www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

Main Menu

 
 

 

 



THƠ VIỆT ÂM
Của Nguyễn Du
Lê Phụng
 

 

 

Kỳ 01:

 

MỞ LỜI

 

 

Nguyễn Du là tác giả lớn nhất trong văn học Việt Nam. Truyện Kiều của ông không những chỉ là một thi phẩm được toàn thể người Việt Nam ưa chuộng mà c̣n là một tác phẩm được giới văn học đối chiếu đặc biệt nghiên cứu và đồng ư là tác phẩm này, trên mặt văn học, vượt xa nguyên tác Trung Quốc và nhiều tác phẩm phỏng tác cùng nguyên tác của Nhật bản1. Số đầu sách bàn về Nguyễn Du và Truyện Kiều ở Việt Nam, từ trước tới nay, nhiều đến mức khó có ai đọc hết xuể.

 

Nh́n qua Truyện Kiều, nhiều tác giả đă bàn về tâm sự Nguyễn Du. Chủ đề Nguyễn Du dùng h́nh ảnh Thúy Kiều để giăi bày tâm sự đă đi sâu vào ḷng người Viêt Nam sau gần một trăm năm qua, v́ thi phẩm này đă được dùng làm sách giáo khoa tại các truờng trung học.

 

Đàng khác, Nguyễn Du c̣n để lại cho người đời sau ngoài hai trăm bài thơ Việt Âm, chia làm ba cuốn:

1. Thanh Hiên Thi Tập,

2. Nam Trung Tạp Ngâm

3. Bắc Hành Thi Tập.

 

Cho tới nay chỉ có năm tác phẩm dịch và b́nh chú về ba tập thơ nói trên. Đó là:

1. Thơ Chữ Hán Nguyễn Du của Bùi Kỷ, Nguyễn Khắc Danh, Văn Hóa, Hà Nội 1959, gồm 102 bài;

2. Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, Lê Thước & Trường Chính, Văn Học, Hà Nội, 1965, 249 bài;

3. Tố Như Thi Trích Dịch, Quách Tấn, An Tiêm, Saigon 1973, 92 bài;

4. Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, Đào Duy Anh, Văn Học, Hà Nội 1988, 249 bài

5. Nguyễn Du Toàn Tập, tập 1, Mai Quốc Liên, và Al, Văn Học Hà Nội, 1996, 238 bài.

 

Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim tin rằng lấy truyện Kiều mà xét tâm sự Nguyễn Du th́ không lầm được. Ông cho rằng v́ chữ mệnh oái oăm như bắt Kiều phải bỏ Kim Trọng mà chịu bước giang hồ, bắt Nguyễn Du phải quên nhà Lê mà theo phù vua mới. Kiều v́ gia biến phải bước chân ra đi, Nguyễn Du gặp khi nhà Lê bại vong phải ra làm quan với Nguyễn Triều, hai bên cũng một ḷng cay đắng chua xót như nhau. V́ ư tưởng hoài Lê đó nên suốt đời làm quan Nguyễn Du buồn rầu, mà cũng không bàn bạc điều ǵ trước sân rồng.

 

Người đọc ngày nay phân vân về lời b́nh trên đây của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim. Bởi qua 238 bài thơ Việt Âm, khó t́m ra được một câu chứng tỏ Nguyễn Du có ư tưởng hoài Lê. Trái lại, trong nhiều bài Nguyễn Du coi sự triều đại đổi thay như một lẽ tự nhiên của đại hóa, và việc ra làm quan là một việc trái với thiên tính của ông.

 

Như vậy, nét buồn trong thơ Việt Âm của Nguyễn Du chưa có giải đáp.

 

T́m một câu trả lời cho câu hỏi trên là mục đích của cảo luận này.

 

Khởi đầu là vắn tắt tiểu sử của Nguyễn Du. Theo Dương Quảng Hàm2, Nguyễn Du (1765-1820) Tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ, người xă Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Tổ tiên nhiều đời làm quan với nhà Lê. Ông không ra làm quan với nhà Tây Sơn. Năm Gia Long nguyên niên ông được vua Gia Long vời ra làm quan. Năm 1813 thăng Cần Chánh điện học sĩ, sung làm chánh sứ sang cống Trung Quốc. Khi về được thăng Lễ bộ hữu tham tri. Năm Minh Mệnh nguyên niên (1820) lại có lệnh sang sứ Trung Quốc, nhưng chưa đi th́ ông mất.

