www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

VI

(tiếp theo kỳ 20)

 

Dương Tấn Tươi kể lại một cái cười của ông như sau [1]:

Lúc đó, tôi dùng một người trọng tuổi tên gọi là chị bếp Kiều, để quán xuyến tất cả chuyện trong nhà, nhất là lo bữa điểm tâm sớm với cà phê và hột gà.

Sáng nào, tôi cũng bị đánh thức bằng một bài vọng cổ mểm ḷng gần như đứt ruột của chị bếp Kiều.

“Trời ơi! Ân ái làm ǵ mà để khổ cho nhau! Thương yêu làm ǵ mà chuốt lấy sầu đau. Bao nhiêu ước mộng không thành, tuông rơi như chiếc lá ĺa cành, để lại toàn kỷ niệm nát ḷng, dầ xéo quả tim này cho đến độ nát tan …”

Sau câu nói lối buồn lê thê này chị bếp mới dùng muỗng gơ nhịp rổi câu đầu:

“Anh ơi mặn nồng làm chi mà mà gieo sầu …”

Một hôm, tôi không nhịn được mới hỏi:

   Chị đừng trách tôi sao quá tọc mạch! Nghe giọng ca của chị mỗi sáng, tôi chắc chị gặp lắn chuyện đau ḷng trong quá khứ …”

     Thưa không! Ông lầm. Tôi ca dể luộc hột gà. Hôm nào ông ăn “la cót” (la coque) tôi vớt liền ra sau câu nói lối. C̣n những bữa ông ăn chín, th́ tôi ca hết câu đầu …

Tôi bật ngửa ra cười v́ đă nhận thấy hai gương mặt bất ngờ của câu vọng cổ: đứng về phương diện t́nh cảm, tôi xem nó là lối diễn tả nỗi thầm kín của ḷng, nói lên bao kư ức thương đau. Trái lại đối với chị bếp, đó là dụng cụ đo thời gian, một loại đồng hồ đặc biệt.

[…] Dương Tấn Tươi kết luận:

Khi nào một câu chuyện, một cảnh ngộ, một câu đối, một ư kiến tŕnh bày ra hai gương mặt, ở trong hai địa hạt, mội bên đều có những lẽ sống riêng biệt, thường không ḥa hợp được mà c̣n xung khắc; vậy mà trong một phút giây, bắt được chỗ giáp nối nhau th́ tạo ra buồn cười.

Qua thí dụ trên đây, người đọc thấy yếu tố quan trọng trong việc tạo ra nụ cười là đặc tính bất ngờ, Dương Tấn Tươi gọi là trong một phút giây. Trong phút giây đó có sự chuyển biến: trong thí dụ trên, sự xung khắc bỗng trở thành ḥa hợp, và sự chuyển biến bất ngờ đó chính là nguyên nhân làm nở ra nụ cựi. Ngoài ra người trong chuyện cười cũng như người nghe chuyện cười, sau giây phút bất ngờ đó bỗng nh́n thấy sự vật khác hẳn sự vật trước thời điểm giây phút bất ngờ chợt tới.

Trong thực tế nụ cười chỉ nở trên môi người nghe chuyện, nếu người nghe chuyện có thể nhận ra được sự chuyển biến bất ngờ đó, tỷ như từ xung khác thành ḥa hợp, không cần cố gắng suy nghĩ. Nếu c̣n cần phải cố gắng suy nghĩ, hoặc phải nhờ người khác giảng giải, th́ chuyện cười đă hoá thành câu đố, khó mà làm nở được nụ cười thoải mái.

Nụ cười tự nhiên, không cần cố gắng suy luận, theo nhiều Thiền giả và Đạo gia, là nụ cười vô vi, đúng như lời Lăo Tử [2]:

無  為  而  無  不  為

Vô vi nhi vô bất vi

Nghĩa là:

Không làm mà không cái ǵ là không làm

Thiền thoại về cuộc đối thoại ǵữa hai thầy tṛ Triệu Châu và Nam Tuyền cho thấy nét vô vi trong Thiền Tông:

Triêu Châu hỏi Nam Tuyền:

-  Đạo là ǵ?

-  B́nh thựng tâm.

-    Làm ǵ để có b́nh thường tâm?

-  Bất cứ làm ǵ th́ cũng mất b́nh thường tâm.

-  Không thử sao biết được.

Nam Tuyền trả lời:

-  Đạo ở trên cả biết và không biết. Biết là cái nh́n sai lệch, không biết là ch́m trong u mê. Khi đắc đạo, con người nh́n thấy mọi vật mọi sự rơ ràng như nh́n thấy vũ trụ mênh mông. Vậy cần ǵ phải luận giải về chuyện đó?

Trong Thiền sử c̣n chép nhiều cuôc đối thoại, trong đó yếu tố chuyển biến bất ngờ, không nhất thiết phải là sự chuyển biến từ xung khác thành hoà hợp, mà đôi khi c̣n là yếu tố hiển nhiên đồng nhất cũng có thể làm nở được nụ cười. Tỷ như Thiền thoại về Phật Giám Huệ Cần trả lời câu hỏi [3]:

Ư chí của Sơ Tổ từ Tây Trúc tới Trung Hoa là gi? 

Nếm giấm th́ biết là chua, nêm muối biết là mặn.

Rồi tới câu của Tam Thánh Huệ Nhiên trả lời cùng câu hỏi trên:

-  Thịt thúi ruồi bu.

Và lời Hưng Hóa trả lời cũng môt câu hỏi như trên:

-  Trên lưng con lừa ngất ngư đầy những ruồi xanh.

Cả ba câu trả lời cùng một câu hỏi trên đây, cho thấy những phát biểu của các Thiền sư đều là lẽ đương nhiên, phát xuất từ kinh nghiêm bất nhị sâu xa của họ. Lẽ đương nhiên này thay thế yếu tố chuyển biến bất ngờ và cũng tạo nên nụ cười.

Hơn nửa, trong những cuộc khảo hạch, hay trong những vụ tranh luận giữa các thiền giả với sư phụ, thường thường, chỉ những lời giải đáp tức thời, không cần cố gắng suy luận mới được chấp nhận, tạm ngưng để suy luận, cũng như những câu trả lời đă sửa soạn từ trước đều bị loại bỏ. Đó là sự quan trọng của yếu tố bất ngờ trong việc trực truyền của Thiền tông. Qua những lời vấn đáp hay tranh luận, quan niệm của đồ đệ, sau giây phút bất ngờ so với quan điểm liền trước đó, thường có thể là hai quan niêm xung khắc bỗng ḥa hợp. Như vậy phải chăng sự tiến triển trong việc trực truyền có một cấu trúc chẳng khác ǵ cấu trúc của nụ cười?


 

[1] Dương Tấn Tươi, ibid., tr. 350-351.

[2] Lạo Tử Đạo Đức Kinh, ibid. tr. 256.

[3] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận Tập II, tr. 343.



 

 

 

Xem Kỳ 22

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com