www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
LÊ PHỤNG

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 


N CƯỜI THIỀN
 

 

 

 

 

V

(tiếp theo kỳ 19)

 

Người học Thiền Đông phương, ai cũng hiểu rằng sự truyền đạt giáo lư Thiền tông là một sự truyền đạt trực tiếp, một sự truyền đạt không dùng ngôn từ. Điều này là một điều quen biết, đúng như lời Lăo Tử mở đầu sách Đạo Đức Kinh:

道  可  道  非  常  道

Đạo khả đạo vô thường đạo

Nghĩa là đạo có thể nói thành lời không phải đạo thường.  Phải chăng, thế nên việc truyền đạo không dùng văn tự.

Người học Thiền gốc Tây Phương, quen thuộc với những h́nh ảnh của truyền đạt triết lư có từ thời Socrate, thường coi vai tṛ của ông thầy của các triết gia tương tự như vai tṛ bà mụ. Bà mụ không đón hài nhi từ cái c̣ rồi bế về cho sản phụ, nhưng giúp sản phụ trong việc vượt cạn, khi tới kỳ trăng tṛn hoa nở. Đó là Thiền thoại vể Tào Lâm và Huệ Trung chép trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển IX. Huệ Trung theo học Tào Lâm đă nhiều năm mà chưa chín. Một hôm, ông nhất tâm bỏ thầy. Tào Lâm hỏi:

-   Con định về đâu?

-   Huệ Trung này ước học Pháp để thành tỳ kheo, nhưng không được sư phụ lưu ư tới. Nay xin đi để t́m thầy học đạo.

   Tào Lâm trả lời :  

-    Nếu thế là Phật Pháp th́ quả là ở đây không có thứ Phật Pháp đó.

     Bạch thầy, theo Thầy Phật Pháp là ǵ?

-    Tào Lâm nhổ một chiếc lông tay, đưa lên ngang miệng thổi bay.

Huệ Trung bèn đốn ngộ.

Qua nhiều Thiền thoại, người đọc thấy vai tṛ của sư phụ, so sánh về kỹ thuật chọc cười, hoàn cảnh đưa tới chuyện cười, dường như tương tự với những kỹ thuật chọc cười và hoàn cảnh chọc cười của những vai hài hề trên sân khấu. Kỹ thuật chọc cười là tạo nên những hoạt cảnh mang mầu sắc phi lư, nghịch lư, mâu thuẫn, không hợp thời hợp cảnh, vô nghĩa, bóp méo sự thực, tạo nên sự hiểu lầm, nhiều khi cọc cằn, điên đảo. Cũng như trước những hoạt cảnh chọc cười, qua những Thiền thoại, khán giả sân khầu cũng như độc giả Thiền thoại không thể tin được những điều nghe thấy trên sân khấu, hay những điều đọc được trong sách, là sự thật, nhưng những điều đó chắc chắn tạo nên được nụ cười cho khán giả sân khấu cũng như độc giả Thiền thoại và từ đó khán giả và độc giả đó tự t́m ra cho ḿnh ư nghĩ của tác giả gửi gắm trong truyện cười. Tỷ như Thiền thoại sau đây [1]:

Một Thiền tăng hỏi Tào Sơn:

-    Chư Thiền tăng đều là những bậc đại từ ? 

Tổ Tào Sơn gật đầu. Thiền Tăng hỏi tiếp:

-    Chư Thiền tăng đích thực là những bậc đại từ ?

Giả thử có sáu tên ăn cướp tới quấy phá, chư Tăng phải xử xự ra sao?

-     Phải giữ đức từ bi.

-    Giữ đức từ bi như thế nào?

-    Dẹp tan sáu tên ăn cướp đó bằng một nhát kiếm.

Thầy tăng hỏi tiếp:

-    Bạch Thầy rồi sau đó ra sao?

-    Thế là b́nh được cả sáu tên ăn cướp.