 

Theo Chính Biên Liệt Truyện, cái chết của Nguyễn Du là một cái chết b́nh thản, từ chối không uống thuốc khi bệnh nặng, từ trần không một ḷi dặn ḍ việc sau.

 

Theo sách Chính Biên Liệt Truyện3, trong thời gian làm quan tại triều đ́nh Huế, đối với nhà vua, ông chỉ giữ hết bổn phận, chứ không hay nói năng điều ǵ. Có khi vua đă quở rằng; “ Nhà nước dùng người, cứ ai hiền tài th́ dùng, không phân biệt ǵ Nam với Bắc cả. Ngươi đă làm đến chức á khanh, biết việc ǵ phải nói rơ để tỏ cái chức trách của ḿnh, có lẽ đâu cứ rụt rè, chỉ vâng vâng dạ dạ hay sao?”

 

Mấy lời trên cho thấy là, đúng với nhận xét của Trần trọng Kim, Nguyễn Du không t́m thấy niềm yên vui trên đường làm quan, để lập công danh.

 

Cảo luận này nhắm hai mục đích:

 

1. tŕnh bày toàn bộ thơ dịch sang vần lục bát 237 bài thơ Việt Âm của Nguyễn Du và

2. theo dơi nếp sống của Nguyễn Du gửi gắm trong số thơ này.

 

Đă có nhiều người dịch và chú thích thơ việt Âm của Nguyễn Du. Hầu hết những bản dịch đều giữ nguyên thể thơ Đường Luật, nhằm đưa người đọc tới nguyên bản. Cảo luận này dịch sang vần lục bát, toàn bộ 237 bài thơ Việt Âm của Nguyễn Du đă được giới văn bản học hiện thời coi là toàn tập với ước mong đưa nguyên bản tới người đọc.

 

Kết quả việc theo rơi nếp sống của Nguyễn Du phản ánh trong ba tập thơ Việt Âm, cho thấy cả ba tác phẩm Việt Âm của Nguyễn Dù có chung một đề tài với toàn thể văn học Việt Nam.

 

Đề tài đó là đề tài của người lính thú than khổ trong bài ca dao Trấn Thủ Lưu Đồn qua bốn chữ hữu thân hữu khổ. Đề tài đó là đề tài của Cung Oán Ngâm Khúc với cái khổ làm người của nàng cung nữ. Đó cũng là đề tài của Chinh Phụ Ngâm với cái khổ làm người của người lính và người vợ lính và với Truyện Kiều với cái khổ làm người của tất cả mọi nhân vật trong truyện. Bỏ đề tài cái khổ làm người này có lẽ khó thấy một đề tài khác có tầm phổ quát tương tự trong toàn bộ văn học Việt Nam.

 

Do đó, người đọc cảm thấy là ba tâp thơ Việt Âm của Nguyễn Du dường như ba tập nhật kư sâu kín của một người tu thân, đối mặt với cái khổ làm người, trên đường t́m an lạc cho chính ḿnh. Đồng thời ba tập thơ đó là ba tác phẩm lớn trong ḍng văn học cổ điển Việt Nam mà từ hơn một thế kỷ qua chưa được phổ biến xứng đáng trong trường học cũng như ngoài đại chúng.

 

Ba tập thơ đó cho người đọc thấy là Nguyễn Du đă thành công trên mặt tu thân noi theo mức vô danh, vô kỷ, vô công của đạo Lăo Trang. để khéo nuôi cái sống và cũng là để khéo liệu cái chết cho chính ông.

 

Ông c̣n sống theo nếp buông bỏ của một Phật tử Tịnh Tông nhưng không vụ vào kinh sách mà dường như chỉ bằng trên kinh nghiệm bản thân để giữ được niềm an lạc cho tâm thân.

 

Ông cũng vui sống theo h́nh ảnh của một Trung Ẩn Sĩ, theo kinh nghiệm của một nhà nho lạc thiên an đạo như Bạch Cư Dị.

