到 天 涯

Ngọ song vô mộng đáo thiên nhai.

 

dịch là:

 

Tiễn Nguyễn Sĩ Hữu Về Nam

Nam Sơn có con chim khôn

Bay đi lượn lại coi nhờn lưới ngăn

Non Hồng rầy có chủ nhân

Bạc đầu đành vẫn gửi thân sống nhờ

Văn thơ lồng phượng nằm co

Công danh mây nổi rắn ḅ về hang

Quay về trăng gió quê hương

Trưa hè đẫy giấc bên song quên đời.

 

Giới nghiên cứu chưa t́m ra được Nguyễn Sĩ Hữu là nhân vật nào. Nhưng trong hai câu đầu, người đọc thấy như nhân vật này cũng là người đất Hồng Lĩnh như tác giả. Đất này đă có chủ mới, nhưng Nguyễn Du vẫn chưa quay về. Hai câu năm và sáu cho thấy tác giả coi việc nhập thế và truyện công danh đều không đáng trọng. Hai câu cuối cùng với hai chữ quy khứ khiến người đọc cảm thấy như tác giả muốn nhắc tới việc lui về đồng ruộng tựa Đào Tiềm.

Ngày thu chí nhắc Nguyễn Du truyện thời gian trôi qua, cuộc tản cư ở nhờ kéo dài, ông ghi lại những cảm tưởng thương thân trong hoàn cảnh đó như sau:

 

秋 至

Thu Chí

 

四 時 好 景 無 多 日

Tứ thời hảo cảnh vô đa nhật

拋 擲 如 梭 喚 不 回

Phao trịch như thoa hoán bất hồi

千 里 赤 身 為 客 久

Thiên lư xích thân vi khách cửu

一 庭 萬 葉 送 秋 來

Nhất đ́nh vạn diệp tống thu lai

簾 垂 小 閣 西 風 動

Liêm thùy tiểu các tây phong động

雪 暗 窮 村 曉 角 哀

Tuyết ám cùng thôn hiểu giác mai

惆 悵 流 光 催 白 髮

Trù trướng lưu quang thôi bạch phát

一 生 幽 思 未 曾 開

Nhất sinh u tứ vị tằng khai.

 

dịch là:

 

Thu Chí

 

Bốn mùa cảnh đep bao ngày

Thoi đưa vùn vụt chẳng quay trỏ về

Thân già ngàn dặm xa quê

Vào thu vàng rụng năo nề lá bay

Rèm nghiêng gác nhỏ gió tây

Xóm nghèo tiếng ốc sớm mai năo nùng

Ngày qua buồn tóc nhuốm sương

Một đời u uất không đường gỡ ra.

 

Cảnh thu c̣n gợi hứng cho Nguyễn Du viết hai bài dưới đây trong thi cảnh đêm vắng, tâm cảnh chĩu buồn hơn nữa v́ bệnh tật hành hạ và ở trong cảnh nhớ thương cách biệt, lại thêm nổi thiếu thốn vật chất.

 

秋 夜

Thu Dạ

二 首

Nhị Thủ

其 一

 

繁 星 歷 歷 露 如 銀

Phồn tinh lịch lịch lô như ngân

東 壁 寒 虫 悲 更 辛

Đông bích hàn trùng bi cánh tân

萬 里 秋 聲 催 落 葉

Vạn lư thu thanh thôi lạc điệp

一 天 寒 色 掃 浮 雲

Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân

老 來 白 髮 可 憐 汝

Lạo lai bạch phát khả liên nhữ

住 久 青 山 未 厭 人

Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân

最 是 天 涯 倦 遊 客

Tối thị thiên nhai quyện du khách

窮 年 臥 病 劌 江 津

Cùng niên ngọa bệnh Quế Giang tân.

其 二

白 露 為 霜 秋 氣 深

Bạch lộ vi sương thu khí thâm

江 成 草 木 共 蕭 森

Giang thành thảo mộc công tiêu sâm

剪 燈 獨 照 初 長 夜

Tiễn đăng độc chiếu sơ trường dạ

握 髮 經 懷 末 日 心

Ác phát kinh hoài mạt nhật tâm

千 里 江 山 頻 悵 望

Thiên lư giang sơn tần trướng vọng

四 時 湮 景 獨 時 吟

Tứ thời yên cảnh độc thời ngâm

早 寒 已 覺 無 衣 苦

Tảo hàn dĩ giác vô y khổ

何 處 空 閨 催 暮 砧

Hà xứ không khuê thôi mộ châm.