Thiền thoại trên là một thí dụ về việc chơi chữ. Sáu tên ăn cướp trong ngôn ngữ người Trung quốc là lục tặc, hai chữ này trong giới Thiền học chỉ sáu thứ làm hại cho sự tu hành: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Người tu hành mắt không nh́n sắc, tai không nghe thanh, mụi không ngửi mùi hương, miệng không nếm vị, thân thể xa kẻ gian ác, và tâm không tưởng đến điều bậy. Với một người tu hành sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chính là lục tặc, sáu tên ăn cưóp nguy hại không khác ǵ sáu tên ăn cướp chuyên nghiệp. Cả hai loại ăn cướp này cùng cần phải được dẹp tan. Điểm chọc cười ở đây con là sự đặt chữ từ bi cạnh h́nh ảnh nhát gươm b́nh lục tặc. Cái đối chọi này tạo nên bởi sự xáo chộn giữa việc mô tả đức từ bi với việc tu tập để đạt được đức từ bi.

Ngoài việc chơi chữ trong những cuộc vấn đáp về kiến giải giáo lư, trong giới Thiền học thường có những vụ tranh luận. Nụ cười Thiền giữ một vai tṛ quan trong trong những vụ tranh căi này, tuy nhiều khi việc tranh căi chỉ có mục đích tiêu khiển. Triệu Châu nhân một chiều hè, đánh cuộc với Vân Môn xem ai là người có thể hạ ḿnh xuống địa vị thấp hèn nhất của con người. Người nào được phải trả cho kẻ thua một tấm bánh. Triệu Châu bắt đầu [2]:

-   Tôi là một băi phân lừa.

Vân Môn tiếp:

-   Tôi là con bọ trong băi phân lừa.

Triệu Châu không biết tiếp tục ra sao, bèn hỏi:

-   Ngươi làm ǵ ở đó?

-   Tôi đến đó nghỉ hè.

Triệu Châu xin chịu thua.

Nụ cười Thiền trong thí dụ trên đây rơ ràng là giải thoát cho thiền giả khỏi ṿng chói buộc của cảnh trang nghiêm của thiền viện.

Nét khôi hài của những nụ cười Thiền đôi khi nở từ những câu phi lư . Người học Thiền không mấy ai không biết tới công án nổi danh của Tổ Bạch Ẩn:

    Cái ǵ là tiếng vỗ của một bàn tay?

   Cũng như it ai đă học Thiền mà không từng nghe thấy câu hỏi:

-   Có bài thuyết pháp nào vượt qua được những bài thuyết pháp của đức Phật và Chư Tổ?

Và câu trả lời vắn tắt của Vân Môn:

-   Oản.

Sách Truyền Đăng Lục, quyển IV chép Thiền thoại về Đạo Tiềm:

-   Đạo là ǵ?

-   Là con chép ở trên núi, là bụi dâu ở dưới ḷng sông.

Người Việt Nam đọc Thiền thoại trên chợt nghe văng vẳng trong tai câu ca dao:

Bao giờ trạch đẻ ngọn đa

Sáo đẻ dưới nước th́ ….

Người nói tiếng Anh, nhớ tới lời hề Bottom, trong cảnh I, hồi II, vở kịch A Midsummer Night’s Dream của Shakespeare:

I have had a most rare vision. I have had a dream, past the wit of man to say what dream it was. Man is but an ass if he go about to expound this dream. Methought I was – there is no man can tell what. Methought I was, and methought I had; but man is but a patch’d fool if he will offer to say what methought I had. The eye of man hath not heard, the ear of man hath not seen, man hand is not able to tast, his tongue to conceive, nor his heart to report, what my dream was. I will get Peter Quince to write a ballad of this dream. It shall be call’d “Bottom’s Dream,” because it hath no bottom ….


 

[1] Theodore de Bary, & al.Sources of the Chinese Tradition,
 
Columbia University Press, New York 1960, p. 404.

[2] Conrad Hyers, ibid., p. 137.



 

 

 

Xem Kỳ 21

 

 

 

 

 

LÊ PHỤNG
 

 

 

www.ninh-hoa.com