 

 Ông đă chọn con đường riêng của ông: buông bỏ danh lợi, sống gần với thiên nhiên, lấy việc săn bắn làm vui, lấy văn thơ làm sự nghiệp dầu biết rằng trời đất không chuộng khách văn thơ, và nhất là không cả màng tới truyện lưu danh hậu thế. Trong suốt ba tập thơ ông luôn luôn dùng h́nh ảnh những anh hùng liệt sĩ chết thảm v́ danh thân nliệt v́ lợi như để tự nhắc ḿnh đừng quên việc buông danh bỏ lợi; cũng như ông đề cao ông h́nh ảnh những danh nho Trung Quốc, bỏ đường danh lợi theo đường thơ văn để lấy làm gương cho chính ông.

 

Điểm đặc biệt của Nguyễn Du là ông không nhất thiết là một nhà nho thuần túy, không phải là một Phật Tử chân tu hay một người học đạo Lăo Trang chân truyền. Giữa ba đạo Nho Phật Lăo có nhiều điểm chung cho cả ba đạo. Nguyễn Du đứng vững chắc tại những điểm đó.

 

Bắt đầu là nguyên bản Việt Âm và bản dịch sang vần lục bát của của 78 bài thơ trong :

 

青 軒 詩 集

Thanh Hiên Thi Tập

 

Giới nghiên cúu văn bản cho biết la Nguyễn Du vốn có hai tập Thanh Hiên Tiền Hậu Tập.

 

Nhưng hiện nay chua t́m được đầy đủ, và chỉ t́m được 78 bài dưới 67 đề mục. gọi chung là Thanh Hiên Thi Tập.

 

Bắt đầu là bài:             瓊 海 元 宵

Quỳnh Hải Nguyên Tiêu 

元 夜 空 庭 月 滿 天

Nguyên dạ không đ́nh nguyệt măn thiên

依 依 不 改 舊 嬋 娟

Y y bất cải cựu thiền quyên

一 天 春 興 誰 家 洛

Nhất thiên xuân hứng thùy gia lạc

 萬 里 瓊 洲 此 夜 圓

Vạn lư Quỳnh Châu thử dạ viên

鴻 嶺 無 家 兄 弟 散

Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán

白 頭 多 恨 歲 時 遷

Bạch đầu đa hận tuế thời thiên

窮 途 憐 汝 遙 相 見

Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến

海 角 天 涯 三 十 年

Hải giác thiên nhai tam thập niên.

 

dịch là:

 

Đêm Rằm Tháng Giêng Tại Quỳnh Hải

Tháng giêng vằng vặc trăng rằm

Y nguyên vẻ cũ gương hằng chẳng phai

Hứng xuân lạc xuống nhà ai

Quỳnh Châu vạn dặm đêm này tṛn trăng

Anh em Hồng Lĩnh ly tan

Bạc đầu nặng hận năm tàn tháng trôi

Đường cùng ta vẫn gặp ngươi

Chân trời góc biển ba mươi năm tṛn.

 

Thanh Hiên Thi Tập mở đầu bằng bài Quỳnh Hải Nguyên Tiêu. Nguyễn Du ngắm trăng rằm tháng giêng, không có rượu trong tay như Lư Bạch, nhưng vui cùng trăng tṛn như gặp lại người quen biết từ ba chục năm qua, trong cảnh anh em ông ly tán v́ loạn lạc, bạn bè tri kỷ không có một ai ở gần, tóc trên đầu ông đă bạc, và năm tháng vội vă trôi qua. Bài thơ không chỉ ghi lại nỗi buồn của Nguyễn Du, mà c̣n cho người đọc thấy nỗi cô độc của tác giả cùng ḷng yêu thiên nhiên của ông. Nỗi buồn của Nguyễn Du là nỗi buồn của một con người nghệ sĩ, thấy được cái đẹp, mặc dầu đang ở trong cảnh khó khăn của cuộc sống. Đúng như lời Julia Kristeva4:

 

[...] la mélancholie, équilibrée par le génie, est coextensive à l’inquiétude de l’homme dans l’Être.

 

Thế th́, phải chăng nỗi buồn của Nguyễn Du là nỗi buồn cho thân phận con người?

 

 

 

Xem KỲ 02

 


1 Hatakéna Toshio (Hoàng Trung Mẫn Lang) On Kim Vân Kiều – China, Viêt Nam Japan, Tamkiang Review, vol #2, Teipei October 1971.

2. Dương quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 356

3. Trích theo Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Nguyễn Du Truyện Thúy Kiều, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tr.X

4. Julia Kristeva, Soleil noir: dépression et melancholie, Paris, Gallimard, 1987, p. 17.

 

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com