 

dịch là:

Đêm Thu

Hai bài

I

Đầy trời sao sáng bạc sương

Năo nùng canh vắng ven tường dế than

Tiếng thu ngàn dặm lá vàng

Mây quang lạnh giá ngút ngàn trời trong

Sóm già thương tóc điểm sương

Non xanh chưa chán ngạ ngùng t́nh thơ

Bên trời mỏi mệt bơ phờ

Suốt năm nằm bệnh bên bờ Tuế Giang.

II

Trời thu trắng móc nḥa sương

Xác xơ cây cỏ bên sông đầu thành

Đêm dài khêu ngọn đèn xanh

Ngày tàn vắt tóc thương ḿnh long dong

Non sông ngàn dặm ước mong

Bốn mùa mây phủ khói lồng âu lo

Lạnh về thiếu áo co ro

Rộn ràng chầy vải lửng lơ bóng chiều.

 

Tạm bỏ bài Khất Thực, chỉ c̣n lại bốn câu, Thanh Hiên Tiền Hậu Tập chép tiếp bài:

 

雜 吟

Tạp Ngâm

 

踏 遍 天 涯 又 海 涯

Đạp biến thiên nha hựu hải nha

乾 坤 隨 在 即 為 家

Càn khôn tùy tại tức vi gia

平 生 不 起 蒼 蠅 念

B́nh sinh bất khởi thương dăng niệm

今 古 誰 同 白 蟻 窩

Kim cổ thùy đồng bạch nghĩ oa

寥 落 壯 心 虛 短 劍

Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm

蕭 倏 旅 悶 對 時 歌

Tiêu điều lữ muộn đối thời ca

閉 門 不 識 春 深 淺

Bế môn bất thức xuân thâm thiển

但 見 棠 蔾 落 盡 花

Đăn kiến đường lê lạc tận hoa.

dich là:

 

Tạp Ngâm

 

Gót ṃn biển rộng trời cao

Dọc ngang tṛi đất ngả đâu cũng nhà

Truyện ruồi xanh đà bỏ qua

Sống chung tổ kiến ḷng ta ngại ngùng

Tráng tâm tàn lụi thẹn gươm

Thời ca xiết chặt mối buồn buồn thêm

Chẳng hay sớm muộn tiết xuân

Gốc lê hoa rụng trắng ngần tả tơi.

 

Nỗi buồn v́ hoàn cảnh cá nhân thiếu thốn trong hai bài Thu Dạ trên đây, nhường chỗ chố mối buồn v́ thời cuộc trong thi hứng của Nguyễn Du trong bài Tạp Ngâm. Hai câu đầu ông nhắc lại hiện cảnh tản cư phải ở đậu nơi quê người, Hai câu tiếp cho thấy ông muốn bỏ qua hay đúng là chán nản cố quên nhưng truyện nhỏ nhặt trong đời sống tạm bợ lúc này mà ông không thể bước ra khỏi đươc. Câu kế theo, ông nh́n thanh gươm ngắn mà thẹn, ư thơ này lạp lại ư thơ trong câu thứ ba bài Lưu Biệt Nguyễn Đại Lang. Lần này Nguyễn Du dường như nói rơ hơn đôi chút: bài thời ca làm tăng mối buồn của ông. Hai câu cuối cùng gợi cho người đọc hai câu 21-22 trong bài Đào Nguyên Kư của Đào Tiềm9:

 

雖 無 紀 歷 志

Tuy vô kỷ lịch chí

四 時 自 成 歲

Tứ th́ tự thành tuế

 

nghĩa là: tuy không dùng lịch, bốn mùa tự thành năm, tỏ ư người dân lánh nạn Tần Thủy Hoàng vào ẩn tại Nguồn Đào, không dùng lịch của vua, nh́n bốn mùa trôi qua tự ghi thành năm. Trở lại hai câu kết bài Tạp Ngâm của Nguyễn Du, cho thấy ḷng căm giận của ông với triều Tây Sơn, đă đốt phá làng ông, làm tan nát đại gia d́nh ông, sau khi người anh thứ tư của ông tức Nguyễn Quưnh nổi lên chống Tây Sơn, chẳng kém ǵ ḷng người Trung Quốc xưa kia căm giận Tần Thủy Hoàng.

 

  

 

  

 

 

Xem KỲ 03

 


5. 杜 甫 全 書, Kwong Chi book Co., Hong Kông, 張 132.

6 Lăo Tử Đạo Đức Kinh, Bản dịch của Nghiêm Toản, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tập 1, tr. 80-81.

7. Lăo Tử Đạo Đúc Kinh, sách đă dẫn, tập 2, tr. 290-291,

8. Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống,

9. 掏 淵 明 詩 選 , 徐 巍 選 注 , Joint Publication, Hong Kong Co. 1982, p. 138

 

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com