www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

VI

(tiếp theo kỳ 21)

 

 

Mục tiêu của những trang kế tiếp là đối chiếu cấu trúc của đốn ngộ với cấu trúc của chuyện cười. Xin lấy trường hợp đốn ngộ tiêu biểu của Quốc Sư Phật Quang (1226-1286), do chính ngài tự thuật đầy đủ chi tiết như sau. Quốc Sư vốn người Trung Quốc, sang hoằng hóa tại Nhật Bản, dựng lên ngôi Viên Giác Tự, một trong những Thiền viện nổi danh [1].

Năm mười bốn tuổi, tôi đến Khâm Sơn. Năm mười bẩy, tôi phát tâm học Phật, và bắt đầu thử khám phá mật nghĩa chữ của Triệu Châu. Tôi định làm xong công quả đó trong một năm […] nhưng qua năm thứ năm thứ sáu vẫn không thấy ǵ khác thường biến đổi trong người tôi, nhưng chữ giờ đây bám dính vào tôi, không rời một bước, cả đến khi tôi ngủ. Toàn thể vũ trụ haùu nhưi chẳng ǵ khác hơn chữ ấy. Rồi một vị sư già bảo tôi thử dẹp hết qua một bên coi sự thể ra sao. Theo lời khuyên, tôi vứt tất cả, và ngồi yên. Nhưng chữ đeo riết theo tôi đến không sao vứt bỏ được, dầu đă hết sức cố gắng. Ngồi, tôi quên đang ngồi, mà cũng quên luôn bản thân tôi, quên hết, chỉ c̣n lại cảm giác một cái trống không. Cứ như thế nửa năm trôi qua. Như chim sổ lồng, tâm tôi qua lại tự do, dọc ngang tùy thích, không ngăn ngại, hết đông sang tây, hết nam lên bắc. Ngồi tịnh suốt hai ngày liền, hoặc suốt ngày đêm, tôi không biết mỏi mệt là ǵ.

Thủa ấy ở chùa có đến gần chín trăm tăng, trong số ấy có nhiều người hành thiền tinh cần lắm. Đêm nọ, trong khi đang tịnh, tôi cảm thấy như trong thân và tâm tôi bứt làm đôi, hết mong ǵ chắp liền lại được. Mọi người chung quanh đều tưởng tôi chết mất rồi, nhưng có một lăo tăng bảo rằng v́ tôi thâm nhập trong đại định nên tứ chi cóng lạnh thành bất động, nếu cho mặc áo ấm vào th́ tỉnh lại như thường. Quả đúng như vậy, v́ rốt cùng tôi tỉnh lại. và hỏi mới biết tôi lịm trong trạng thái ấy đă một ngày một đêm.

Sau đó, tôi tiếp tục ngồi tịnh, và bắt đầu ngủ được đôi chút, nhưng hễ nhắm mắt là thấy mở rộng trước tôi môt khoảng trống không như một sân trại. Trong mảnh đất ấy, tôi qua lại măi, thét đến quen thuôc hết. Nhưng hễ mở mắt ra là h́nh ảnh ấy tan biến mất. ột đêm, ngồi tịnh rất khuya, tôi giữ đôi mắt mởtrừng ra theo dơi tôi ngồi trên tấm nệm. Th́nh ĺnh có tiếng đập trên tấm bảng trước pḥng vị giáo thọ lọt vào tai tôi, và liền đó hiển lộ trọn vẹn tôi ở vị “bổn lai nhân”. H́nh ảnh hiện ra ấy không c̣n ǵ hết khi tôi nhắm mắt. Tôi vội vă rời nệm ngồi, chạy riết dưới trăng thanh dến khu vườn nhà Ganki, tại đây ngửa mặt lên trời tôi phá lên cười vang:

Ôi lớn lao thay pháp giới! Lớn thay và bao la măi măi không cùng! 

Nỗi mừng của tôi thật không bờ bến vậy! Tôi không ngồi yên được trong thiền đường; tôi bỏ đi lên núi, lang thang đó đây, vớ vẩn không mục đích. Ôi nghĩ rằng mặt trời mặt trăng, mỗi ngày đi bốn ngàn triệu dặm. Rồi tôi nghĩ nữa như vầy: “Quê tôi ở Trung Quốc, người ta nói rằng xứ Dương Châu của tôi là trung tâm của thế giới. Nếu vậy th́ chỗ ấy xa chừng hai ngàn triệu dặm cách chỗ mặt trời mọc; nhưng tại sao mặt trời vừa mọc là ánh sáng đâp ngay vào mắt tôi?” Tôi lại nghĩ thêm: “Ánh mắt tôi phải đi chớp nhoáng như ánh mặt trời, v́ nó đến tận mặt trời; mắt tôi, tâm tôi há chẳng là Pháp giới sao?”. Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy như tất cả những ǵ trói buộc tôi từ vô lưọng kiếp đổ vỡ tan tành hết. Từ bao nhiêu năm vô tận tôi sống trong ổ kiến như thế này? Và giờ đây, đây này, mỗi lỗ chân lông trên da tôi là vô số nước Phật trong mười phương! Tôi tự nhủ: “Dầu không được cái ngộ cao hơn, th́ thế này vẫn đủ quá cho tôi rồi.”

Thiền thoại trên chứng tỏ những diễn tŕnh mà tâm thức phải trải qua để đạt được tới mở ngộ. Diễn tŕnh này gồm hai giai đoạn:

Đại nghi hay nghi t́nh, nghi niêm, nghi đoàn

Kiến tánh hay khai ngộ.

Đại nghi hay nghi t́nh, nghi niệm, nghi đoàn là một ư niệm không liên hệ ǵ tới cái doute philosophique của triết gia Descartes. Đó là nguồn kích động lực thúc đẩy hành giả từng giây từng phút nhẩy sấn vào hư vô, dầu đó là địa ngục cũng mặc. Trong Thiền thoại về đốn ngộ của Thiền Sư Thần Quang trên đây, giai đoạn chuẩn bị này kéo dài nhiều năm, trong đó ngài khám phá mật nghĩa chữ vô, đến quên ăn quân ngủ quên cả bản thân, quên hết, chỉ c̣n lại cảm giác một cái trống không, thâm nhập vào đại định đến nỗi chân tay cóng lạnh, thành bất động, mốt một ngày một đêm mới hồi tỉnh.

Giai đoạn đại nghi chuyển sang giai đoạn khai ngộ nhờ có tiếng đập trên tấm bảng trước pḥng vị giáo thọ, và trong cái trống không đó bỗng chớp nhoáng hiện lộ ở ngài vị bổn lai nhân. Ngài vội vă rời nệm ngồi thiền, chạy riết dưới trăng và phá lên cười vang, vui mừng không bờ bến v́ đă thấy tánh đă mở ngộ.

Đối chiếu diễn tŕnh của hiện tương khai ngô với diễn tŕnh  cũa cái cười, ngựi đọc thấy cả hai cùng có hai giai đoạn: đốn ngộ có đại nghi đột biến sang khai ngộ; cái cười cũng có hai giai đoạn: một giai đoạn chuẫn bị và bất chợt chuyển biến làm nở nụ cười, khi sự đối lập trong giai đoạn chuẩn bị chợt biến thành ḥa hợp.


 

[1] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận Tập I, tr. 408-410.

 

 

 

Xem Kỳ 23

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com